TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
----
PHẠM THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN VÀ PHÂN BỐ
CỦA NHỆN (ARANEAE) TRONG LÁ RÁC
TẠI VƢỜN QUỐC GIA CÚC PHƢƠNG,
TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. PHẠM ĐÌNH SẮC
HÀ NỘI - 2015
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
ỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Phạm
Đình Sắc, công tác tại phòng Sinh thái Môi trường đất, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện khoá luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa SinhKTNN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt
Phạm Thị Nhung
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
CÁC THUẬT NGỮ VI T TẮT
STT
Kí hiệu
Viết tắt
1
ALE
Mắt bên trước
2
AME
Mắt giữa phía trước
8
VQG
Vườn quốc gia
9
ĐVKXS
Động vật không xương sống
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện trong lá rác thu được
tại khu vực VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình .............................................. 22
Bảng 3.2. Phân bố của các loài nhện trong lá rác theo sinh cảnh (trảng cỏ cây
bụi, rừng trồng, rừng tự nhiên) ở khu vực VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
......................................................................................................................... 29
Bảng 3.3. Số lượng loài của các họ nhện trong lá rác thu được tại 3 sinh cảnh
nghiên cứu. ...................................................................................................... 31
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SINH HỌC
Phần (khối) cấu trúc phức tạp của bộ phận sinh
1
Bulbus
dục đực, thường nằm ngay dưới vùng lõm của
cymbium
2
Clypeus
3
Cymbium
4
Embolus
5
Femur
6
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ ................................................................................... 3
2.1. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 3
4. Điểm mới ....................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. Giới thiệu về nhện ..................................................................................... 4
1.1.1. Khái quát về nhện ............................................................................... 4
1.1.2. Đặc điểm hình thái học của nhện ......................................................... 4
1.2. Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới ................................... 6
1.2.1. Về thành phần loài nhện ...................................................................... 7
1.2.2. Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện ...................... 8
1.3. Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam ................................. 10
1.3.1. Về thành phần loài nhện .................................................................... 10
1.3.2. Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện .................... 12
1.4. Tình hình nghiên cứu nhện ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. ......... 13
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 14
2.2.Thời gian nghiên cứu ................................................................................ 14
K T LUẬN VÀ KI N NGHỊ ...................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40
PHỤ LỤC
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhện (Araneae, Arachnida) là loài động vật săn mồi không xương
sống, được mệnh danh là một trong những sát thủ vô cùng nguy hiểm trong
giới động vật. Bộ Nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân
khớp cổ có tính đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế về
số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện. Chúng
hầu như được tìm thấy ở tất cả các môi trường sống trên cạn. Nhện được tìm
thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, trên cánh đồng lúa, vườn cây,ven sông,
ven suối… Một số loài nhện là thành viên của một họ nhện có gốc Á - Âu
(Argyronetidae), được tìm thấy ở môi trường nước ngọt và biển [15]. Một số
ít trong chúng đã tiến hóa đặc biệt hơn so với đồng loại để có thể tồn tại trong
vài môi trường sống khắc nghiệt. Nhện còn được tìm thấy cả trên đỉnh núi
Everest, là một trong số ít loài động vật có thể sống sót ở cực Bắc. Các nhà
khoa học đã tìm thấy hóa thạch nhện 400 triệu năm tại Bắc Mĩ. Theo thống kê
của Platnick (2012) [17] trên thế giới đã ghi nhận được 43.224 loài, 3.879
giống thuộc 111 họ nhện khác nhau.
được xếp vào trong nhóm động vật có sự biến động mật độ cao và độ đa dạng
đứng thứ bảy thế giới. Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói
riêng ở các khu bảo tồn, VQG đang ngày trở nên quan trọng dù chỉ mới phát
triển bước đầu và tiến hành ở mức kiểm kê. Những khảo sát khu hệ nhện Việt
Nam của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu
tập trung vào liệt kê danh sách thành phần loài, công bố loài mới (Phạm Đình
Sắc, 2005) [8].
Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá có mức đa dạng sinh học cao,
nhưng chưa được tập trung nghiên cứu. Trong những năm gần đây đã có một
số công trình nghiên cứu về nhện. Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên
một số cây trồng nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn, vải.
