BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌNH HÌNH CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 2003 ĐẾN NAY
SVTH
MSSV
LỚP
KHOÁ
NGÀNH
:
:
:
:
:
TRẦN THỊ THU HÀ
05124030
DH05QL
2005 – 2009
Quản Lý Đất Đai
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2009
Tập thể lớp Quản Lý Đất Đai khóa 31 luôn giúp đỡ, chia sẻ trong suốt quá trình
học tập, sinh hoạt tại trường.
Tuy nhiên, do kiến thức và năng lực còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo của quý thầy cô và sự đóng góp ý kiến của các
bạn để Luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Hà
TÓM TẮT
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thu Hà, khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản
trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đề tài: “Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn Huyện
Trảng Bom – tỉnh Đồng Nai từ năm 2003 đến nay”.
Giáo viên hướng dẫn: Ths.Dương Thị Tuyết Hà.
Huyện Trảng Bom được tách ra từ huyện Thống Nhất cũ theo Nghị định
97/2003/NĐ-CP, mặc dù là huyện mới thành lập nhưng được kế thừa trên nền tảng khá
vững chắc của huyện Thống Nhất cũ, chính vì vậy mà có nền kinh tế phát triển ổn định
và với tốc độ cao. Huyện đã và đang thu hút sự đầu tư trong và ngoài nước, là nơi tập
trung các khu công nghiệp và dịch vụ, các khu dân cư dần được hình thành, cùng với
chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện phát triển thành một huyện công
nghiệp nên đã thu hút được khá đông lượng dân cư từ nơi khác đến lập nghiệp và sinh
sống dẫn đến tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện diễn ra
sôi động và phức tạp gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
Trước thực trạng đó, đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu thực trạng
tình hình chuyển nhượng QSDĐ tại địa phương, từ những thực trạng đó rút ra những
nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chuyển nhượng, những mặt tích cực và hạn chế còn
tồn tại trong công tác chuyển nhượng QSDĐ tại địa phương. Từ đó đưa ra một số đề
xuất nhằm hoàn thiện công tác chuyển nhượng QSDĐ trên địa bàn huyện.
Qua quá trình nghiên cứu, bằng phương pháp thống kê, điều tra, phân tích, thu
I.3.1. Nội dung nghiên cứu......................................................................................... 18
I.3.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 18
I.3.3. Quy trình thực hiện đề tài ................................................................................. 19
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................... 20
II.1. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn ..................................................................... 20
II.1.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 .................................................................... 20
II.1.2. Biến động đất đai............................................................................................. 22
II.2. Sơ lược tình hình quản lý Nhà nước về đất đai ................................................... 23
II.2.1. Công tác lập QH – KHSDĐ............................................................................. 23
II.2.2. Công tác đo đạc và lập hồ sơ địa chính ............................................................ 23
II.2.3. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất............................................ 24
II.2.4. Công tác thanh tra giải quyết tranh chấp đất đai............................................... 26
II.2.5. Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất ..................................................... 26
II.3. Tình hình chuyển nhượng QSDĐ trên địa bàn huyện Trảng Bom
từ năm 2003 đến nay.................................................................................................. 27
II.3.1. Trình tự thủ tục chuyển nhượng QSDĐ ........................................................... 27
II.3.2. Nghĩa vụ tài chính khi thực hiện QSDĐ .......................................................... 31
II.3.3. Thực trạng chuyển nhượng QSDĐ trên địa bàn huyện Trảng Bom
từ năm 2003 đến nay................................................................................................. 33
II.3.4. Tình hình đời sống người dân sau chuyển nhượng và hiện trạng
sử dụng đất sau chuyển nhượng ................................................................................. 44
II.3.5. Nguyên nhân chuyển nhượng và hiệu quả kinh tế - xã hội
thông qua việc chuyển nhượng QSDĐ ...................................................................... 47
II.3.6. Những thuận lợi, khó khăn và một số đề xuất nhằm hoàn thiện
công tác chuyển nhượng QSDĐ................................................................................ 49
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 52
DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Bảng:
Sơ đồ 4: Trình tự thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ đối với
hộ gia đình, cá nhân theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP............................................... 27
Sơ đồ 5: Quy trình chuyển nhượng toàn bộ thửa đất đã có giấy chứng nhận
QSDĐ tại địa phương ................................................................................................ 28
Sơ đồ 6: Quy trình tách thửa theo quy định tại địa phương......................................... 29
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
CP
Chính Phủ
2
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
8
TN & MT
Tài nguyên và môi trường
9
VPĐKQSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
10
ĐKQSDĐ
Đăng ký quyền sử dụng đất
11
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
12
KCN
Khu công nghiệp
13
Đồng Nai là một tỉnh thu hút lớn sự đầu tư của nước ngoài, là nơi tập trung của
các khu công nghiệp nên thu hút nguồn lao động khá lớn, mà huyện Trảng Bom là một
trong những huyện phát triển của tỉnh đã và đang thu hút sự đầu tư của nước ngoài.
