Nghiên cứu nguyên nhân, yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại khoa nhi-bệnh viện Bạch Mai (FULL TEXT) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN THÀNH NAM

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, YẾU TỐ NGUY
CƠ VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SUY HÔ HẤP Ở TRẺ
SƠ SINH TẠI KHOA NHI-BỆNH VIỆN BẠCH MAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN THÀNH NAM

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, YẾU TỐ NGUY
CƠ VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SUY HÔ HẤP Ở TRẺ
SƠ SINH TẠI KHOA NHI-BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Chuyên ngành : NỘI KHOA
Mã số : 972 01 07



NCS. Nguyễn Thành Nam


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, hình

NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT


TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

CPAP
Fi02
GBS
HFNO
HFO
HMD
HVS
IMV
MAP
MAS
MSAF
NĐTN
OI
PaO2
PaCO2

Phần viết đầy đủ
Bệnh nhi
Congenital Cystic Adenomatoid Malformation
Cyanotic congenital heart disease
Congenital diaphragmatic hernia
Cận lâm sàng
Conventional mechanical ventilation
Continuous positive airway pressure
Fraction of inspired oxygen
Group B Streptococcus
High flow nasal oxygen
High frequency oscillatory
Hyaline Membrane Disease
High vaginal swab

VI

ventilation
Percent oxygen saturation
Tiền sản giật
Trẻ sơ sinh
Transient tachypnea of the newborn
Ventilation index


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

1.1

Bảng điểm Apgar

17

1.2

Bảng điểm Silverman

17


3.5

Đẻ non và nguy cơ suy hô hấp

67


3.6

Cân nặng thấp và nguy cơ suy hô hấp

67

3.7

Liên quan thai nhi nguy cơ cao và nguy cơ suy hô hấp

68

3.8

Liên quan mổ đẻ chuyển dạ và nguy cơ suy hô hấp

68

3.9

Liên quan đai tháo đường thai lỳ, bệnh tim mạch trong thời
kỳ mang thai và nguy cơ suy hô hấp



Bảng

Tên bảng

Trang

3.15

Phân tích mô hình logistic một số yếu tố liên quan: đẻ non
(

3.23

Phân tích mô hình logistic một số yếu tố ảnh hưởng kết quả
điều trị: đẻ non (
Tên hình

Trang

2.1

Một số hình ảnh Xquang phổi

41

2.2

Viêm phổi sơ sinh

42

2.3

Xuất huyết phổi nặng

42

2.4

Hệ thống HFNO

46

2.5



Hình minh họa bệnh nhi chẩn đoán bệnh màng trong

63

3.2

Hình minh họa bệnh nhi chẩn đoán ngạt

63

3.3

Xquang bệnh cơn khó thở nhanh thoáng qua

64

3.4

Xquang bệnh viêm phổi

64

3.5

Xquang suy hô hấp do đẻ non

64

3.6

3.4

Kết quả điều trị suy hô hấp

74

3.5

Các nguyên nhân thở máy xấm nhập thường gặp

76

3.6

Đường cong ROC của Troponin T và nguy cơ thở máy

81

3.7

Đường cong ROC chỉ số OI làm lần đầu và nguy cơ tử
vong

83

3.8

Đường cong ROC giá trị VI đánh giá lần 2 và nguy cơ tử
vong


hô hấp của trẻ sơ sinh nhập viện tăng từ 29,7% ở năm 1974 đến 52,8% năm
2004 [1]. Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010, trong các nguyên
nhân tử vong ở trẻ < 5 tuổi tại Việt nam, đẻ non chiếm 27%, ngạt lúc sinh
chiếm 10% [2], thống kê năm 2012 tỷ lệ tử vong do đẻ non là 18%, ngạt
chiếm 10% [3]. Do vậy, đây là những vấn đề cần tìm hiểu thêm để đưa ra
những yếu tố tiên đoán, đánh giá trẻ sau sinh nhằm cải thiện tỷ lệ mắc bệnh.
Suy hô hấp do nhiều nguyên nhân như bệnh màng trong, hội chứng hít
phân su, viêm phổi, đẻ non, tim bẩm sinh, cơn khó thở nhanh thoáng qua, ngạt
…[4],[5],[6],[7]. Theo Tăng Chí Thượng, trong 6 tháng cuối năm 2007 có
91,2% trẻ sơ sinh bị suy hô hấp vào khoa sơ sinh (ngạt, bệnh màng trong,
viêm phổi...), trong đó gần 1/3 trường hợp là đẻ non [8]. Nguyễn Thị Xuân
Hương và cộng sự theo dõi từ 2008-2010 tại bệnh viện Trung ương Thái
nguyên thấy tỷ lệ ngạt, đẻ non yếu, bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh nhập viện
chiếm 33,1% [9]. Xác định nguyên nhân suy hô hấp ở trẻ sơ sinh sau sinh
thường gặp tại một cơ sở y tế là một trong những yếu tố góp phần định hướng
mô hình bệnh lý tại cơ sở đó để có được kế hoạch theo dõi và điều trị kịp thời
mục đích giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ biến chứng của suy hô hấp ở trẻ sau
sinh.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ bị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh sau sinh
nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ ở nước ta như: tiền sử có thai lần trước
cũng suy hô hấp sơ sinh; bà mẹ có bệnh lý nội khoa: đái tháo đường thai
nghén, bệnh tim khi mang thai...; mổ đẻ chủ động chưa có chuyển dạ; những
yếu tố từ thai nhi: nguy cơ đẻ non, suy thai…[5],[10],[11],[12] đều tác động


