ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THU HẰNG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THU HẰNG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: LL&PPDH BỘ MÔN LLCT
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỒNG VĂN QUÂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2018
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Phan Thị Thu Hằng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ ii
MỤC LỤC ..................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ iv
MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ..............................................4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................4
5. Những đóng góp mới của đề tài ..................................................................4
6. Giả thiết khoa học .......................................................................................5
7. Kết cấu của đề tài ........................................................................................5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO THANH NIÊN ........................................6
1.1. Lịch sử nghiên cứu của đề tài ..................................................................6
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài ..........................................................6
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở trong nước ..........................................................9
1.2. Một số khái niệm cơ bản ....................................................................... 11
1.2.1. Khái niệm môi trường ........................................................................ 11
1.2.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường, khủng hoảng môi trường, bảo vệ
môi trường và thanh niên ............................................................................. 14
tỉnh Thái Nguyên hiện nay ........................................................................... 47
2.3.1. Hạn chế trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên
của đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên hiện
nay ................................................................................................................ 47
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho thanh niên của đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên hiện nay .................................................................... 52
iv
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN TNCS
HỒ CHÍ MINH HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN ....................54
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Đồng
Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên ................................................................................ 55
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi ....................................................... 55
3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn .................................................... 55
3.2. Các giải pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trường cho thanh niên
của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên ............... 56
3.2.1. Nhóm giải pháp tuyên truyền ............................................................. 56
3.2.2. Nhóm giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách ................................... 63
3.2.3. Nhóm giải pháp thực tiễn ................................................................... 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................ 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 75
PHỤ LỤC
v
TN&MT
Tài nguyên và môi trường
TNCS
Thanh niên cộng sản
UBND
Uỷ ban nhân dân
UNEP
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường tự nhiên là một trong những điều kiện khách quan, thường
xuyên và tất yếu của đời sống xã hội, có ảnh hưởng rất to lớn lên sự tồn tại và
phát triển của xã hội. Ngày nay, trong điều kiện của cuộc Cách mạng Công
nghiệp lần thứ tư (Cách mạng Công nghiệp 4.0), vấn đề khủng hoảng môi trường
sinh thái vẫn là một trong những vấn đề toàn cầu, đe doạ sự tồn vong của loài
người và của cả hành tinh xanh của chúng ta. Những quốc gia chịu ảnh hưởng
sâu sắc nhất của sự khủng hoảng môi trường chính là những nước nghèo, chậm
phát triển, nơi bị coi là “bãi rác thải” của các nước tiên tiến, trong đó có Việt
Nam.
nhiệm của các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không
ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, gây ô nhiễm môi trường. Bên
cạnh đó, chính sự chưa chặt chẽ trong việc quản lý bảo vệ môi trường của nhà
nước cũng đã tiếp tay cho các hành vi phá hoại môi trường tiếp diễn. Luật pháp
chưa thực sự nghiêm minh, chưa đủ mạnh để ngăn chặn mọi sự vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường... Việc giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường
sống chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên. Thiếu
những chính sách và quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và do đang thu
hút mạnh các nguồn vốn đầu tư để phát triển nên dễ mắc vào "cạm bẫy" trở thành
nơi tiếp nhận nhiều ngành công nghiệp "bẩn", thải ra những chất thải nguy hại
cho môi trường. Ngoài ra, lượng xe cô lưu thông ngày càng nhiều cũng góp phần
không nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí.
Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương
trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi,
không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hỏi của người dân. Do đó mà trình
độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công
cộng chưa đi vào nề nếp.
2
Ô nhiễm môi trường gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng nên cần có những
biện pháp để ngăn chặn. Bản thân con người phải ý thức được những tác hại to
lớn khi môi trường ô nhiễm. Tốt nhất là các cơ quan nhà nước cần đưa ra những
bộ luật thật cụ thể về vấn đề xâm hại môi trường. Giáo dục ý thức cộng đồng về
bảo vệ môi trường. Trong thời gian gần đây, chúng ta thường được nghe nói đến
phong trào “Giờ Trái Đất” - một phong trào mang một ý nghĩa vô cùng to lớn
của nhân dân toàn cầu trong việc góp phần giảm bớt tình trạng trái đất nóng lên.
Đó cũng là một trong những hoạt động thiết thực để góp phần bảo vệ môi trường.
Và chúng ta cần phải thực hiện các giải pháp trên một cách đồng bộ, thường
xuyên để khắc phục những hậu quả của sự ô nhiễm môi trường, tạo ra môi trường
trường cho thanh niên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về bảo vệ
môi trường, đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu, các bài viết trước đó
có liên quan đến đề tài luận văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận
văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử logic; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học;
phương pháp quy nạp - diễn dịch; phương pháp hệ thống hóa; phương pháp lấy
ý kiến chuyên gia; phương pháp phỏng vấn…
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên nói chung và thanh niên huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
4
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho các đề tài nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh
niên, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên hiện nay.
