Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động phổ thông tại tỉnh Yên Bái - Pdf 50

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI vụ
../

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QƯÓC GIA

NGUYỄN THỊ NGỌC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THỒN TẠI
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
THƯ V I Ệ N
HÀ NỘI - NĂM 2015
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứa khoa học của cá nhân tôi, được thực hiện
trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức khoa học, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn
với sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Phượng. Các số liệu, tính toán trong luận văn là trung
thực, được thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau và đã nêu rõ nguồn gốc trích dẫn.
Hà nội, ngày tháng 8 năm 2015 Tác giả

/-'-

Nguyễn Thị Ngọc
Đe hoàn thành luận văn cao học này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tìnỊi của các thầy, cô
giáo Học viện Hành chính Quốc gia, bạn bè và gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Phượng đã dành thời gian tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.



■W

8

Môt số khái niêm cơ bản....................................
.................
Ouản lv nhà nước về đào tao nghề cho Ịao đông nông thôn
I/
o

....
...........8
18
• o

» o

13. Kỉnh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn của một số nước trên thế
giói và một số địa phurnig trong nưó'c

35


CHƯƠNG n. KHÁI QUÁT VÀ THỤC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO
TẠO NGHÈ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH YÊN BÁI ..43


Khái quát về tình Yên Bái


101
103
MỞ ĐẦU

, Hiện nay, lao động nông thôn chiếm gần 70% dân số trong độ tuổi lao động của cả nước.
Đây là lực lượng lao động có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Chỉnh vì vậy đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang là
nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong phát triển kinh tế - xã hội được Đảng, Nhà nước quan
tâm chỉ đạo triển khai thực hiện. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020,
việc nhanh chóng thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ, gịảm tỷ trọng nông nghiệp là bước quan trọng nhằm tạo ra nhiều việc làm cho người lao
động.
Tuy nhiên, trên thực tế lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức


về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, chất lượng dạy nghề cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu
của doanh nghiệp, số lượng và cơ cấu nghề đào tạo vẫn mất cân đối. Điều này khiến không ít
người lao động gặp khó khăn trong tìm việc làm, có thu nhập để nâng cao chất lượng cuộc
sống.
Một trong những lý do dẫn đến hiện tượng trên chính là công tác quản lý nhà nựớc đối với
đào tạo nghề cho lao động nông thôn vẫn còn nhiều bất cập. Giữa chủ trương dạy nghề và
tạo việc làm cho người lao động vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu thực tiễn. Việc
đào tạo chưa bám theo quy hoạch sử dụng nguồn nhân lực cho từng giai đoạn phát triển kinh
tế - xã hội tại mỗi địa phương đang diễn ra khá phố biến. Không ít nơi dạy nghề đang đào tạo
theo kiểu “có gì dạy nấy” chưa căn cứ theo nhu cầu và hoàn cảnh của người học.
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc với dân số trong độ tuổi lao động đa phần sinh sống
ở nông thôn và là dân tộc thiểu số như Tày, Dao,
H’Mông... Trong những năm qua, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát
triển kinh tế - văn hóa, xã hội, đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng được cải
thiện, nhưng Yên Bái vẫn là một tỉnh miền núi nghèo, nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế xã hội còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực thấp, cơ cấu và phân bố nguồn lực chưa hợp

+ Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2006: “Việt Nam - Thúc đẩy công cuộc phát ừỉển
nông thôn - từ viễn cảnh tới hành động”. Báo cáo đề cập chi tiết các vấn đề về trung hạn
Việt Nam sẽ phải đối mặt nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao của kinh tế nông thôn. Các
nghiên cứu, phân tích của báo cáo góp phần giúp Chính phủ, đặc biệt là Bộ Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông thôn, đánh giá lại tăng trưởng nông nghiệp và nông thôn thời gian qua,
đồng thời giúp lập kế hoạch và xây dựng chương trình hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới cho
khu vực nông thôn Việt Nam.
+ Báo cáo nghiên cứu năm 2006 của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: “Các
yểu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam”. Nội dung
của báo cáo là đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ giữa thập kỷ
1990 đến nay, chỉ ra các yếu tố ngăn cản, thúc đẩy quá trình chuyển dịch và đưa ra các đề