12

đến bệnh lý suy hô hấp ở trẻ sơ sinh sau sinh, tuy nhiên yếu tố nguy cơ cụ thể
cần phải tìm hiểu xác định. Phối hợp hồi sức sau sinh cũng là một yếu tố ảnh
hưởng bệnh lý suy hô hấp sau sinh và cần có số liệu đánh giá hiệu quả của


13

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ CHẨN ĐOÁN HÔ HẤP TRẺ
1.1.1. Một số đặc điểm sinh lý cơ quan hô hấp trẻ sơ sinh
1.1.1.1.
Những thay đổi sinh lý quan trọng ở phổi

SƠ SINH

Đối với trẻ mới sinh, một hệ quả tất yếu xảy ra ngay sau khi bắt đầu sống
trong điều kiện mới ở ngoài bụng mẹ là mất liên lạc với cơ thể mẹ qua rau
thai và mất trao đổi chất qua rau. Như vậy đối với trẻ vừa mới đẻ, điều quan
trọng nhất là phải thích nghi được với đời sống mới ở ngoài bụng mẹ và bắt
đầu hô hấp bằng phổi.
Ngay sau sinh, trẻ sơ sinh không còn được liên kết với rau thai nữa và sẽ
phụ thuộc vào phổi như là nguồn cung cấp oxy duy nhất. Do đó chỉ trong vài
giây, dịch trong phổi phải được hấp thu khỏi phế nang, hai phổi phải được
chứa đầy khí trời (oxy, CO2 …), các mạch phổi phải dãn để tăng dòng máu
đến phế nang giúp oxy được hấp thu và vận chuyển đi khắp cơ thể [13], [19].
Nhịp thở đầu tiên ngay sau sinh của trẻ đưa khí trời vào phế nang và đẩy
dịch phế nang ra ngoài. Nồng độ catecholamine, vasopressin tăng lên trong
máu. Prolactin và glucocorticoid đảm bảo phổi đào thải hết dịch trong lòng
phế nang, thể tích cặn được hình thành, điều đó giúp việc trao đổi khí dễ dàng
và tạo cơ sở cho những nhịp thở tiếp theo [20], [21]. Tuy nhiên nếu trẻ ngừng
thở hoặc vận động cơ hô hấp yếu sau sinh sẽ khó khăn trong việc đẩy dịch ra
khỏi phế nang. Trường hợp này hay gặp ở những trẻ ngạt, sinh non, sang chấn
trước và trong quá trình sinh, đẻ nhanh, mổ đẻ chưa có chuyển dạ hoặc trẻ có

Muốn tạo dung tích cặn chức năng phải có chất surfactant. Surfactant
được tổng hợp từ tuần thứ 24 trở đi được dự trữ dưới dạng thể vùi các lá
mỏng và càng về giai đoạn cuối thai kỳ lượng surfactant càng được sản xuất
nhiều, thành phần của chúng có nhiều dipalmitoyl phosphatidyl choline và
phosphatidyl glycerol. Chất này có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt, tăng
độ giãn và thể tích phổi, hình thành dung tích cặn chức năng, cân bằng luồng
khí tới các phế nang và giảm công năng hô hấp. Hơn 90% surfactant sau khi
sử dụng sẽ được tái tổ hợp trong vòng 10 giờ, đây chính là cơ sở để duy trì
lượng surfactant trên bề mặt phế nang, đảm bảo phế nang không bị xẹp và
cũng là cơ sở để điều trị sớm thiếu hụt surfactant ngay sau sinh.. Những yếu
tố ảnh hưởng đến giảm sản xuất surfactant là đẻ non, thiếu oxy chu sinh, vỡ ối


15

kéo dài, viêm ối màng ối, mẹ bị đái tháo đường phụ thuộc insulin, trẻ trai,
thuốc cao huyết áp beta-adrenergic, thiếu hocmon tuyến giáp (T4) …
Glucocorticoid có vai trò tăng cường sản xuất surfactant trong thời kỳ bào
thai [21], [22], đây chính là cơ sở của việc sử dụng Betamethasone,
Dexamethasone cho những bà mẹ có nguy cơ sinh non từ sau tuần 24 giúp cải
thiện chức năng phổi ở trẻ sinh non.


