LƯƠNG NGỌC ANH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
THỤ LÝ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
LƯƠNG NGỌC ANH
2015 - 2017
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỤ LÝ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN
GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LƯƠNG NGỌC ANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ........................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ...................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ................................................... 3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn....................................... 4
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn .......................................................... 5
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 5
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN ........................................................................................... 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa thụ lý tranh chấp đất đai của Tòa án nhân
dân ...................................................................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai ................................................................. 6
1.1.2. Phân biệt tranh chấp đất đai với các tranh chấp khác liên quan đến đất
đai. .................................................................................................................. 8
1.1.3 Khái niệm thụ lý tranh chấp đất đai ..................................................... 12
1.1.4 Đặc điểm thụ lý tranh chấp đất đai....................................................... 13
1.1.5 Ý nghĩa của việc thụ lý TCĐĐ ............................................................. 15
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về thụ lý tranh chấp
đất đai ............................................................................................................... 16
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thẩm quyền thụ lý, giải
quyết tranh chấp đất đai..................................................................................... 20
1.3.1 Giai đoạn trước ngày 01/7/1980 (trước khi ban hành Hiến pháp 1980) . 20
1.3.2 Giai đoạn từ ngày 01/7/1980 đến trước ngày 08/01/1988 (Hiến pháp
1980) ............................................................................................................. 21
1.3.3 Giai đoạn từ ngày 08/01/1988 đến trước ngày 15/10/1993 (Luật đất đai
1987) ............................................................................................................. 23
1.3.4 Giai đoạn từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 (Luật Đất đai
1993) ............................................................................................................. 25
1.3.5 Giai đoạn từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 ( Luật Đất đai
3.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng .......................... 63
3.3. Những ưu điểm và hạn chế về thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa
án trên địa bàn thành phố Hải Phòng. ................................................................ 65
3.4 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thụ lý,
giải quyết TCĐĐ ............................................................................................... 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 82
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 84
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TCĐĐ
:
Tranh chấp đất đai
QSDĐ
:
Quyền sử dụng đất
BLDS
:
Bộ luật Dân sự
TANDTC
:
Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC
:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VKSND
:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1: Kết quả thụ lý, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Toà án hai cấp thành phố
Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 .......................................... 66
Bảng 2: Số vụ Tranh chấp đất đai và các tranh chấp khác liên quan đến đất đai Toà
nghị một số giải pháp khắc phục tình trạng trên là một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng
cao chất lượng đồng thời hạn chế thấp nhất những hạn chế, bất cập của việc thụ lý
tranh chấp đất đai trong giai đoạn xét xử sơ thẩm dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp theo đúng quan điểm của Đảng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, dựa vào các phân tích về ý nghĩa và tầm
quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu, tác giả chọn đề tài: “Thụ lý tranh chấp đất
1
đai – Thực tiễn giải quyết tại Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm luận
văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu các tài liệu đã được công bố cho thấy, cho đến nay đã có khá
nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, liên
quan đến đề tài của luận văn mới có một số công trình tiêu biểu sau: Luận văn thạc
sĩ của tác giả Châu Huế “Tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết của toà án”
năm 2003, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội - Báo cáo tham luận “Thực trạng
giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân – Kiến nghị và giải pháp” của TS.
Nguyễn Văn Cường và cử nhân Trần Văn Tăng, Viện khoa học xét xử, Toà án nhân
dân tối cao tại hội thảo “Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực
trạng và giải pháp”, ngày 08-9-2008; Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị
Hương Lan (2009), Viện Nhà nước và Pháp luật “Giải quyết tranh chấp đất đai theo
Luật đất đai 2003”; Luận án tiến sĩ luật học của Mai Thị Tú Oanh (2013), Viện Nhà
nước và pháp luật “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Toà án
ở nước ta”. Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật cũng có những bài viết nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật trong giải
quyết tranh chấp đất đai.
Trong các công trình trên, ở mức độ này hay mức độ khác đã đề cập tới vấn
đề thụ lý tranh chấp đất đai, nhất là các căn cứ, thủ tục để thụ lý tranh chấp đất đai,
- Những vấn đề lý luận về thụ lý tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân dưới
góc độ cơ sở lý luận - khoa học và lịch sử hình thành và phát triển.
- Những quy định của pháp luật hiện hành về thụ lý tranh chấp đất đai của Tòa
án nhân dân và thực tiễn việc thụ lý tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân trên địa
bàn thành thành phố Hải Phòng.