Nguồn lao động tập trung về đây nhiều, lượng dân cư từ các nơi khác đến lập nghiệp
nên nhu cầu về đất đai, nhà ở tăng dẫn đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
diễn ra sôi động và phức tạp hơn. Bên cạnh đó với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Huyện, chuyển dịch thành một huyện công nghiệp thì nhu cầu chuyển đổi nghề
nghiệp của người dân cũng tăng lên, là một trong những nguyên nhân làm tăng nhu
cầu chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng QSDĐ là một hình thức điều phối đất đai làm cho đất đai
được sử dụng hiệu quả hơn, tạo mối quan hệ đất đai mới mà chủ yếu là đối với người
có nhu cầu SDĐ thật sự, tạo mặt bằng chung về nhu cầu sử dụng đất đai. Bên cạnh đó
việc chuyển nhượng vẫn tồn tại nhiều điều bất cập như tạo nên những cơn sốt giá đất,
tình trạng đầu cơ tích lũy đất đai dẫn đến đất đai tập trung vào một số người sử dụng
không hiệu quả, muốn thu được lợi nhuận thông qua việc chuyển nhượng cho người
khác, một số người chủ yếu là làm nghề nông nhưng khi thấy số tiền thu được từ việc
chuyển nhượng lớn nên chuyển nhượng dần diện tích đất nông nghiệp dẫn đến không
còn đất để sản xuất, tự ý chuyển mục đích sử dụng. Chính những thực trạng trên tạo ra
những khó khăn trong việc Quản lý nhà nước về đất đai.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và được sự đồng ý của Khoa Quản lý đất đai
và Bất động sản, tôi thực hiện đề tài: “Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trên địa bàn Huyện Trảng Bom - Tỉnh Đồng Nai từ năm 2003 đến nay”.
Mục tiêu nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng chuyển nhượng QSDĐ trên địa bàn Huyện Trảng Bom,
qua thực trạng chuyển nhượng ở địa phương rút ra được những mặt tích cực và tiêu
cực cũng như những vấn đề còn tồn tại vướng mắc trong công tác quản lí đất đai. Từ
đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tại địa phương.
Trang 1
đó người SDĐ (gọi là bên chuyển QSDĐ) chuyển giao đất và QSDĐ cho người được
chuyển nhượng (gọi là bên nhận QSDĐ), còn người được nhận chuyển nhượng phải
trả tiền cho người chuyển nhượng. Vì vậy, có thể hiểu chuyển nhượng QSDĐ là
chuyển giao đất và quyền SDĐ của bên chuyển cho bên nhận khi sự thỏa thuận bằng
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa các bên có hiệu lực pháp lý và bên nhận chuyển
nhượng phải trả tiền cho bên chuyển.
Chuyển nhượng QSDĐ là một trong tám quyền cụ thể trong khái niệm chuyển
QSDĐ: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế, thế
chấp-bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ.
Chuyển nhượng QSDĐ là hình thức chuyển quyền khá đơn giản. Nếu trong
chuyển đổi QSDĐ đối tượng được chuyển giao là đổi đất lấy đất thì trong quan hệ
chuyển nhượng dưới sự thỏa thuận giữa hai bên chuyển và nhận chuyển nhượng là đổi
QSDĐ lấy tiền.
