MỤC LỤC
Tran
g
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC UỶ BAN
NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm về chất lượng công chức UBND cấp tỉnh
1.2. Các tiêu chí đánh giá và các yếu tố bảo đảm chất lượng công chức
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1.3. Bảo đảm chất lượng công chức qua kinh nghiệm của nhà nước
phong kiến Việt Nam và một số nước trên thế giới
Tiểu kết chương 1
6
6
20
39
48
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG
CÔNG CHỨC UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình
2.3. Thực trạng chất lượng công chức UBND tỉnh Ninh Bình
Tiểu kết chương 2
87
111
112
114
CNH, HĐH :
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
Nxb
:
Nhà xuất bản
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
2
cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn
thấp; khả năng quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế. Một bộ phận công chức
thoái hoá, biến chất, tham ô, buôn lậu, nhũng nhiễu phiền hà, thiếu công tâm,
khách quan khi giải quyết công việc ; kỷ luật hành chính lỏng lẻo, bản lĩnh
thiếu vững vàng, lãng phí...bị kỷ luật. Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng
không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, làm giảm
sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết phải
nâng cao chất lượng công chức trong đó có đội ngũ công chức uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh.
Ninh Bình là tỉnh được tái lập từ năm 1992 nhưng đến nay vẫn còn
không ít khó khăn nhất là công tác cán bộ. Đội ngũ cán bộ, công chức của
tỉnh đã được xây dựng chuẩn hoá nhiều mặt nhưng vẫn còn những hạn chế
nhất định về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực... Điều đó đòi hỏi cần
có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác cán bộ nói chung,
đội ngũ công chức cấp tỉnh nói riêng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của tỉnh.
Xuất phát từ lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Chất lượng công chức Uỷ
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chất lượng công chức là một trong những nội dung quan trọng của
công tác quản lý và sử dụng cán bộ; đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học trong nước. Một số đề tài nghiên cứu, sách, tạp chí có liên quan đã
được công bố như:
- Nguyễn Duy Gia (1990), Cải cách hệ thống tổ chức, hoạt động của
bộ máy quản lý hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức hành chính nhà nước, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học
viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
tham khảo có chọn lọc.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những giải pháp nâng cao
chất lượng công chức của UBND tỉnh Ninh Bình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá, phân tích, khái quát các vấn đề lý luận về chất lượng
công chức UBND cấp tỉnh.
- Phân tích thực trạng chất lượng công chức của UBND tỉnh Ninh Bình,
chỉ ra ưu, nhược điểm và các vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đưa ra các quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng công chức
của UBND tỉnh Ninh Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Công chức theo quy định hiện hành có phạm vi rất rộng, không chỉ
trong bộ máy hành chính nhà nước mà cả trong bộ máy giúp việc thuộc tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, trong các tổ chức Đảng, đoàn thể
nhưng luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về thời gian: Nghiên cứu chất lượng công chức UBND tỉnh Ninh
Bình từ năm 2004 đến 30/6/2009.
-Về đối tượng: Công chức làm việc trong tập thể UBND và các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh Ninh Bình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về cán bộ; các
quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước
trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, phục vụ
CẤP TỈNH
1.1.1. Khái niệm công chức
Công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế
giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một
quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã thực hiện chế độ công chức thì
công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một
công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa
phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước. Với quan niệm như thế để trở thành người công
chức cần phải thỏa mãn sáu điều kiện sau:
- Là công dân của nước đó
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển
- Giữ một công vụ thường xuyên
- Làm việc trong một công sở
- Lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước [35].
Những người làm việc trong các cơ quan Nhà nước nhưng không đủ
các điều kiện nói trên thì là viên chức Nhà nước.
Ở một số nước, công chức chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản
lý nhà nước. Có những nước, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt
động quản lý nhà nước, công chức còn được áp dụng cho những người làm
trong các cơ quan dịch vụ công. Từ năm 1859 ở vương quốc Anh, người ta đã
xác định hai bộ phận của công chức như sau:
7
- Những người do nhà Vua trực tiếp bổ nhiệm hoặc được ủy ban dân sự
cấp giấy chứng nhận cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự.