xuất chính sách nhằm tác động tích cực tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
Việt Nam.
+ Báo cáo của Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề: “Báo cáo dạy nghề Việt Nam 2011 Báo
cáo đã đưa ra bức tranh tổng thể về dạy nghề ở Việt Nam hiện nay. Những ưu điểm và những
tồn tại, hạn chế của hệ thống dạy nghề. Qua đó đề xuất các khuyến nghi để hoàn thiện chính
sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề ở Việt Nam.
V + Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sỹ viết về vấn đề đào tạo ngỉíề ở các tỉnh
khác như Đà Nằng, Hưng Yên, Hà Nam...
Tóm lại, các công trình nêu trên đã phần nào khái quát hóa được một số vấn đề mang tính
lý thuyết về đào tạo nghề ở nông thôn cũng như thực trạng và một số giải pháp chủ yếu liên
quan tới đề tài. Tuy nhiên, để giải quyết những khó khăn, vướng mắc về đào tạo nghề ở Yên
Bái, với đặc thù là tỉnh miền núi, với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ
dân trí còn hạn chế thì đến nay chưa có công trình nào làm rõ thực trạng công tác dạy nghề,
đề xuất các giải pháp khắc phục những khó khăn, bất cập của công tác quản lý nhà nước về
dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Yên Bái.
Vì vậy, đề tài: “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Yên
Bái’Mà một đề tài mới, chuyên biệt, cần được nghiên cứu một cách có hệ thống, độc lập.

tỉnh Yên Bái hiện nay.
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong đào tạo nghề cho lao động
nông thôn ở tỉnh Yên Bái.


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn



Đoi tượng nghiên cứu:

+ Các hoạt động đào tạo nghề tại cho lao động nông thôn tại Yên Bái.
+ Hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Yên Bái.


Phạm vi nghiên cứu:

+ Đề tài tập trung chính vào việc phân tích, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo
nghề lao động nông thôn tại Yên Bái.
+ về mặt thời gian: hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ
2010 đến nay.
+ về không gian: hoạt động đào tạo nghề tại cho lao động nông thôn trên toàn tỉnh Yên Bái.
• Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn


Phương pháp luận:


Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động quản lý nhà nước trong công tác đào tạo nghề



Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nhà
quản lý của tỉnh Yên Bái vận dụng trong việc đổi mới và tăng cường công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn.



Ket cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luân văn được kết
cấu gồm 3 chương:
V


■■ Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về đào tạo nghề đối với lao động nông
thôn
Chương 2: Khái quát và thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn tỉnh Yên Bái
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tại tỉnh Yên Bái.
CHƯƠNG I
Cơ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHÊ ĐÓI VỚI LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN



Môt số khái niêm cơ bản



định về tuối nghỉ hưu nên không có giới hạn trên.
Tại Việt Nam, theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 thì: “Người lao động là
người từ đủ 15 tuổi trở lên, cỏ khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được
trả lương và chịu sự quản lỷ, điều hành của người sử dụng lao động
Từ những vấn đề trên có thể hiểu lao động nông thôn theo các cách sau:
Theo nghĩa rộng thì nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc
gia, bao gồm toàn bộ những người cỏ khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền
kinh tế quốc dân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động) thuộc
khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn).
Theo nghĩa hẹp thì lao động nông thôn là một bộ phận dân sổ sinh sổng và ỉàm việc ở nông
thôn có khả năng lao động và được giới hạn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp
luật (ở Việt Nam: nam từ 15 đến 60 và nữ từ, 15 đến 55 tuổi).
Khái niệm về lao động nông thôn này có tính ưu việt là khống chế được sự lạm dụng lao
động trẻ em (dưới 15) theo quy ước quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế ở các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam, nền kinh tế còn kém phát triển, đời sống người dân còn khó khăn
đặc biệt là ở nông thôn thì lao động trẻ em dưới 15 tuổi hoặc những người trên độ tuổi lao
động tham gia lao động, sản xuất còn chiếm tỷ lệ khá lớn. Từ đó ta có thể thấy nguồn lao
động ở nông thôn rất dồi dào. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội
(KT - XH) nông thôn nhưng đồng thời cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc


làm ở nông thôn.