- Những nguyên nhân của ưu điểm và những hạn chế, tồn tại của thụ lý tranh
chấp đất đai của Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Từ đó kiến
nghị những giải pháp bảo đảm hiệu quả của việc thụ lý tranh chấp đất đai của Tòa
án nhân dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi là một Luận văn thạc sĩ Luật học thuộc chuyên ngành Luật
kinh tế, đề tài chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật về thụ lý tranh chấp đất đai
theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bằng con đường Tòa án nhân dân và thực tiễn
áp dụng pháp luật về thụ lý và giải quyết tranh chấp đất đai của TAND trên địa bàn
thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2016 với tư cách là một hình thức cụ
thể và sinh động của hoạt động thụ lý tranh chấp đất đai cũng như các tranh chấp
liên quan đến đất đai của Tòa án nhân dân. Luận văn không nghiên cứu việc thụ lý
TCĐĐ theo yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền;
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
(XHCN), xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta;
các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong các Nghị quyết số
08/NQ-TW ngày 01/02/2002 về "Nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong tư
Theo Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co cái
không rõ thuộc về bên nào” [26]. Trong tranh chấp đất đai thì đối tượng tài sản mà
các bên tranh chấp giằng co nhau là đất đai. Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật
Đất đai năm 2013 thì “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [13]. Theo Giáo
trình Luật Đất đai của Đại học Luật Hà Nội thì khái niêm tranh chấp đất đai được
6
hiểu như sau: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi
ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất
đai”.
Như vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là các quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất. Tức là trong quá trình quản lý và sử dụng đất, người sử dụng đất
sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình làm phát sinh tranh chấp với người khác.
Còn chủ thể của tranh chấp đất đai có thể là giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau
hoặc giữa người sử dụng đất với bất kỳ bên thứ ba nào khác trong quan hệ đất đai.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tranh chấp đất đai
trong Luật Đất đai năm 2013. Thứ nhất, có quan điểm cho rằng, tranh chấp đất đai
chỉ là những tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong Luật Đất
đai năm 2013 lại không có khái niệm hay định nghĩa nào về tranh chấp về quyền sử
dụng đất, cho nên thế nào là tranh chấp về quyền sử dụng đất là hoàn toàn phụ
thuộc vào cách hiểu của các bên có liên quan và đặc biệt là của cơ quan có thẩm
quyền giải quyết. Thứ hai, có quan điểm cho rằng, tranh chấp đất đai là mọi tranh
chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất và
các tranh chấp liên quan đến đất đai như tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất,
tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng
đất của vợ chồng khi ly hôn... Quan điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền
giải quyết chấp nhận, vì Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định tranh chấp đất
quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc
xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể có dạng như sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới
hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai
xã với nhau, tập trung ớ những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới không rõ
ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ
8
sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh
chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.
- Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực
chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc
trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên
nhân khác nhau họ không còn quản lý, sứ dụng nữa. Bây giờ những người này đòi
lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có
các loại sau:
+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau
trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng
đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ
năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản
lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp
tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết T.Ư 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia
đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số
cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là
nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không
có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể
chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
- Tranh chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn: Đây là
trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn. Đất
tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ
chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có
thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại...
- Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ: Đây là
dạng tranh chấp do người có QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chết mà không để lại di
chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người
10
hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu
hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.
- Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng
đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại tranh chấp
này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được
với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác.
Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người
sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường sang nhượng nhiều lần, bàn giao
không rõ ràng.
Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan
nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc
cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương
sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất
cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ có phần
diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề. Khi
giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp
chấp hành chính về đất đai. Các tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các
đương sự quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà
nước về đất đai hoặc cán bộ quản lý nhà nước về đất đai áp dụng đã làm ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thí dụ: Các quyết định về giao đất, thu hồi
đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, thu hồi giấy chứng nhận quyền
SDĐ, các quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai.
1.1.3 Khái niệm thụ lý tranh chấp đất đai
Để làm rõ khái niệm thụ lý tranh chấp đất đai, trước hết cần làm rõ một số
khái có liên quan, cụ thể như sau: Thụ lý là gì? Theo từ điển tiếng Việt “Thụ lý là
tiếp cận giải quyết vụ việc”[26]. Dưới góc độ pháp lý, theo từ điển luật học “Thụ lý
vụ án là bắt đầu tiếp nhận một việc để xem xét và giải quyết”[31]. Theo pháp luật
tố tụng dân sự thì “Thụ lý vụ án là việc Tòa dân sự nhận đơn yêu cầu của đương sự
12
đề nghị xem xét, giải quyết một vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức” Điều 186; Điều 187 BLTTDS năm 2015.