I.1.1.2. Sự cần thiết phải cho phép chuyển quyền sử dụng đất
Sự ra đời của Hiến pháp 1980 đã làm thay đổi về quan hệ sở hữu đất đai ở nước
ta. Hiến pháp quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản
lý đất đai theo quy hoạch chung, những tập thể, cá nhân đang sử dụng được tiếp tục sử
dụng và hướng kết quả lao động theo quy định của pháp luật”. Theo đó, Luật đất đai
1988 nghiêm cấm mua bán đất đai với mọi hình thức.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, đất đai trở thành hàng hoá, nó
cũng tuân theo sự vận động của cơ chế thị trường và giai đoạn này thị trường đất đai
lên cơn sốt mạnh. Chính vì thế, những quy định trong Luật đất đai 1988 không còn
phù hợp nữa.
Trong nền kinh tế thị trường, việc chuyển QSDĐ xảy ra rất nhiều nên việc cho
phép chuyển QSDĐ một mặt khắc phục các phiền hà trong khi làm các thủ tục thu hồi
đất, giao đất, góp phần cải cách các thủ tục hành chính. Mặt khác, tạo điều kiện tích tụ,
tập trung đất đai với quy mô thích hợp cho sản xuất hàng hoá. Vì vậy, Nhà nước yêu
cầu người SDĐ làm đúng các thủ tục, trình tự, tuân thủ các nghĩa vụ tài chính, thời hạn
và hạn mức giao đất. Nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình chuyển QSDĐ khi cần
thiết, khi người SDĐ hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, vi phạm nghiêm
đai của mình theo quy định của pháp luật, như vậy đất đai lúc bấy giờ cũng được coi
như các tài sản khác, chủ sở hữu đất đai có quyền định đoạt phần diện tích mà họ có,
do vậy việc mua bán đất đai trong thời kỳ này rất đơn giản, việc mua bán đất đai thực
hiện khi chủ sử dụng có bằng khoán đất, tức là có đăng bộ, sổ địa bộ, sổ bản đồ, số
hiệu khoản ở ty điền địa và được thể hiện dưới hình thức “tờ bán đất đoạn” hay “tờ bán
đứt trọn sổ”. Đối với trường hợp tự khai khẩn hoặc lấn chiếm đất rồi tự sang nhượng
cho người khác bằng giấy tay, khi làm thủ tục được ủy ban hành chánh sổ tự xác nhận
rồi chuyển đến ty điền địa cấp tỉnh lập thủ tục đóng bách phần và sang bộ.
Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi luật đất đai 1993 ra đời
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước ta cùng đẩy mạnh xây dựng đất
nước, khắc phục hậu quả sau chiến tranh. Để chấn chỉnh lại công tác quản lý Nhà nước
về đất đai, ngày 18/12/1980 Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1980 trong đó xác
định “Đất đai, núi rừng, sông hồ, hầm mỏ… đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều
19), theo đó thì quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất không được pháp luật thừa nhận
nữa.
Trong một thời gian dài từ khi ban hành Hiến pháp năm 1980, việc khai thác
quản lý đất đai vẫn còn yếu kém. Để cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980 và những yêu
cầu đổi mới, phát triển kinh tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã khẳng
định sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần đó ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII
đã thông qua Luật Đất đai đầu tiên ở nước ta gồm 6 chương và 57 điều. Đây là sự kiện
rất quan trọng cho việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về đất đai mà nền tảng là Hiến
pháp năm 1980.
Luật đất đai năm 1988 ra đời đã khắc phục được hàng loạt những vấn đề vướng
mắc mà trước đó chưa có văn bản pháp quy nào đề cập cụ thể. Trong đó, quan trọng
Trang 4
Ngành Quản Lý Đất Đai
QSDĐ. Đây là quy định mới mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng
được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân.
Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng đã có nhiều bất cập: không có các văn bản
hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục chuyển nhượng QSDĐ; thuế chuyển QSDĐ quá
cao ( thuế chuyển quyền là 10%, lệ phí trước bạ là 2%)…Chính vì vậy, để đáp ứng nhu
cầu cần thiết của người SDĐ cũng như nhu cầu chuyển nhượng QSDĐ, ngày
29/03/1999 Chính phủ ban hành Nghị định 17/1999/NĐ-CP về thủ tục chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị QSDĐ.
Nghị định 17/1999/NĐ-CP được quy định cụ thể rõ ràng hơn về trình tự, thủ tục
chuyển nhượng so với LĐĐ 1993 nhưng việc phân công trách nhiệm cho từng cơ quan
thẩm quyền chưa được quy định. Vì vậy, sau khi đã thống nhất với Bộ Thư Pháp, Bộ
Tài Chính, Ngân Hàng Nông Nghiệp và Văn Phòng Chính Phủ, ngày 18/09/1999 Tổng
Cục Địa Chính đã ban hành Thông tư 1417/TT-TCĐC hướng dẫn thi hành Nghị định
17/1999/NĐ-CP.
Trang 5
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH:Trần Thị Thu Hà
Song trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc. Ngày 01/11/2001,
Chính phủ ban hành Nghị định 79/2001/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị
định 17/1999/NĐ/CP.
So với NĐ 17/1999/NĐ-CP, NĐ 79/2001/NĐ-CP có nhiều sửa đổi, bổ sung làm
rõ. Tuy nhiên, trong nội dung chuyển nhượng QSDĐ không có gì thay đổi đáng kể đối
với các đối tượng hộ gia đình, cá nhân chỉ có một số sửa đổi bổ sung về thành phần hồ
sơ chuyển nhượng, trình tự thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ đối với các tổ chức
kinh tế.
cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã
được trả tiền còn lại ít nhất là 05 năm thì được chuyển nhượng QSDĐ thuê.
Trang 6
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH:Trần Thị Thu Hà
Điều kiện nhận chuyển nhượng QSDĐ:
- Có nhu cầu sử dụng đất;
- Chưa có đất hoăc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về
đất đai và nếu sau khi nhận QSDĐ thì đất sử dụng không vượt quá hạn mức đối với
từng loại đất.
Tại Điều 9, chương III của Nghị định 17/1999/NĐ-CP quy định chi tiết hơn đối
với việc nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp: trong trường hợp chuyển nhượng đất
lúa thì người nhận chuyển nhượng phải là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông
nghiệp.
Đối với hộ gia đình chuyển nhượng QSDĐ vượt hạn mức thì diện tích vượt phải
chuyển sang thuê đất theo quy định tại điểm 1, khoản 5, điều 1 của Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993.
Hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân bao gồm:
- Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được ban hành theo Thông tư 1883/2001/TTTCĐC ngày 12/11/2001;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Sơ đồ thửa đất (trích đo trên thực địa hoặc trích lục bản đồ thửa đất);
- Chứng từ nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất (trong trường hợp được giao
đất hoặc được thuê đất).
Trình tự thực hiện chuyển nhượng QSDĐ:
UBND phường,
SVTH:Trần Thị Thu Hà
Giải thích:
(1) Hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ nộp tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND xã, phường,
thị trấn thẩm tra hồ sơ, xác nhận vào mục 1 phần II (phần ghi của cơ quan Nhà nước)
của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho những trường hợp đủ điều kiện chuyển
nhượng và gửi hồ sơ cho Phòng Địa chính quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
nếu không được chuyển nhượng thì trả hồ sơ lại và thông báo cho đương sự biết lý do.
(2) Trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Địa chính
xem xét hồ sơ, ghi nội dung thẩm tra vào mục 2 phần II (phần ghi của cơ quan Nhà
nước) của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và trình UBND quận, huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh.
(3) Trong thời hạn ba (03) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ do Phòng Địa chính
trình, UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoàn thành việc xác nhận
chuyển nhượng vào mục 2 phần II của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ.