Đặc điểm của nguồn lao động ở nông thôn

Do lao động nông thôn chủ yếu tham gia sản xuât trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có
những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh té khác và được biểu hiện ở các mặt
sau:

sống và phương thức lao động tiểu nông đã ăn sâu vào tiềm thức của đa số lao động nông
thôn, cần có thời gian và dày công giáo dục mới có thể có được một tác phong công nghiêp
thực thụ đối với lao động nông thôn.
Bổn là: lao động nông thôn có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác
nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác
nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động.
Ngoài những đặc điểm trên, người nông dân và lao động nông thôn nước ta còn có ưu điểm
là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt
động nông nghiệp của mình. Tuy nhiên, lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay chủ yếu
làm việc theo cảm tính do tập quán dẫn đến người nông dân không có định hướng phát triển
hoạt động nông nghiệp rõ ràng nếu như không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên
môn, của những người có kinh nghiệm. Thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian
nhàn rỗi, phần lớn chưa có nghề và chưa được đào tạo nghề là những đặc trưng cơ bản của
lao động nông thôn. Chính đặc điểm của người nông dân như trên làm cho vai trò đào tạo
nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn nói chung và thành công của xây dựng nông thôn mới nói riêng.


Đào tạo nghề và đặc trưng của đào tạo nghề ' 1.1.2. ỉ. về đào tạo nghề Khi đề cập tới
nguồn lực quyết định nhất đến sự phát triển KT - XH, người ta thường cho rằng đó là


vốn con người (human Capital), là nguồn nhân lực (human resource). Nguồn nhân lực
có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng đã trở thành lợi thế quyết định đối với mỗi
quốc gia. Đào tạo và phát triển neuồn nhân lực đáo ứns nhữns đòi hỏi của vêu cầu
phát triển KT - XH trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới.
“Việc hình thành các kỹ năng lập nghiệp được coi là sự chuẩn bị hết sức cần thiết cho tất cả
những người lao động bất kể họ sẽ tự tạo việc làm hay người làm công ăn lương. Đào tạo về
lập nghiệp được coi là một công cụ hữu ích để thúc đẩy động cơ, tính sáng tạo và sự đổi mới.
Bên cạnh đó, các kỹ năng lập nghiệp cũng được cho là sẽ giúp trang bị cho người học khả




Đối tượng học nghề, là những người đã trưởng, thành, thậm chí đã lớn tuổi, trừ một số
trường hợp khác pháp luật quy định.



Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Dạy nghề dài hạn; dạy nghề
ngắn hạn; dạy nghề theo modul; dạy nghề kèm cặp; dạy nghề lưu động.



Phân loại đào tạo nghề:



Đào tạo chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian
do cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp có đăng ký
hoạt động giáo dục nghề nghiệp (gọi chung là cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp)
thực hiện để đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.



Đào tạo thường xuyên là hình thửc đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có
hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và
các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác, được thực hiện linh hoạt về chương trình,
thời gian, phương pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu Gầu của người học.




học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết
được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề;
có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và
giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.
Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo niên chế được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tùy
theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phô thông;
từ 01 đến 02 năm học tùy theo chuyên
nơành hoặc nshề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành, nghề đào
tạo và có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã học và thi đạt vêu cầu đủ khối lượng
kiến thức văn hóa trung học phổ thông.
. Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ là thời
gian tích lũy đủ số lượng mô-đun hoặc tín chỉ cho từng chương trình đào tạo đối với người
có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến
thức văn hóa trung học phổ thông.


Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Hiện nay, lao động nông thôn có khoảng 37.203 triệu người chiếm tới 69,9% dân số trong
độ tuổi lao động của cả nước[24]. Đây là lực lượng lao động có vai trò quan trọng trong quá
trình thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước. Song thực tế hiện nay, lực lượng lao
động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp,


hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh
nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt
những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông
thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động nông thôn có thể thực hiện thành công nghề


hướng giảm dần cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng nguồn lao động xã hội. Trên
thực tế, một bộ phận của nguồn lao động nông thôn có chất lượng cao luôn có xu
hướng thoát ra khỏi nông nghiệp, ,nông thôn để đến với thành phố và các ngành phi
nông nghiệp có thu nhập và
điều kiện làm việc tốt hơn. Điều đó dẫn đến chất lượng lao động ở nông thôn thấp đi. Vì
vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở thành cấp thiết.
Trong điều kiện phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển của đô thị ngày càng
lớn, nhu cầu lao động chất lượng cao cũng tăng theo. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
vừa đáp ứng yêu cầu của quá trình phân công lao động, vừa bổ sung cho sự giảm chất lượng
nguồn lao động nông thôn do sự biến động nguồn Ịao động theo xu hướng đó.


Đối với yêu cầu phát triển KT - XH nông thôn: đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao
động nông thôn phục vụ cho phát triển KT - XH nông thôn không chỉ bù đắp sự suy
giảm chất lượng do các lao động có chất lượng cao di ehuyển ra khỏi nông thôn, mà
còn do chính sự phát triển ngày càng cao của nông thôn đòi hỏi.

Như trên đã phân tích, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội nói chung, ở nông thôn
nói riêng đã thúc đẩy phân công lao động theo ngành, theo lãnh thổ ở nông thôn diễn ra ngày
càng mạnh mẽ và chi tiết trên cả phương diện phân công lao động xã hội và phân công lao
động cá biệt.
Thứ nhất, phân công lao động tạo nên các ngành nghề mới, những việc làm mới cho lao
động, tạo điều kiện thu hút lao động vào các ngành nghề đó. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu
của những ngành nghề mới đó, người lao động phải có trình độ nghề thích hợp và tương ứng.
Như vậy, phân công lao động tạo cầu về đào tạo và đào tạo lại trình độ chuyên môn, nghề
nghiệp cho người lao động đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Phân tích các biểu hiện cụ thể của phân công lao động cho thấy, sự hình thành các ngành
nghề mới xét trên khía cạnh phân công lao động theo ngành và sự hình thành các vùng kinh
tế mới, nhất là các khu, cụm công nghiệp, các vùng dân cư mới, các khu dịch vụ tập trung có



Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn

Quản lý nhà nước (QLNN) xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. QLNN gắn liền
với chủ thể quản lý là bộ máy nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước, gắn liền với công
cụ, phương tiện quản lý quan trọng nhất đó là pháp luật do nhà nước đặt ra để quản lý toàn
bộ xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống.


Có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và
sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu
cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
- đào tạo. Do vậy cần có sự quản lý của nhà nước để hoạt động này được diễn ra đúng hướng
và phù hợp với sự phát triển KT - XH của đất nước.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động quản lý theo ngành
do các cơ quan chức năng thực hiện, sử dụng quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn
bộ các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đó
là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách
phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn để phù hợp với sự phát triển KT - XH của đất
nước.


Đặc điểm của QLNN về đào tạo nghề cho lao động nông thôn:




Luậl Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa 13, thông qua ngày ngày 27 tháng 11 năm 2014 và Nghị định
48/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục nghề nghiệp đã quy định rõ về tổ chức bộ máy
QLNN về đào tạo nghề, theo đó:
Chính phủ thống nhất thực hiện công tác QLNN về đào tạo nghề trên cả nước.


Ở trung ương: Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với cơ auan OLNN về đào tạo nghề ở
trung ương thực hiện QLNN về đào tạo nghề theo thẩm quyền và trực tiếp quản lý cơ
sở.giáo dục nghề nghiệp của .bộ, ngành mình (nếu có) theo chức năng, nhiệm vụ được
phân công.



Ở địa phương: ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình thực hiện QLNN về đào tạo nghề theo phân cấp của Chính phủ. Sở Lao
động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) là cơ quan chuyên môn của UBND có
nhiệm vụ giúp ƯBND thực hiện chức năng QLNN về đào tạo nghề của địa phương.



Thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn

Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn đến năm 2020” ngày 27 tháng 11 năm 2009 và quyết định 971/QĐ-TTg
ngày 1 tháng 7 năm 2015 sửa đổi, bổ sung đề án Đào tạo nghề lao động nông thôn đã nêu rõ
về thẩm quyền của các cơ quan QLNN về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Theo đó:



bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo các mục tiêu đã định; đề xuất sửa đổi, bổ sung
cơ chế, chính sách về đào tạo cán bộ, công chức xã; xây dựng và ban hành chương
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã; tổng hợp nhu cầu và phân bổ kinh phí
hàng năm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã gửi Bộ LĐTB&XH để tổng
họp; chủ trì, phối họp với Bộ

LĐTB&XH hướng dẫn các huyện bố trí 01 biên chế chuyên trách theo dõi về công tác dạy


nghề...


Bộ Giáo dục và Đào tạo: đối mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo
dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh
có thái độ đúng đắn về giáo dục nghề nghiệp và chủ động lựa chọn các loại hình đào
tạo nghề sau khi tốt nghiệp giáo dục phổ thông; phối hợp với Bộ Nội vụ lựa chọn các
cơ sở đào tạo trong ngành giáo dục tham gia bồi dưỡng cán bộ, công chức xã.



Bộ Kế hoạch và Đầu tư: đề xuất, bố trí vốn đầu tư phát triển hằne năm để thực hiện
hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên
quan nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ bố trí bổ sung, bố trí nguồn vốn giải quyết
việc làm dành riêng để cho vay đối với lao động nông thôn sau học nghề để giải quyết
việc làm hoặc vay vốn để khởi nghiệp; phối hợp kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng
kinh phí thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định pháp
luật khác liên quan.







Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: chỉ đạo việc tổ chức
triển khai thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả đào tạo nghề cho lao
động nông thôn và đào tạo, bồi dưỡng công chức xã trên địa bàn; chỉ đạo việc tổ chức
thực hiện đào tạo nghề cho người lao động theo cơ chế đặt hàng; xâỵ dựng kế hoạch
đào tạo nghề cho lao động nông thôn hằng năm; xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
cán bộ, công chức xã hằng năm; chỉ đạo các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo của
địa phương có chuyên mục tuyên truyền về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; bố
trí mỗi huyện có 01 cán bộ chuyên trách ở Phòng LĐTB&XH làm công tác quản lý
giáo dục nghề nghiệp; tổ chức tuyên truyền, xây dựng thương hiệu hàng hóa, xây
dựng chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho lao động nông thôn; tổng họp báo cáo
kết quả, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn...



Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông

thôn
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn bao gồm các hoạt động sau:


Xây dựng chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn là các chương trình hành động, kế hoạch
hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể về đào tạo nghề, đây là tổ họp các
mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.
Xác định rõ xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn


Chính sách đổi với người học: lao động nông thôn khi học nghề, nhất là lao động
nông thôn được hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc


thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật... được hỗ trợ chi phí học
nghề, sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình
mục tiêu quốc gia về việc làm để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp.
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nêu rõ về các chính sách trên như:
Quyết định số 52/2012/QĐ- TTg ngày 16/11/2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc
làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp...


Chính sách đổi với giáo viên, cản bộ quản lỷ dạy nghề: chính sách đối với giáo viên,
cán bộ quản lý dạy nghề từng bước được quan tâm. Hiện nay, họ được hưởng các
chính sách chung đối với nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Ngoài ra, còn có
một số chế độ, chính sách riêng đối với giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề như: chế
độ làm việc, chế độ sử dụng, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ; chính sách
về phụ cấp cho giáo viên khi dạy thực hành các nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
và phụ cấp đặc thù cho giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật.



Chỉnh sách đổi với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn: nhà nước có chính
sách đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, nâng cao chất lượng đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, góp phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
CNH - HĐH đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng; tạo điều kiện
phổ cập nghề cho thanh niên nông thôn và đáp ứng nhu cầu học nghề của lao động
nông thôn.

^ Ngày 23/5/2014, Thủ tướng cũng đã ban hành Quyết định số 761/QĐ- TTg phê duyệt Đe


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status