Như vậy có thể nói thụ lý bao gồm hai hoạt động cơ bản là tiếp nhận đơn
khởi kiện để xem xét và vào sổ thụ lý để giải quyết nội dung đơn khởi kiện đó. Thụ
lý vụ án về bản chất là việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện để xem xét giải quyết.
Thụ lý TCĐĐ là một dạng của thụ lý vụ án dân sự, thực chất là việc Tòa án
chấp nhận đơn khởi kiện TCĐĐ để xem xét giải quyết nội dung đơn khởi kiện đó.
Việc Tòa án chấp nhận tiến hành thụ lý vụ án TCĐĐ đồng nghĩa với việc Tòa án
đã xác nhận trách nhiệm giải quyết vụ án thuộc về mình mà không phải thuộc về
một cơ quan nhà nước nào khác. Từ đây, các mối quan hệ pháp luật tố tụng sẽ
được phát sinh, trong mối quan hệ này, Tòa án là chủ thể thực hiện quyền lực nhà
nước thông qua việc thụ lý giải quyết tranh chấp và quyết định thụ lý của Tòa án
có tính bắt buộc đối với các bên. Thụ lý TCĐĐ là một trong những thẩm quyền
của TAND nhằm thực hiện chức năng xét xử các loại án, trong đó có các loại án
về đất đai”. Do đó, Thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự được xem xét dựa trên thẩm quyền theo loại việc của Tòa án; thẩm quyền theo
cấp của Tòa án; thẩm quyền theo lãnh thổ và sự lựa chọn của nguyên đơn.
- Thụ lý TCĐĐ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có
quyền khởi kiện. Xuất phát từ đặc trưng của quan hệ pháp luật đất đai, đề cao sự tự
thoả thuận, tự quyết định của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Mặc dù có tranh chấp
đất đai hay có những sự kiện pháp lý xảy ra là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của một chủ thể nào đó... nhưng nếu các đương sự, chủ thể không yêu cầu Toà
án giải quyết tranh chấp hay công nhận sự kiện pháp lý thì Toà án cũng không thể
tiến hành hoạt động thụ lý TCĐĐ.
- Thụ lý TCĐĐ không phải là một hoạt động tố tụng độc lập mà nó là cả một
quy trình gồm nhiều bước khác nhau. Các hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn
nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện, kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện luật
định hay chưa, Toà án nhận những tài liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi
kiện, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí... để đi đến kết quả là Tòa án vào sổ
14
thụ lý vụ án TCĐĐ.
1.1.5 Ý nghĩa của việc thụ lý TCĐĐ
- Thụ lý TCĐĐ chính là cơ sở pháp lý để Toà án tiến hành các hoạt động tố
tụng, giải quyết vụ án TCĐĐ. Tòa án được thiết lập để thực hiện chức năng tư pháp
của Nhà nước, tức có chức năng xét xử các vụ án theo thẩm quyền, trong đó có các
vụ án TCĐĐ và liên quan đến đất đai, thụ lý TCĐĐ chính là cơ sở pháp lý để Toà
án tiến hành các hoạt động tố tụng, giải quyết vụ án TCĐĐ. Bởi lẽ, Toà án chỉ được
tiến hành hoạt động tố tụng giải quyết vụ án TCĐĐ sau khi đã thụ lý đơn khởi kiện
TCĐĐ. Sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến Tòa để lấy
lời khai, xác minh và hòa giải, đối với những việc pháp luật quy định không được
hòa giải thì phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa.
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
- Thụ lý TCĐĐ có ý nghĩa thiết thực đảm bảo việc bảo vệ kịp thời những
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về đất đai. Việc
thụ lý vụ án TCĐĐ không chỉ làm phát sinh trách nhiệm của Toà án đối với việc
giải quyết yêu cầu TCĐĐ người khởi kiện, mà còn làm phát sinh tư cách của các
chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Những người này sẽ có những
quyền và nghĩa vụ tố tụng do pháp luật TTDS quy định. Do đó, Thụ lý vụ án TCĐĐ
còn có ý nghĩa thiết thực bảo đảm việc bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể trong lĩnh vực đất đai, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh
chấp trong nội bộ nhân dân, tạo niềm tin của dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật,
trong đó Tòa án là cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án TCĐĐ.
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về thụ lý tranh chấp
đất đai
- Về cơ sở lý luận: Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định của pháp
luật về Thụ lý TCĐĐ xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, chế độ sở hữu
toàn dân về đất đai và yêu cầu cải cách tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết của
Đảng qua các thời kì:
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đề ra
16