(4) Sau khi được UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác nhận được
chuyển nhượng, Phòng Địa chính thông báo cho bên chuyển nhượng nộp thuế chuyển
QSDĐ và bên nhận chuyển nhượng nộp lệ phí trước theo quy định pháp luật.
(5) Sau khi các bên nộp xong thuế chuyển QSDĐ và lệ phí trước bạ, Phòng Địa chính
vào sổ theo dõi biến động đất đai và trả hồ sơ cho các bên. Bên nhận chuyển nhượng
được cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai.
Theo Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP
Các nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân thủ các
nguyên tắc sau:
+ Có QSDĐ hợp pháp mới được chuyển nhượng.
+ Pháp luật không thừa nhận việc dùng đất lấn chiếm, đất không thuộc quyền
sử dụng của mình, đất không có giấy tờ hợp lệ để chuyển nhượng. Người có hành vi,
- Đất không có tranh chấp;
- QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng QSDĐ có điều kiện:
Hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất lần đầu đối với đất nông
nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn thuế tiền sử dụng đất mà đã
chuyển nhượng và không còn đất để sản xuất, không còn đất để ở, nếu được Nhà nước
giao đất lần thứ hai đối với đất nông nghiệp không thu tiền SDĐ, đất ở được miễn tiền
SDĐ thì không được chuyển nhượng, tặng cho QSDĐ trong thời hạn mười năm kể từ
ngày được giao đất.
Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân
khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi
phân khu đó thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết
hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân
sinh sống trong phân khu đó.
Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong
khu vực rừng phòng hộ thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất
sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng
phòng hộ đó.
Trường hợp không được chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng
đất:
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng,
tặng cho quyền sử dụng đất.
Tổ chức kinh tế không được nhận CNQSDĐ chuyên trồng lúa nước, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển
mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.
Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước.
Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử
Cơ quan
thuế
Hồ sơ đi
Hồ sơ trả
Sơ đồ 2: Trình tự thực hiện việc CNQSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân theo Nghị
định 181/2004/NĐ-CP.
Giải thích:
(1) Hồ sơ CNQSDĐ nộp tại VPĐK (Văn phòng đăng ký) QSDĐ quận, huyện,
thị xã. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại UBND xã
nơi có đất để chuyển cho VPĐK QSDĐ.
Hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ gồm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và GCNQSDĐ
hoặc một trong các loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1,2,5 điều 50 của luật đất
đai (nếu có).
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phải có công chứng của Nhà Nước; trường hợp
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của hộ gia đình cá nhân thì được lựa chọn hình thức
chứng nhận của công chứng Nhà Nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị
trấn nơi có đất.
(2) Trong thời hạn không quá bốn (04) ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ,
VPĐK QSDĐ có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho Phòng Tài nguyên và Môi
trường để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với trường hợp cấp mới hoặc chỉnh lý
GCNQSDĐ đã cấp.
(3) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo nghĩa vụ tài chính, VPĐK hoặc UBND xã có trách nhiệm thông báo cho các
bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính.
(4) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài
chính, các bên tham gia chuyển nhượng nhận GCNQSDĐ tại nơi đã nộp hồ sơ.
So sánh về quy định chuyển nhượng QSDĐ theo Nghị định 17/1999/NĐ-CP,
Nghị định 79/2001/NĐ-CP với Nghị định 181/2004/NĐ- CP:
Hồ sơ chuyển nhượng lập tại UBND
xã, sau khi chứng thực UBND xã có trách
nhiệm chuyển cho VPĐKQSDĐ
Văn phòng UBND huyện là cơ quan
trung gian giữa chủ sử dụng đất và cơ
quan địa chính, UBND huyện.
VPĐKQSDĐ có thể giao dịch trực tiếp
với chủ sử dụng đất hoặc thông qua
UBND xã, phường.
Chủ sử dụng đất phải mất 6 lần đi đến
các cơ quan Nhà nước.
Chủ sử dụng đất chỉ mất 4 lần đến cơ
quan Nhà nước.
Cơ quan địa chính phải trình ký lên
UBND huyện 2 lần.