Là Vườn quốc gia được thành lập đầu tiên trong cả nước, Vườn quốc
gia (VQG) Cúc Phương có hệ động thực vật vô cùng đa dạng và phong phú,
đặc biệt có hơn 1800 loài côn trùng thuộc 200 họ, nhiều loài côn trùng có giá
trị kinh tế cao. Tuy nhiên những nghiên cứu về nhện tại VQG Cúc Phương
còn chưa nhiều, chưa đánh giá đầy đủ sự đa dạng khu hệ nhện tại khu vực
này. Các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở việc kiểm kê, thu bắt định
tính mà chưa có những nghiên cứu về mặt sinh thái nhằm đánh giá sự ảnh
hưởng của chất lượng môi trường đến đa dạng nhện (Lin & Pham & Li,
2009). Việc nghiên cứu về khu hệ với mục tiêu bổ sung thành phần loài và
sinh học sinh thái của nhện ở các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là
cần thiết. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu về thành phần và
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
nhện cho khu vực nghiên cứu và ở Việt Nam.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
3
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về nhện
1.1.1. Khái quát về nhện
Tên khoa học: Araneae
Tên tiếng Anh: Spider
Tên Việt Nam: Nhện
Bộ Nhện (Araneae) thuộc lớp Hình nhện Arachnida, ngành Động vật
Chân khớp Arthropoda. Bộ Nhện chiếm ưu thế về số loài và số lượng cá thể
trong 11 bộ của lớp Hình nhện (11 bộ bao gồm: Acarina, Amblypygi,
Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida,
Scorpioides, Solifugae, Thelyphonida).
Nhện được chia làm hai phân bộ dựa vào số đôi phổi sách (book-lungs)
thuộc cơ quan hô hấp và số cặp núm nhả tơ (spinnerets) thuộc bộ phận nhả tơ.
Cụ thể Platnick (2012) [17] đã chia hai phân bộ nhện là:
Mygalomorphae: có 2 đôi phổi sách và 2 cặp núm nhả tơ
Araneomorphae: có 1 đôi phổi sách và 3 cặp núm nhả tơ
Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid
Mắt
Giáp đầu ngực
Bụng
Bộ phận nhả tơ
Hậu môn
Chân số III
Chân số IV
Hình 1.1: Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lƣng) (Theo Jocque. R, 2007)
Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường nhện có từ 6 đến 8 mắt
đơn xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Bộ phận sinh dục con cái nằm ở phần giữa mặt
Trường ĐHSP Hà Nội 2
5
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
dưới của bụng. Cuối bụng có 1 đến 4 đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ). Nhện có 4
đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực, xếp dọc hai bên ức theo thứ tự từ
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
tên của bộ Nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay
(Platnick, 2012) [17].
1.2.1. Về thành phần loài nhện
Trên thế giới đã ghi nhận được 43.224 loài thuộc 3.879 giống của 111
họ Nhện (Platnick, 2012) [17]. Tác giả đã tổng hợp tất cả các công bố về khu
hệ nhện của các nước trên toàn thế giới, bắt đầu từ công trình của Clerek năm
1757. Cho đến nay tổ chức này đã đón nhận thành viên từ hơn 70 quốc gia
khác nhau trên thế giới. Với sự phát triển không ngừng của các công trình
nghiên cứu về nhện, môn khoa học mới đã được ra đời là Arachnology Nhện học.
Được bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 18 (theo tác giả Barrion &
Litsinger, 1995) [12] nhưng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mới là giai đoạn có
hàng loạt các nghiên cứu chi tiết cũng như các công trình công bố loài mới
ngày càng nhiều, được đánh giá là thời kỳ hoàng kim của phân loại học về
nhện.
Dofour – tác giả người Pháp, được cho là người đầu tiên sử dụng các
hình vẽ chi tiết về hình thái học của nhện để mô tả so sánh, ghi nhận loài mới
với 12 bài báo có giá trị công bố loài mới từ năm 1820 đến 1831.
