Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn Ths 2017) - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.........../...........

BỘ NỘI VỤ
...../.....

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ MINH DUẨN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu luận văn..........................................................................4
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn......................................................................4
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn.............................5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn...........................5
6. Đóng góp của luận văn......................................................................................5
7. Kết cấu của luận văn..........................................................................................6
CHƯƠNG 1...........................................................................................................7
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG...7
1.1. Tổng quan về quản lý nhà nước đối với môi trường......................................7
1.1.1. Khái niệm môi trường..................................................................................7
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường..............................................10

TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.............................67
3.1. Quan điểm cơ bản của Đảng và nhà nước ta về bảo vệ môi trường.............67
3.1.1. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc..........................................................67
3.1.2. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa X tại đại hội XI. 68
3.1.3. Nghị quyết và Chỉ thị của Bộ Chính trị.....................................................68
3.1.4. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và định hướng đến
năm 2030.............................................................................................................71
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường tại
thành phố Hồ Chí Minh.......................................................................................73
3.2.1. Các giải pháp chung..................................................................................73
3.2.2. Các giải pháp cụ thể..................................................................................75
3.3. Kiến nghị......................................................................................................84
3.3.1. Kiến nghị đối với Quốc hội........................................................................84
3.3.2. Kiến nghị đối với Chính phủ......................................................................85
3.3.3. Kiến nghị đối với các bộ, ngành, địa phương...........................................86
KẾT LUẬN.........................................................................................................89
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................91


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác quản lý
nhà nước về môi trường, đây là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường
lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tất cả các cấp, các
ngành; là cơ sở quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Yêu cầu này xuất phát từ nhu
cầu cấp bách về bảo vệ môi trường như là một điều kiện cần thiết cho sự phát
triển bền vững nói chung và cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước trong tầm nhìn đến năm 2020.
Môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu cần sự phối hợp, chung tay của

hiện đại hóa đất nước. Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về môi trường từ
trung ương tới địa phương và ở các bộ, ngành đã được hình thành, ngày càng
được tăng cường và đi vào hoạt động có nề nếp. Chính phủ đang từng bước xây
dựng hoàn thiện một hệ thống các thể chế nhằm đảm bảo cho công tác quản lý
nhà nước về môi trường được chú trọng ở mọi lúc, mọi nơi, từ ý nghĩ đến hành
động. Ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức đoàn thể, tư nhân, doanh nghiệp và cộng đồng ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ, tình hình môi trường
ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại. Cùng với đà tăng trưởng kinh tế,
môi trường đô thị, khu công nghiệp tập trung vào một số vùng nông thôn đang
bị suy thoái ngày càng nặng. Nếu không được phòng ngừa và ngăn chặn kịp
thời, có thể gây tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe nhân dân, ảnh hưởng xấu đến
sản xuất và sự phát triển bền vững của đất nước.
Sở dĩ có tình trạng trên là do tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân, cả
khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng là
thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường, đặc biệt là ở các địa phương.
Điều này được thể hiện ở chổ: Trong các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, các yếu tố tài nguyên môi trường chưa được phát hiện và đánh giá một
cách toàn diện trên cở sở phát triển bền vững; chưa được trình bày theo một
trình tự thống nhất, thậm chí một số vấn đề còn bị bỏ sót; chưa gắn việc xử lý
2


các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường ngay từ đầu và còn mang tính cách
biệt; thiếu các biện pháp và chế tài xử lý vi phạm về môi trường.
Là một địa bàn kinh tế trọng điểm của phía Nam, điểm nhấn về phát triển
kinh tế - xã hội trong cả nước. Trong thời kỳ hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh
đã đạt được rất nhiều thành tựu và có những đóng góp to lớn vào công cuộc xây
dựng và đổi mới đất nước. Song cũng chính trong quá trình ấy đã phát sinh rất
nhiều vấn đề tác động đến môi trường nói chung và môi trường thành phố nói
riêng. Hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất; các dự án đầu tư, rác

Đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước về môi trường ở Đồng Nai” của tác
giả Phạm Minh Đạo (CH3/39); “Tăng cường quản lý nhà nước về công tác môi
trường đô thị thị xã Hà Đông” của tác giả Phạm Khắc Tuấn (CH7/61).
Tuy nhiên, các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về phương diện chuyên môn
và xử lý kỹ thuật, chứ chưa đi sâu vào công tác quản lý về môi trường, chưa tập
trung phân tích mối quan hệ biện chứng giữa môi trường với phát triển và công
tác quản lý nhà nước về môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Đồng thời, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội lại có những vấn đề
nảy sinh nổi cộm, cần phải có chiến lược và kế hoạch giải quyết cụ thể mới tháo
bỏ được những khó khăn, những tồn tại của giai đoạn trước để lại và phát triển
mạnh trong giai đoạn hiện tại cũng như trong giai đoạn tiếp theo.
Chính vì vậy, đề tài của tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề về môi
trường và công tác quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh.
Qua đó, phân tích tác động của môi trường đối với sự phát triển bền vững, mối
quan hệ biện chứng giữa môi trường và phát triển, từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường trong giai đoạn hiện
nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về môi trường trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ:
-

Hệ thống lý luận: Xây dựng cơ sở lý luận về môi trường, quản lý nhà

nước về môi trường, phát triển bền vững.
4




Nội dung: Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Hồ Chí

Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận:
Cơ sở phương pháp luận cho đề tài nghiên cứu là học thuyết chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập thông tin: Có những thông tin thu thập từ sách, báo,
internet; các nghiên cứu khoa học được công bố có liên quan đến đề tài mà
tác giả nghiên cứu; từ các nguồn thông tin khác liên quan tới quản lý nhà
nước về môi trường.
- Phương pháp thống kê: Thống kê của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh; các số liệu thống kê mới nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường
thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp so sánh: Tác giả tìm hiểu các thông tin sau đó tổng hợp
và so sánh giai đoạn trước với giai đoạn sau.
5


6. Đóng góp của luận văn
Từ những vấn đề nêu trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu tăng
cường quản lý nhà nước về môi trường một cách hệ thống sẽ có nhiều ý
nghĩa về lý luận và thực tiễn như sau:
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về môi trường.
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về
môi trường trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham

những gì xung quanh con người”.
Báo cáo toàn cầu công bố năm 1982 đã nêu ra định nghĩa sau đây: “Môi
trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh con người…mối quan hệ
giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân
biệt giữa cá thể con người với môi trường bị xóa nhòa đi”.
Trong cuốn “Địa lý hiện tại và tương lai, hiểu biết về quả đất hành tinh
của chúng ta” Magnard. P (1980) đã nêu khái niệm về môi trường như sau: “Môi
trường là tổng hợp, ở một thời điểm nhất định – các trạng thái vật lý – hóa học
sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián
tiếp tức là theo thời kỳ ngắn hạn hay dài hạn đối với các sinh vật hay hoạt động
của con người”.

7


Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981: “Môi trường là toàn bộ hệ
thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo lập ra xung quanh mình, trong
đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên
thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người” [21].
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì môi trường được hiểu là:
“Bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
[23,tr. 8].
Ngoài ra dưới nhiều góc độ khác nhau người ta còn có thể đưa ra những
khái niệm môi trường như sau:
Môi trường của một vật thể, hoặc một sự kiện là tổng hợp các điều kiện
bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó.
Môi trường là những yếu tố liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả
các hoạt động kinh tế- xã hội và đời sống của con người.
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao

Các định nghĩa nêu trên tuy khác nhau về quy mô, giới hạn và thành phần
của môi trường, nhưng điều thống nhất ở bản chất hệ thống của môi trường và
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Các bản chất đó là: Tính cấu trúc phức
tạp: Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử hợp thành. Các phần tử đó có
bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, dân cư, xã hội) và bị chi phối bổi các quy
luật khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Các phần tử của hệ thống môi trường
thường xuyên tác động, quy định và phụ thuộc lẫn nhau thông qua trao đổi chất
– năng lượng và thông tin. Vì vậy sự thay đổi dù là rất nhỏ của phần tử cơ cấu
của hệ môi trường điều gây ra phản ứng dây truyền trong toàn bộ hệ thống.
Tính động: Hệ môi trường không phải là một hệ tĩnh mà luôn luôn thay
đổi trong cấu trúc của nó. Vì vậy, cân bằng động là đặc tính cơ bản của môi
trường với tư cách là một hệ thống. Đặc tính đó cần được tính đến trong hoạt
động tư duy và trong tổ chức thực hiện của con người.
Tính mở: Môi trường dù quy mô nhỏ đến thế nào cũng là một hệ thống
mở. Các dòng vật chất, năng lượng, thông tin luông luôn chảy trong không gian
và thời gian từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậy các vấn đề môi trường
9


mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài cần được giải quyết bằng nổ lực của
cộng đồng.
Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh: Trong hệ môi trường, có các phần tử
cơ cấu là các vật thể sống (con người, sinh vật) hoặc các sản phẩm của chúng.
Các phần tử này có khả năng tổ chức các hoạt động của mình và tự
điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi của bên ngoài.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường
Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức và định hướng để thực hiện
quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm
duy trì phát triển các quan hệ xã hội theo trật tự pháp luật do các cơ quan trong
hệ thống Chính phủ từ trương ương đến cơ sở tiến hành. Quản lý nhà nước mang

nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành sản phẩm, bước đầu điều chỉnh lại
quan hệ sản xuất cho phù hợp với đặc trưng nền kinh tế và lực lượng sản xuất…
Đối với môi trường, nền kinh tế phát triển cho phép áp dụng những biện pháp kỹ
thuật hiện đại như sử dụng các công nghệ, máy móc kỹ thuật xử lý rác thải, khí
bụi, tái tạo nguyên liệu…nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường.
Nhưng bên cạnh những tác động tích cực ấy còn có những tác động tiêu
cực của nền kinh tế thị trường đến môi trường. Trong kinh tế thị trường, lợi
nhuận được đặt lên hàng đầu vì vậy sản xuất công nghiệp phải đưa đến hiệu quả
và sản phẩm tối đa, xây dựng hay phát triển một cơ sở công nghiệp phải thu
được lợi lớn, vì vậy người ta không quan tâm hay ít quan tâm đến việc bỏ tiền ra
để đầu tư cho môi trường – một lĩnh vực mà họ không thể có được lợi nhuận
trực tiếp như sản xuất. Thực tế đã cho thấy; để có dược lợi nhuận, người nông
dân đã lạm dụng việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong sản xuất
nông nghiệp; vắt kiệt sức đất, đầu độc đất, nguồn nước, không cho đất có thời
gian ngừng nghỉ, tái tạo. Sản xuất công nghiệp thì khai thác tối đa nguồn nguyên
liệu, nhiên liệu thiên nhiên như khoáng sản, rừng, sinh vật…Trong sản xuất lại
càng không quan tâm đến việc xử lý các chất thải, cứ xả trực tiếp ra môi trường,
coi môi trường là bãi rác khổng lồ có sức chứa vô hạn. Khí thải, nước thải, rác
thải ở các khu công nghiệp tràn ngập các khu đô thị. Từ đó dẫn đến hậu quả là
đằng sau những sản lượng cao, năng xuất lớn, đằng sau những chỉ số tăng vọt
của phát triển kinh tế là một môi trường bị tàn phá nặng nề.
11


Phát triển kinh tế thị trường tạo nhiều cơ hội cho mọi thành phần kinh tế.
Trong công nghiệp trước kia chỉ có độc quyền của nhà nước thì nay các thành
phần kinh tế khác cũng được đầu tư và phát triển nhưng chủ yếu là công nghiệp
vừa và nhỏ. Vì số vốn cũng vừa và nhỏ nên việc đầu tư cho môi trường của các
cơ sở sản xuất công nghiệp đó, rác thải, nước thải được xả vô tội vạ vào môi
trường. Kinh tế thị trường làm cho chủ các cơ sở sản xuất lóa mắt vì lợi nhuận