6. Giả thiết khoa học
Hiện nay,việc tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh
niên ở huyện Đồng Hỷ mặc dù đã được chú trọng thực hiện nhưng hiệu quả chưa
cao và còn mang tính hình thức.Nếu luận văn đề xuất được các giải pháp tuyên
truyền giáo dục phù hợp với thực tế,mang tính hiện thực góp phần nâng cao hiệu
với giới tự nhiên ông đã từng cảnh báo rằng: ... chúng ta hoàn toàn không
thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác,
như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta,
với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng
ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới
tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các loài sinh vật khác, là chúng ta
nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy
luật đó một cách chính xác [17;655].
6
Nhiều chương trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường được xây dựng, triển khai hoạt động, nhiều Nghị định thư và Công ước
liên quan đến môi trường đã được ban hành:
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) được thành lập và
nhiều hội nghị bàn về những vấn đề liên quan đến giáo dục đạo đức sinh thái đã
được triển khai rộng khắp. Từ ngày 14 đến ngày 26 tháng 10 năm 1977, Hội nghị
quốc tế về giáo dục môi trường được tổ chức tại Tbilisi (Cộng hoà Grudia), gồm
có 66 đại biểu của 66 nước thành viên của UNESCO tham dự. Hội nghị này là
đỉnh cao của giai đoạn xây dựng chương trình và đặt cơ sở cho giáo dục đạo đức
sinh thái trên bình diện quốc tế. Đặc biệt, từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 8 năm
1987, Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường do UNESCO và UNEP được tổ
chức tại Mátxcơva, có 300 chuyên gia của 100 nước và các quan sát viên IUCN
(Hội Bảo vệ tài nguyên và Thiên nhiên quốc tế) cùng nhiều tổ chức quốc tế đã
tham gia. Hội nghị đã họp bàn, thảo luận, đề ra 9 mục tiêu, chiến lược hành động
quốc tế trong lĩnh vực giáo dục môi trường và đào tạo giáo viên cho thập kỷ 90.
Hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển được tổ
chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), có sự tham gia của hơn 170 các nguyên
thủ quốc gia các nước trên thế giới, Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de
Janeiro về môi trường và phát triển, gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình
góc độ một nền đạo đức học mới - đạo đức học sinh thái”, Người dịch Nguyễn
Thị Lan Hương, Tạp chí Nghiên cứu con người, (1/16). Trong công trình này, tác
giả đã khái quát được những nội dung cơ bản của môi trường sinh thái, yêu cầu
của việc xây dựng một nền đạo đức mới - đạo đức sinh thái. Đồng thời, tác giả
cũng chỉ ra vai trò của đạo đức sinh thái đối với đời sống con người và những viễn
cảnh mới nếu con người không chú trọng tới đạo đức sinh thái.
Tác giả Tômnobu Imamichi (2005), “Khái niệm đạo đức học sinh thái và
sự phát triển tư tưởng đạo đức”, Người dịch Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí
Nghiên cứu con người, (6/21). Tác giả đã nêu ra những quan niệm khác nhau về
đạo đức học sinh thái của các nhà khoa học trên thế giới và khẳng định: đạo đức
học sinh thái là xu hướng phát triển cao của tư tưởng đạo đức nhân loại.
Tác giả Paul Kennedy (1995) với cuốn sách “Chuẩn bị cho thế kỷ XXI”,
8
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, cũng đã nêu ra vai trò của môi rường tự nhiên,
vai trò của môi trường tự nhiên đối với sự sống của con người. Con người cần
phải có những ứng xử đúng đắn với môi trường để xây dựng một xã hội tươi đẹp
trong tương lai.
Còn nhóm tác giả A.Terry Ramloo, Lê Trọng Cúc (1995), Một số vấn đề
sinh thái nhân văn Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, đã đưa ra sự tổng quan
về vấn đề sinh thái ở Việt Nam, những vấn đề đặt ra hiện nay đối với môi trường
Việt Nam như vấn đề cơ chế chính sách, ý thức trách nhiệm của người dân và
các doanh nghiệp Việt Nam đối với môi trường sinh thái, việc cần thiết phải
hướng tới xây dựng môi trường sinh thái nhân văn.
Như vậy, nghiên cứu về vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường và giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường là nội dung cấp bách được các học giả quan tâm, nghiên
cứu với nhiều mức độ khác nhau.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở trong nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
thấy được tính tất yếu phải bảo vệ môi trường tự nhiên; mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường tự nhiên nói chung và ở các tỉnh miền
núi Đông Bắc Việt Nam nói riêng. Qua sự phân tích của tác giả cho thấy, việc
bảo vệ môi trường tự nhiên đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho mọi tỉnh thành và
cho mọi người dân trong quá phát triển đời sống xã hội.
Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học cũng tập trung
xoay quanh việc đề xuất các biện pháp tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh như: TS Trần Văn Miều, “Tuổi trẻ Việt Nam với sự nghiệp
bảo vệ môi trường”, NXB Thanh niên năm (2002).
Dự án cấp bộ “Nghiên cứu và xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu
và tổ chức tập huấn giáo dục bảo vệ môi trường ở các tỉnh vùng núi phía Bắc”
(năm 2004) do TS Phạm Hồng Quang chủ trì.