Blackwall, một trong những cha đẻ của ngành nhện học, có nhiều công
trình quan trọng đến họ Araneidae, một họ lớn của bộ nhện có nhiều đại diện
ở vùng nhiệt đới. Đặc biệt vào năm 1841, ông là người đầu tiên đề nghị sử
dụng mắt nhện để định loại đến loài, đặc điểm phân loại mà những nhà khoa
học trước đó chưa có ai đề cập đến.
Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798. Năm 1999,
nhận được từ cao đến thấp lần lượt là: Indonexia (660 loài), Malaixia (463
loài), Myanma (455 loài), Philippin (426 loài), Singapo (308 loài), Việt Nam
(230 loài), Thái Lan (156 loài). Theo các tác giả, khu hệ nhện của 2 nước
thuộc khu vực này bao gồm Campuchia và Lào chưa được nghiên cứu.
Trong số các loài nhện trên thì đã ghi nhận được trên thế giới hiện nay
có 15 loài đã được ghi vào sách đỏ của IUCN (2002).
1.2.2. Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện
Trong tự nhiên, các yếu tố ngoại cảnh và con người ảnh hưởng rất
nhiều tới sự phát triển của các loài nhện có tập tính chăng lưới. Gió to làm cây
đổ, cành gãy hay con người chặt phá cây rừng và đốt rừng làm mạng nhện bị
phá dẫn đến nhện mất nơi cư trú (Davies V.T., 1988) [14]. Khi thời tiết lạnh,
các loài nhện trong vườn cây ăn quả thường tìm nơi trú ẩn để qua đông ở các
vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi trường như khe hở tách ra từ vỏ của
thân cây hoặc vỏ cành cây.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
8
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Thức ăn chủ yếu của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí
chúng còn ăn thịt lẫn nhau. Trong các loại côn trùng thì ruồi, muỗi, bọ nhảy là
nguồn thức ăn chủ yếu của nhện. Tuy nhiên, cũng có những nhóm côn trùng
mà nhện phải kiêng dè như ong bắp cày, một số loại kiến, hay một số loại sâu
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
loài nhện có số lượng và kích thước trứng khác nhau. Bọc trứng thường được
treo trên lưới nhện, trong tổ nhện, hoặc được nhện mẹ mang theo. Một số loài
thuộc họ Nhện sói Lycosidae mang trứng ở phần gần cuối bụng, họ Nhện
càng cua lớn Heteropodidae mang trứng ở dưới ngực, còn họ Phocidae
thường ngậm trứng ở hàm trước. Nhện mẹ canh giữ trứng và nhện non cho tới
khi nhện con đủ cứng cáp và phân tán. Nhện con mới nở thường tập trung
trong ổ trứng.
Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ. Bản chất của tơ nhện
là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino
acid đặc biệt, nên tơ nhện có độ bền rất vững chắc đã được nghiên cứu sử
dụng trong sản xuất áo quân sự và kính chống đạn. So sánh các vật liệu tự
nhiên và vật liệu nhân tạo thì tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và
sự dẻo dai gấp 2 đến 3 lần xenlulo, cao su, xương, gân và bằng 1/2 độ bền của
sắt thép. Vải sản xuất từ tơ nhện cũng như tơ tằm để thay thế một số loại vải
từ sợi hoá học gây ô nhiễm môi trường (Foelix R.F., 1996) [15].
Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất
lượng môi trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ Nhện cuốn tổ
Clubionidae rất mẫn cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm (Clausen
I.H.S., 1986) [13].
1.3. Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam
1.3.1. Về thành phần loài nhện
Những loài nhện xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam được biết đến qua các
công trình của Simon và Hogg . Tất cả các loài nhện (bao gồm 20 loài) được
phát hiện ở Việt Nam bởi 2 tác giả trên đều là loài mới cho khoa học (Zabka,
loài thuộc 9 họ Nhện. Tại vùng Hà Nội, Trần Đình Chiến (2002) [2] đã ghi
nhận được 18 loài thuộc 8 họ Nhện.
Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã
được công bố. Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn [8] đã ghi nhận được 34 loài
nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội, 29 loài nhện trên cây vải thiều ở
Mê Linh - Vĩnh Phúc. Thái Trần Bái và nnk (2005) [1] đã phát hiện được 33
loài nhện trên cây vải thiều ở Thanh Hà – Hải Dương.
Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt
Nam rất ít người được nghiên cứu. Tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc
(2003) bước đầu đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ Nhện. Lần đầu tiên
ở Việt Nam, một loài nhện độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở Vườn
Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên - Lạng
Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [8].
Trường ĐHSP Hà Nội 2
11
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Kết quả thống kê từ tất cả các công trình đã công bố cho thấy hiện nay
Việt Nam đã ghi nhận được 320 loài thuộc 159 giống của 32 họ Nhện (Phạm
Đình Sắc, 2007).
Khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình,
tác giả Phạm Đình Sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Dyschiriognatha tenera và Theridium octomaculatum chỉ sử dụng 4 loài rầy
nâu hại lúa trong phòng thí nghiệm để làm thức ăn. Còn loài Myrmaracha
elongata và Clubiona japonicola không ăn các loài bọ xít hại lúa.
Tóm lại, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu về thành phần loài,
đặc điểm sinh học sinh thái của nhện trên thế giới khá phong phú. Tuy nhiên,
thành phần loài nhện ở Việt Nam vẫn ít so với con số thực tế. Các nghiên cứu
về sinh học, sinh thái học và khả năng lợi dụng chúng còn rất ít.
1.4. Tình hình nghiên cứu nhện ở VQG Cúc Phƣơng, tỉnh Ninh Bình.
Cho đến nay mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu nhện ở VQG Cúc
Phương.
Mới đây, Phạm Đình Sắc, 2015 [9] đã công bố 3 loài nhện mới cho khoa
học phát hiện ở VQG Cúc Phương, bao gồm 1 loài phát hiện trong hang Sơn
Động, 1 loài ở rừng thứ sinh và 1 loài ở rừng tự nhiên.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần loài nhện và phân bố nhện ở
tầng lá rác tại Vườn quốc gia Cúc Phương chưa được tiến hành.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
13
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Trường ĐHSP Hà Nội 2
14
Khoa Sinh - KTNN
Phạm Thị Nhung
Khóa Luận Tốt Nghiệp
- Phân bố nhện theo mùa: mùa mưa, mùa khô, khoảng thời gian giữa 2 mùa
mưa và mùa khô.
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Địa điểm thu mẫu: Thực hiện tại 3 sinh cảnh là rừng tự nhiên, rừng trồng
(keo tai tượng) và trảng cỏ cây bụi tại khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương –
Ninh Bình.
- Phương pháp thu mẫu:
+) Sử dụng phương pháp thu mẫu bằng rây rác (sieving)
Để thu các mẫu nhện trong các lớp rác bề mặt, sỏi đất vụn trên bề mặt
đất. Rây rác gồm một túi được chia làm 2 phần ngăn cách nhau bởi 1 rây lưới
làm bằng kim loại có kích thước mắt lưới khoảng 1-2cm2. Miệng rây rác rộng,
gắn với một vòng kim loại hoặc gỗ có cán để cố định kích thước và hình dạng
của miệng rây rác. Đáy của rây rác có dạng một cái túi mở, có dây buộc đấy
thành túi. Cho rác, đất, sỏi trên nền đất vào rây rác, lắc mạnh sao cho các
nhóm động vật lẫn trong lớp đất đá và rác rơi xuống túi bên dưới của rây rác.
Các loại lá cây, đất đá có kích thước lớn sẽ được giữ lại ở tầng trên của rây
rác. Loại bỏ lớp rác tầng trên, cho toàn bộ đất đá, rác lá vụn có lẫn động vật
rơi xuống tầng dưới của rây rác vào một tấm vải hoặc nilon trắng. Dùng panh,
- Xử lí và bảo quản mẫu bằng cồn 70%, đựng trong lọ nhựa 100ml có
nắp đậy kín và có ghi chú một số thông tin như thời gian, sinh cảnh, điểm
thu…
Các mẫu thu cùng một điểm được chứa cùng một lọ, được tiến hành
phân loại như sau : Trước tiên mẫu được đỗ ra đĩa petri đưa lên kính lúp quan
sát, các mẫu có đặc điểm hình thái bên ngoài giống nhau sẽ được phân thành
Trường ĐHSP Hà Nội 2
16
Khoa Sinh - KTNN