hưởng đó có tác động không nhỏ đến Việt Nam như; bảo, lụt, lốc, tố, mưa lớn,
hạn lớn, sự nghèo đi của lớp ôzôn, sự nóng lên của khí hậu, sự dâng lên của mực
nước biển gây ngập lụt các vùng đất thấp ven biển và sự ô nhiễm môi trường
xuyên biên giới.
- Hiện trạng về công tác quản lý nhà nước về môi trường đang có những
vấn đề bất cấp cần đặc biệt lưu ý:
Một là: nhận thức về gìn giữ, bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển
bền vững ở nhiều ngành, nhiều cấp, các doanh nghiệp, của các cấp lãnh đạo và
các cộng đồng chưa theo kịp yêu cầu.
Hai là, hệ thống tổ chức quản lý vẫn còn đang trong quá trình hình thành,
hệ thống pháp lý sau khi có Luật về môi trường còn chưa đồng bộ, hoàn chỉnh.
Năng lực quy hoạch, đánh giá tác động môi trường có khoảng cách lớn so với
yêu cầu.
Ba là, vấn đề đầu tư cho môi trường còn quá ít so với thực tế cần phải
làm.
Bốn là, việc gia tăng dân số, việc di dân tự do diễn ra ồ ạt không kiểm
soát được, việc khai thác có tính hủy diệt các nguồn lợi sinh vật trên cạn và dưới
nước, việc phấn đấu thực hiện một số chỉ tiêu quan trọng liên quan đến môi
trường mà Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra như phủ xanh 40% diện tích rừng,
bảo đảm 80% dân số được cung cấp nước sạch, xử lý triệt để các cơ sở gây ô
nhiễm.
Chỉ thị số 36-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ những
thách thức lớn đối với môi trường Việt Nam đó là: rừng tiếp tục bị tàn phá nặng
nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi. Đất đai bị xói mòn và thoái hóa; đa dạng
trên đất liền và trên biển điều bị giảm. Nguồn nước mặt và nước ngầm đang
ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt, vùng biển đã bắt đầu bị ô nhiễm. Nhiều đô thị
và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn…Điều kiện
13



14


đạt được điều đó khi chỉ dựa vào chính mình. Chúng ta có thể cùng nhau xây
dựng sự hợp tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững”.
Năm 2002, tại Johannesburg Nam Phi, Hội nghị Thượng đỉnh của Trái đất
“phát triển bền vững” đã thông qua hai văn bản quan trọng là Tuyên bố chính trị
và Kế hoạch thực hiện. Tuyên bố chính trị tái khẳng định các nguyên tắc cơ bản
đã được tuyên bố Stockholm và Rio trước đây nêu lên, đồng thời khẳng định
nhiều quan điểm đã được thống nhất, kể cả các cam kết của các nước đối với
phát triển bền vững, khẳng định trách nhiệm chung của các quốc gia trong việc
phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở các cấp độ địa
phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Kế hoạch thực hiện đặt ra mục tiêu và thời gian biểu nhằm thực thi các
hành động cụ thể để giải quyết các vấn đề cơ bản của phát triển bền vững.
Tuyên bố chính trị Johannesburg đúc kết như sau: “Từ lục địa Châu Phi –
Cái nôi của nhân loại, chúng tôi long trọng cam kết với các dân tộc trên toàn thế
giới và các thế hệ thừa kế Trái đất này rằng, chúng tôi quyết tâm bảo đảm để ước
nguyện chung của chúng ta về phát triển bền vững sẽ được thực hiện”.
1.2. Quản lý nhà nước đối với môi trường
1.2.1. Mục tiêu của quản lý nhà nước về môi trường
Mục tiêu cơ bản của quản lý nhà nước về môi trường là hướng tới sự phát
triển bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
môi trường. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống pháp lý,
mục tiêu phát triển ưu tiên của từng địa phương mà mục tiêu
quản lý môi trường thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng.
Mục tiêu cơ bản của quản lý môi trường ở nước ta trong giai đoạn công
nghiệp háo và hiện đại hóa đất nước hiện nay là “ngăn ngừa ô nhiễm môi
trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy
thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị,

môi trường phải trả kinh phí cho công tác phục hồi chất lượng môi trường.

16


1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường
Luật Bảo vệ môi trường quy định nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi
trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn về môi trường.
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách về bảo vệ môi trường,
kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự
cố môi trường.
Xây dựng, quản lý các công trình về bảo vệ môi trường, các công trình
liên quan tới về bảo vệ môi trường.
Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện
trạng môi trường, dự báo môi trường.
Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cảu các dự án và các cơ
sở sản xuất, kinh doanh.
Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tồ cáo về bảo vệ môi trường; xử lý
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên
truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực
về bảo vệ môi trường.
Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực về bảo vệ môi trường.
Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường trong cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu

toàn. An ninh môi trường là một bộ phận của an ninh quốc gia; bảo vệ môi
trường là góp phần giữ vững và tăng cường an ninh quốc gia.
Sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối với
các hệ sinh thái. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ xã hội gắn với xoá đói, giảm
nghèo ở mỗi nước, với đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ xã hội và sự sống của nhân
loại.
18