Chỉ trình ký UBND huyện 1 lần (nếu
chuyển nhượng không hết phải viết giấy
mới)
I.1.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và sửa đổi bổ
sung năm 2001.
Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 có
Do công tác quản lý sử dụng đất chưa chặt chẽ dẫn đến vi phạm pháp luật về
đất đai, bộ máy quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót như chuyển đổi, chuyển nhượng,
chuyển mục đích trái phép. Vì vậy, cần phải có sự quản lí chặt chẽ hơn trong công tác
chuyển nhượng để việc chuyển nhượng theo đúng pháp luật, không có tình trạng
chuyển nhượng tràn lan, chuyển nhượng chỉ qua giấy tay,…để tạo điều kiện thuận lợi
cho việc quản lý nhà nước về đất đai và nắm chắc được quỹ đất.
I.2. Khát quát địa bàn nghiên cứu
I.2.1. Điều kiện tự nhiên
I.2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Trảng Bom được tách ra từ huyện Thống Nhất theo Nghị định số
97/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 8 năm 2003 của Chính Phủ về việc tái thiết lập thị xã
Long Khánh và thành lập các phường, xã trực thuộc, thành lập mới 2 huyện Trảng
Bom và huyện Cẩm Mỹ. Huyện Trảng Bom được thiết lập là trung tâm và là hạt nhân
phát triển kinh tế khu vực phía Đông tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Tứ cận:
Phía Bắc giáp: huyện Vĩnh Cửu
Phía Đông giáp: huyện Thống Nhất
Phía Nam giáp: huyện Long Thành
Phía Tây giáp: Thành phố Biên Hoà.
Tổng diện tích tự nhiên của Huyện là 32.369,91 ha, huyện có 17 đơn vị hành
chính.
Vị trí Huyện Trảng Bom có lợi thế rất lớn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, gần Thành Phố Biên Hoà và Thành phố Hồ Chí Minh là những trung tâm
kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật lớn của vùng Đông Nam Bộ và của cả nước, là
những nơi có dân cư đông đúc, với nhiều khu công nghiệp tập trung lớn nhất toàn
quốc, gần sân bay, có điều kịên phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật: điện, nước, giao
thông,… có sức thu hút từ bên ngoài và có điều kiện phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh
vực: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
Trang 12
+ Nhóm đất Gley: nhóm đất này có diện tích nhỏ (614,13 ha), chỉ chiếm 1,99%
diện tích toàn huyện.
+ Nhóm đất tầng mỏng: diện tích 61,5 ha, chiếm 0,19% diện tích tự nhiên. Tầng
đất hữu hiệu mỏng, trơ sỏi đá trên bề mặt.
+ Nhóm đất đen: diện tích lớn nhất Huyện (14.332,76 ha), chiếm 44,28% diện
tích tự nhiên.
+ Nhóm đất xám: diện tích 13.701,57 ha, chiếm 42,33% diện tích tự nhiên.
+ Nhóm đất đỏ: diện tích 3.628,51 ha, chiếm 11,21% diện tích tự nhiên.
Tài nguyên nước
Toàn huyện hiện có 4 hồ chứa lớn, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục
vụ cho mục đích tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản của cả huyện. Tuy nhiên, mạng lưới
sông suối trong phạm vi huyện ngắn và dốc, nghèo nước trong mùa khô.
Nước ngầm trên địa bàn huyện có trữ lượng tương đối khá và chất lượng nước
tốt. Nước ngầm tầm sâu (>100m) có lưu lượng khá lớn. Hiện nay đa số người dân
trong huyện đang khai thác nguồn nước ngầm để phục vụ cho sinh hoạt.
Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật của huyện khá phong phú mang nhiều đặc điểm sinh thái
đồng bằng với những chủng loại chính sau:
Trang 13
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH:Trần Thị Thu Hà
- Thực vật hoang dã bao gồm các cây thân gỗ, các cây thân thảo, cỏ tranh, cỏ
năng…Thực vật trồng bao gồm các loại cây lâu năm như: dừa, xoài, nhãn…và các loại
cây trồng hằng năm như: lúa, bắp, đậu phộng…
- Động vật hoang dã chủ yếu là các loài gặm nhắm như cáo, chồn, sóc, chuột, các
loài cá tự nhiên. Động vật nuôi bao gồm heo, trâu, bò, gà vịt…
Biểu đồ 1: Cơ cấu GDP theo nhóm ngành của Huyện Trảng Bom năm 2008
Trang 14
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH:Trần Thị Thu Hà
a. Ngành Nông – Lâm - Thủy sản.
- Giá trị sản xuất Nông – Lâm nghiệp – Thuỷ sản ước thực hiện 698,795 tỷ đồng,
tăng 7% so năm 2006. Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp ước thực hiện 661,459 tỷ
đồng tăng 6,9 % so năm 2006; lâm nghiệp ước thực hiện 8,826 tỷ tăng 1,9% so năm
2006; ngư nghiệp ước thực hiện 28,51 tỷ đồng, tăng 9,8% so năm 2006.
- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là: 19.178 ha, đạt 100,2% kế hoạch,
bằng 98,7 % so cùng kỳ. Trong đó một số cây trồng chính như: cây lúa 5.892 ha đạt
106,5% KH; cây bắp 7.215 ha đạt 94,4% KH; Cây Mỳ: 2.431 ha đạt 107,7% KH, Rau
các loại: 1.110 ha đạt 100,4% KH. Ước tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 59.390
tấn, bằng 99,7% so năm 2006.
b. Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
huyện ước thực hiện là 6.084,157 tỷ đồng, tăng 18,7% so kế hoạch năm, tăng 37,3% so
năm 2006 (Trong đó: Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 37,7%, công nghiệp
địa phương tăng 29,8%.
- Tình hình đầu tư nước ngoài và phát triển các khu công nghiệp: Tính đến ngày
30/9/2007 đã có thêm 11 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký triển khai với số vốn
đăng ký là 29,95 triệu USD, nâng tổng số dự án đã đăng ký trên địa bàn là 154 dự án
đầu tư với tổng số vốn đăng ký hiện nay lên đến 1.043.311.445 USD, chiếm tỷ trọng
11,09% tổng số vốn đăng ký toàn tỉnh và thu hút trên 46.400 lao động. Trong số dự án
đã đăng ký, đến nay đã có 126 dự án đã đi vào hoạt động, chiếm tỷ lệ 81,82% so tổng
Dân số
trung bình
( người)
Mật độ
dân số
(người/km2)
Đơn vị hành chính
Số ấp
Toàn huyện
71
323,70
198.510
613,26
1. TT. Trảng Bom
5
9,31
15.615
304,66
5. Xã Đồi 61
4
25,71
758
294,81
6. Xã An Viễn
6
22,12
4.575
206,82
7. Xã Bàu Hàm
4
22,48
10.617
921,32
11. Xã Trung Hòa
2
15,11
10.793
714,45
12. Xã Tây Hòa
3
14,81
1.079
728,76
13. Xã Quảng Tiến
4
7,10
11.061
904,27
17.Xã Hố Nai 3
5
19,02
20.848
1.096,37
(Nguồn: Phòng Thống Kê Huyện Trảng Bom )
Lao động, việc làm
Do huyện Trảng Bom có vị trí thuận lợi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của
cả nước, nguồn lao động dồi dào. Trong những năm qua số lao động của huyện làm
việc trong khu kinh tế ngày một tăng cao, tính đến năm 2007 toàn huyện Trảng Bom
có 131.420 lao động chiếm 67,83% dân số toàn huyện.
Công tác dạy nghề và giải quyết việc làm được chú trọng và phát triển, cơ sở
vật chất dạy nghề được tăng cường, bổ sung các thiết bị máy móc, mở rộng các ngành
nghề đào tạo. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết
việc làm như: chương trình 120/CP của Chính Phủ, chương trình mục tiêu quốc gia
xóa đói giảm nghèo. Nhờ thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm nên tỷ lệ
lao động thất nghiệp đã giảm.
Trang 16