- Những người mà toàn bộ tiền lương được cấp trực tiếp từ ngân sách
10
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội( sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [43].
Như vậy, những văn bản trước Luật cán bộ, công chức năm 2008
không định nghĩa công chức bằng việc nêu lên những đặc điểm mô tả thế nào
là công chức. Để xác định ai là công chức phải căn cứ vào sự liệt kê các đối
tượng công chức. Luật Cán bộ, công chức sẽ có hiệu lực trong thời gian tới đã
đưa ra khái niệm mô tả để xác định cụ thể ai là công chức. Theo quy định này
công chức là:
+ Công dân Việt Nam.
+ Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh.
+ Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng luật nhưng khái niệm công
chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 vẫn có phạm vi, đối tượng
rộng bao gồm cả công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân, cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân. Cách quy định của pháp luật
như vậy vẫn chưa hợp lý vì hoạt động của công chức luôn gắn với quyền
tốt nhiệm vụ chiến lược là xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc nhà nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
12
- Quản lý trực tiếp và toàn diện các huyện, thị xã, thành phố trên địa
bàn và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo mọi mặt của Trung ương.
Để thực hiện chức năng trên, UBND tỉnh có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, phát triển
ngành, phát triển đô thị và nông thôn trong phạm vi quản lý; xây dựng kế
hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trình Hội
đồng nhân dân thông qua để trình Chính phủ phê duyệt;
- Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi; các chương trình khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư; phát triển sản xuất và bảo vệ cây trồng, vật
nuôi trên địa bàn tỉnh;
-Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp của tỉnh; tổ chức quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền;
-Tổ chức việc lập, trình duyệt hoặc xét duyệt theo thẩm quyền các quy
hoạch xây dựng vùng, xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh; quản lý kiến trúc,
xây dựng, đất xây dựng theo quy hoạch đã được duyệt; phê duyệt kế hoạch,
dự án đầu tư các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền; quản lý công tác xây
dựng và cấp phép xây dựng trên địa bàn tỉnh;
- Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản
lý hộ khẩu; quản lý việc cư trú, đi lại của người nước ngoài ở địa phương;
- Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành hiến pháp, luật, các văn
bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở
địa phương;
ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên
môn nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm việc theo chế
độ thủ trưởng Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh (sau đây gọi chung là Giám đốc sở) chịu trách nhiệm trước Ủy ban
nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về thực hiện
14
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn do mình phụ trách.
Căn cứ các quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, Giám đốc sở ban hành Quy chế làm việc, chế độ thông tin báo cáo của
cơ quan và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy định đó.
Giám đốc sở chịu trách nhiệm về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình và các công việc được Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh phân công hoặc ủy quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí và chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, gây thiệt hại trong tổ chức,
đơn vị thuộc quyền quản lý của mình.
Giám đốc sở có trách nhiệm báo cáo với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ, cơ quan ngang Bộ về tổ chức, hoạt động của
cơ quan mình; xin ý kiến về những vấn đề vượt quá thẩm quyền và báo cáo
công tác trước Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi có yêu
cầu; phối hợp với Giám đốc cơ quan chuyên môn khác và người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội cùng cấp để giải quyết các vấn đề liên quan đến chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh (sau đây gọi chung là Phó Giám đốc sở) là người giúp Giám đốc
sở chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc sở và
trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Giám đốc vắng mặt, một
Phó Giám đốc sở được Giám đốc uỷ nhiệm điều hành các hoạt động của cơ
trên địa bàn tỉnh; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở địa phương; đăng ký
kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, hợp
tác xã, kinh tế tư nhân.