Hiện nay trên thế giới tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường; sự biến
đổi khí hậu, sự cạn kiệt tài nguyên, mất cân bằng sinh thái, nước biển đang dâng
hằng ngày, hằng giờ tác động tới chất lượng sống của con người.
Vì vậy, quản lý nhà nước về môi trường ngày nay là vấn đề cấp bách với
mọi quốc gia, dân tộc.
1.3. Kinh nghiệm một số nước Châu Á trong quản lý nhà nước về môi
trường và bài học đối với thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1. Kinh nghiệm Singapore
Chính phủ Singapore coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ
chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội nên đã tiến hành nhiều biện
pháp kiểm soát và bảo vệ môi trường gồm: Ban hành các đạo luật liên quan đến
môi trường, thực thi nghiêm chỉnh các chế tài dân sự, hành chính và tăng cường
áp dụng các biện pháp hình sự đối với các vi phạm pháp luật về môi trường.
Singapore ban hành khá nhiều đạo luật về bảo vệ môi trường như: Đạo luật
môi trường và sức khỏe cộng đồng; Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường;
Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước; Đạo luật về xuất nhập khẩu, quá cảnh
chất thải nguy hiểm, đi kèm các đạo luật này có hàng chục văn bản hướng dẫn
thi hành. Song, vấn đề không phải là cứ ban hành nhiều đạo luật và nhiều văn
bản pháp luật quy định về môi trường thì môi trường sẽ được bảo vệ, mà quan
trọng hơn là nội dung của các văn bản pháp luật đó có tính khả thi hay không.
Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi hành trên thực tế, thì các biện pháp

phép người vi phạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore
và vụ việc sẽ tự kết thúc mà không phải đưa ra tòa.
Tạm giữ và tịch thu: Một số luật về môi trường quy định việc tạm giữ và
tịch thu các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ngoài ra, nếu
trường hợp thực phẩm không phù hợp với sức khỏe con người có thề bị tịch thu
và tiêu hủy theo Đạo luật về môi trường và sức khỏe cộng đồng và đạo luật mua
bán thực phẩm.
Lao động cải tạo bắt buộc: Biện pháp xử lý này tỏ ra rất hữu hiệu trong
việc ngăn chặn các vi phạm nhỏ. Ví dụ: trong một số trường hợp vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường mà hành vi vi phạm được đánh giá là nhỏ, người vi phạm
phải thực hiện công việc liên quan đến vệ sinh, làm sạch các vị trí nhất định mà
20


không được trả thù lao. Tòa án sẽ quyết định bắt buộc lao động cải tạo đối với
người vi phạm, buộc họ phải thực hiện công việc nói trên dưới sự giám sát của
nhân viên giám sát.
Biện pháp xử lý hành chính
Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình sự là quan trọng nhất trong việc
bảo vệ môi trường nhưng không vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và
dân sự, bởi nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì không thể bảo vệ môi trường một
cách có hiệu quả. Một số chế tài hành chính thường được sử dụng là kế hoạch sử
dụng đất, giấy phép và các mệnh lệnh thông báo.
Việc lập kế hoạch sử dụng đất trong kiểm soát môi trường cơ bản có tính
chất phòng ngừa. Các khu vực dành cho công nghiệp nặng, công nghiệp vừa và
công nghiệp làm sạch được phân ranh giới rõ ràng. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa
Bộ Môi trường và các cơ quan liên quan như Ủy ban tái phát triển đô thị và Cục
Kiểm soát xây dựng.
Việc cấp giấy phép và giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Bộ Môi
trường nhằm đảm bảo kiểm soát và quản lý chặt chẽ các hoạt động có khả năng

2.000SGD, nếu tái phạm phải nộp 100SGD cho mỗi ngày tái phạm tiếp theo
[36].
Biện pháp xử lý dân sự
Bên cạnh các chế tài về hình sự và hành chính, các đạo luật môi trường
Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự. Cụ thể như: Yêu cầu cá
nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí và các khoản phí
tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trường. Theo Điều 97
của Luật Bảo vệ môi trường của Singapore, Chính phủ có thể thu giữ lại của
ngưởi chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng
trong quá trình thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong vòng 14 ngày theo
quy định, nếu chi phí này chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa ra tòa.
1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Công tác bảo vệ môi trường của Trung Quốc hiện thu được nhiều thành
tựu do Trung Quốc đã thực hiện tổng hợp rất nhiều biện pháp và chính sách bảo
vệ môi trường.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status