Phạm Khôi Nguyên: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công
tác bảo vệ môi trường” (2009)
Các công trình trên đã đứng trên nhiều góc độ khác nhau để đưa ra nhiều
10
vấn đề về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên để nghiên cứu tìm ra các biện pháp nâng
cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh niên đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, huyện Đồng Hỷ-tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện biến đổi
khí hậu toàn cầu như hiện nay thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống và đầy đủ. Do vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu thực hiện không
trùng lặp với nội dung của các công trình đã nghiên cứu trước đó.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm môi trường
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ, xã hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành tiện nghi trong cuộc sống, như
ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên nhân tạo... Tuy nhiên ở
góc độ đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên, tức là các hoạt động bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên, bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, bảo vệ động vật, thực vật
nói chung. Theo nghĩa này, môi trường có bốn chức năng sau:
Thứ nhất, môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi con người đều cần có một không gian nhất định
để phục vụ cho hoạt động sống như: nhà ở, nghỉ ngơi, đất để sản xuất nông
nghiệp, thuỷ sản, kho tàng, bến cảng... Trung bình mỗi ngày, mỗi người đều cần
khoảng 4m3 không khí để thở, 2,5 lít nước để uống, 1 lượng lương thực và thực
phẩm tương ứng 2000 - 2400 kalo. Như vậy, chức năng này đòi hỏi môi trường
phải có phạm vi không gian thích hợp cho mỗi người.
Thứ hai, môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống
và hoạt động sản xuất của con người:
Bắt đầu từ khi con người biết canh tác vào thời kỳ đồ đá cho đến khi phát
minh ra máy hơi nước vào thế kỷ XVIII, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Xét về bản chất thì mọi hoạt động
của con người để duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống
12
sinh thái tự nhiên thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ.
Thứ ba, môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo
ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình:
Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn thải
ra môi trường chất thải. Các chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các
yếu tố môi trường khác sẽ bị phân huỷ biến đổi từ phức tạp tới đơn giản và tham
gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp. Trong thời kỳ sơ khai khi
dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do quá trình phân huỷ tự nhiên làm cho chất thải
Ba là, tính mở: Môi trường, dù với quy mô lớn hay nhỏ như thế nào, cũng
đều là một hệ thống mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy”
trong không gian và thời gian. Vì thế, các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính
toàn cầu, tính lâu dài và cần được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng,
bằng sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa,
trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và của thế hệ mai sau.
Bốn là, khả năng tự tổ chức và tự điều chỉnh: Trong hệ thống môi trường,
có các thành phần cơ cấu là vật chất sống hoặc là các sản phẩm của chúng. Các
thành phần này có khả năng tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh
để thích ứng với những thay đổi bên ngoài theo quy luật tiến hoá, quy luật giảm
entropy nhằm hướng tới trạng thái ổn định. Đặc tính cơ bản này của hệ thống
môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi can thiệp của con người, đồng
thời tạo mở hướng giải quyết căn bản, lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp
bách hiện nay.
1.2.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường, khủng hoảng môi trường, bảo vệ môi
trường và thanh niên
1.2.2.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường
Theo khoản 8, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường ban hành ngày 23/6/2014 định
nghĩa ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. Theo
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính
chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".[28;12]
Môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ
14
hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con
người, sinh vật. Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm chất thải có thể ở dạng rắn,
lỏng hoặc khí và các dạng năng lượng như nhiệt độ, tiếng ồn. Trong môi trường
tự nhiên luôn có yếu tố này. Tuy nhiên, môi trường chỉ gọi là ô nhiễm nếu nồng
con người, bởi môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên đầu vào cho
sản xuất và con người tạo ra. Do đó, để bảo vệ môi trường thì phải duy trì các
quy trình sinh thái chủ yếu và các hệ sinh thái quyết định đến đời sống con người,
phải sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các tài nguyên sinh
vật, tránh làm cạn kiệt hoặc hủy diệt tài nguyên, bảo đảm sẽ có được một chiến
lược phát triển bền vững lâu bền và ổn định. Vì lẽ đó bảo vệ có ý nghĩa tích cực,
nó bao gồm cả sự bảo quản duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu
suất của môi trường tự nhiên, bao gồm cả các nguồn tài nguyên tái tạo và không
tái tạo.
Bảo vệ môi trường: là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,
sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục
các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác,
sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Bảo vệ môi trường tức là bảo vệ môi trường sinh tồn của loài người khỏi
bị ô nhiễm và phá hoại (khiến cho môi trường tự nhiên càng phù hợp với sản
xuất và đời sống của loại người) đồng thời bảo vệ tốt các loài sinh vật trong giới
tự nhiên.
Ở mỗi quốc gia, với mức độ khác nhau đã có những chương trình, kế hoạch
hành động nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhiều công ước, hiệp
ước quốc tế nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các giá trị môi trường
chung của thế giới đã được cộng đồng quốc tế ký kết và thực hiện. Sự bền vững
của việc phát triển kinh tế - xã hội có thể được đánh giá bằng những chỉ tiêu nhất
định về kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường và tình trạng xã
hội.
Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Con người được tổ chức tại
16
Stockholm năm 1972, đã khẳng định: Bảo vệ và cải thiện môi trường con người