Công chức thuộc Sở Tài chính tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài chính; ngân sách nhà nước;
thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước; các quỹ tài chính nhà
nước; đầu tư tài chính; tài chính doanh nghiệp; kế toán; kiểm toán độc lập; giá
cả và hoạt động dịch vụ tài chính tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Công chức thuộc Sở Công Thương tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí; luyện kim;
16
điện; năng lượng mới; năng lượng tái tạo; dầu khí (nếu có); hoá chất; vật liệu
nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản; công nghiệp
tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; lưu thông hàng
hoá trên địa bàn; xuất khẩu, nhập khẩu; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại;
thương mại điện tử; dịch vụ thương mại; hội nhập kinh tế; thương mại quốc tế;
quản lý cụm công nghiệp và điểm công nghiệp trên địa bàn.
Công chức thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu,
giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về:
nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát triển nông
thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản và muối
trong quá trình sản xuất đến khi đưa ra thị trường.
Công chức thuộc Sở Giao thông vận tải tham mưu, giúp Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông vận tải,
gồm: đường bộ; đường thuỷ; vận tải; an toàn giao thông.
Công chức thuộc Sở Xây dựng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: xây dựng; vật liệu xây dựng;
chăm sóc trẻ em từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
Công chức thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, giúp Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: văn hóa; thể
dục, thể thao và du lịch; gia đình; quảng cáo (trừ quảng cáo trên các phương
tiện báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm); tiếp nhận chức năng
và tổ chức về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
Công chức thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu, giúp Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: hoạt động khoa
học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; tiêu chuẩn, đo
lường, chất lượng; sở hữu trí tuệ; ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; an
toàn bức xạ và hạt nhân.
Công chức thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu, giúp Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, bao
gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo
và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường
18
học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất
lượng giáo dục và đào tạo.
Công chức thuộc Sở Y tế tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về: chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
gồm: y tế dự phòng; khám, chữa bệnh; phục hồi chức năng; y dược cổ truyền;
thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người; mỹ phẩm; vệ sinh an toàn thực phẩm;
trang thiết bị y tế; dân số; bảo hiểm y tế; tiếp nhận chức năng và tổ chức về dân
số từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
Công chức Thanh tra tỉnh (là cơ quan ngang sở), tham mưu, giúp Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh
tra và phòng, chống tham nhũng.
lập của nó.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được tạo nên bởi nhiều nhân tố, bao
gồm số lượng cán bộ, cơ cấu cán bộ, cấu trúc bộ máy, cơ chế tổ chức, điều
hành, phương thức quản lý và lãnh đạo, vv.. Chất lượng của đội ngũ cán bộ
được cấu thành từ chất lượng của mỗi người cán bộ. Đó là trình độ được đào
tạo về chuyên môn bậc cao, có phẩm chất chính trị tư tưởng vững vàng, đạo
đức cách mạng trong sáng, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn dày dạn, có
năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực tổ chức và điều hành, vv..
Chất lượng của mỗi người cán bộ nói chung, công chức nói riêng trước
hết được biểu hiện ở bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ở trình độ
được đào tạo về chuyên môn, kiến thức văn hóa và giao tiếp, thể hiện ở kinh
nghiệm và năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức, điều hành bộ máy và năng lực
tổ chức thực tiễn, đồng thời được biểu hiện ở hiệu quả hoạt động lãnh đạo,
quản lý, ở uy tín của họ trước tập thể và nhân dân..
Tuy nhiên, mỗi chức danh, mỗi cương vị và mỗi loại công chức khác
nhau có yêu cầu chất lượng ở mức độ chuyên sâu khác nhau. Nhưng nhìn
chung ở bất cứ cương vị và lĩnh vực nào thì yêu cầu về tố chất chính trị của
công chức phải được đặt lên hàng đầu. Tố chất đạo đức là cái gốc và trình độ,
kiến thức năng lực là nhân tố quyết định đến hiệu quả công tác. Chất lượng
hoạt động quản lý hành chính nhà nước của UBND suy cho cùng chính là
20
chất lượng của đội ngũ công chức làm việc trong UBND. Do vậy, khi nói đến
chất lượng công chức UBND cấp tỉnh là nói đến tổng thể những phẩm chất,
năng lực của người công chức đang làm việc tại UBND cấp tỉnh, những phẩm
chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả thực hiện công việc của họ,
cụ thể hơn là thực hiện những nhiệm vụ của UBND cấp tỉnh mà họ được cấp
có thẩm quyền phân công.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu Chất lượng công chức UBND cấp
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có
đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [67, tr.210].
“Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách
mạng hay là không ”, “Tuy năng lực và công việc mỗi người khác nhau,
người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức đều là
người cao thượng” [67, tr.568]. Theo Người, đạo đức cách mạng được thể
hiện ở nhân, trí, dũng, liêm, được quy tụ ở những chuẩn mực giá trị và nguyên
tắc đạo đức là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là chiến thắng chủ nghĩa
cá nhân, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, để nhân dân muôn đời con
cháu mai sau sống ấm no, hạnh phúc. Hồ Chí Minh cũng đề cao vai trò của
đạo đức trong mối liên hệ không tách rời với năng lực, bởi theo Người không
có năng lực thì mọi điều tốt đẹp của con người chỉ dừng lại ở mong muốn.
Chính vì vậy, trong di chúc để lại, Người căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Phải giáo dục,
đào tạo thế hệ trẻ nước ta thành nhữngchiến sỹ cách mạng, đào tạo họ thành
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng, vừa
chuyên”. Đảng và Nhà nước ta đã và đang quyết tâm xây dựng đôi ngũ công
chức nói chung, công chức UBND tỉnh nói riêng vừa có đức, vừa có tài và
phải lấy đức làm gốc. Công chức UBND tỉnh phải là công bộc của nhân dân,
phải có đủ cả đức lẫn tài hay phẩm chất và năng lực trong hoạt động xã hội
cũng như trong khi thi hành công vụ. Đó cũng chính là hai yếu tố nền tảng
trong tiêu chí đánh giá cán bộ ở các giai đoạn lịch sử khác nhau của mọi thời
đại. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì những yêu cầu về phẩm
22
chất năng lực đòi hỏi khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xem xét
phẩm chất và năng lực của công chức UBND trong giai đoạn đẩy mạnh công
23
được, cho đến nơi, cho đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy
hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, phải có kế hoạch,
phải quyết làm cho thành công [67, tr.263-264].
Phẩm chất chính là giá trị và tính chất tốt đẹp của con người [78]. Phẩm
chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, lý tưởng, đạo đức, lối sống, tinh thần, thái
độ đối với xã hội, đối với con người. Là công chức UBND (công chức hành
chính nhà nước) - những con người "đặc biệt" trong xã hội thì đòi hỏi về
phẩm chất đối với họ khắt khe hơn nhiều. Bởi lẽ, họ được sử dụng quyền lực
nhà nước để phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc. Đối với họ, phẩm chất
không chỉ được xã hội đánh giá trên cơ sở những tiêu chuẩn đạo đức địa
phương vùng miền họ sinh sống đặt ra mà những tiêu chuẩn ấy đã được pháp
luật quy định cụ thể và bản thân họ bắt buộc phải thực hiện. Trong thời đại
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phẩm chất của công chức UBND cấp
tỉnh được thể hiện ở phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức.
Phẩm chất chính trị của công chức UBND cấp tỉnh được thể hiện ở
mức độ nhận thức, ý thức chấp hành và kỹ năng vận dụng được những tư
tưởng, đường lối chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước
vào trong công việc cũng như trong đời sống xã hội. Cụ thể là nhận thức đúng
đắn về đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó,
biết vận dụng và phát huy những giá trị tư tưởng trên vào hoàn cảnh cụ thể
của nước ta. Tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; sẵn
sàng chiến đấu hi sinh bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của đất nước, tin tưởng và ra sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
và công cuộc đổi mới hiện nay. Luôn vững vàng, kiên định trên cơ sở lập
trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững các
quan điểm lý luận, am hiểu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước sẽ giúp
mỗi công chức UBND vững vàng trước những thách thức của cuộc sống.