Hoạt động tuần hoàn
Khi trẻ ra đời, lượng máu qua phổi gấp 10 lần thời kỳ bào thai do sau khi

cắt rốn áp lực máu trong tĩnh mạch chủ dưới và nhĩ phải giảm làm đóng lỗ
Botal. Ống Botal dần không hoạt động nên lượng máu lên phổi tăng. Để bảo
vệ tổ chức phổi, sức cản các mao mạch phổi giảm, hình thành áp lực âm trong
lồng ngực. Do vậy áp lực ở động mạch phổi giảm hơn so với động mạch chủ,


cân nặng ít nhất là 500g
+ Phân loại trẻ non tháng [23], [25]:
- Trẻ 24 - < 28 tuần: Trẻ cực non
- Trẻ 28 - < 32 tuần: Trẻ rất non
- Trẻ 32 - < 37 tuần: Non tháng
- Trẻ 37 – 42 tuần: đủ tháng
- Trẻ > 42 tuần: già tháng
+ Phân loại trẻ nhẹ cân [23], [26]:
- Cân nặng thấp: cân nặng 1.500g - < 2.500 g
- Cân nặng rất thấp: cân nặng 1.000g - < 1.500g
- Cân nặng quá thấp: cân nặng < 1.000g
 Đặc điểm sinh lý-bệnh lý trẻ sơ sinh non tháng
Sơ sinh đẻ non, các hệ cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện, là những
đối tượng rất dễ mắc các bệnh và biến chứng nguy hiểm với tỷ lệ tử vong rất
cao như là: suy hô hấp, loạn sản phế quản phổi, tổn thương ruột, chức năng hệ
thống miễn dịch chưa hoàn thiện, các rối loạn huyết động của hệ thống tim
mạch. Các biến chứng này đều bắt nguồn từ các cơ quan bộ phận chưa hoàn
chỉnh của sơ sinh, do đó tỷ lệ tử vong sơ sinh rất cao trên những trường hợp
đẻ non, kể cả tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên của cuộc đời.
Sau khi sinh trẻ chuyển từ cuộc sống trong môi trường nước sang môi
trường cạn. Nhịp thở đầu tiên bằng tiếng khóc giúp bắt đầu hoạt động hô hấp
giúp trẻ bắt đầu làm quen với cuộc sống ngoài tử cung. Tuy nhiên hô hấp của
trẻ bị ảnh hưởng bởi thiếu oxy máu, toan hóa, hạ nhiệt độ - là những thành
phần kích thích hoạt động hô hấp [20].
Trẻ đẻ non thường thở không đều, có cơn ngừng thở dài hơn trẻ đủ
tháng. Hiện tượng rối loạn nhịp thở này có thể kéo dài tới 2-3 tuần sau đẻ
hoặc lâu hơn tùy tuổi thai.
Trẻ đẻ non dễ bị suy hô hấp hơn trẻ đủ tháng do phổi chưa trưởng thành,
phế nang khó giãn nở, cách xa các mao mạch nên sự trao đổi oxy khó khăn

Suy hô hấp sơ sinh được xác định bởi một hay các dấu hiệu thở gắng sức
như là thở nhanh, phập phồng cánh mũi, co rút lồng ngực, thở rên [7].
Suy hô hấp do nhiều nguyên nhân, tại phổi hoặc ngoài phổi, rất hay gặp
ở trẻ sơ sinh trong tuần lễ đầu, biểu hiện sự thích nghi chưa hoàn toàn của
phổi, tuần hoàn, thần kinh và chuyển hóa khi trẻ làm quen với môi trường bên


18

ngoài tử cung. Suy hô hấp là hội chứng thường gặp nhất, là nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh, đòi hỏi cấp cứu nhanh chóng và xử trí đúng.
1.1.2.2.

Nguyên nhân của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Do tắc nghẽn đường hô hấp trên


Tắc lỗ mũi sau: Có thể gây tắc một bên hoặc cả hai bên mũi, nguyên nhân
có thể do xương phát triển lấp lỗ mũi sau hoặc có lớp màng ngăn. Tỷ lệ
không nhiều, theo Campisi và cộng sự (2015) chỉ có 1 trẻ mắc dị tật này
trong số 5000-8000 trẻ sinh ra và dị tật này thường đi kèm với các dị tật

khác: khoảng 30% có hội chứng CHARGE kèm theo teo lỗ mũi sau [29].
 Thông thực quản – khí quản: Bất thường xảy ra bắt đầu từ tuần thứ tư của
thai kỳ. Do có sự phân chia không hoàn thiện của túi thừa khí thực quản từ
ruột trước. Thường kết hợp với các dị tật bẩm sinh khác như dị tật tim, cột
sống, hậu môn trực tràng…
 Hội chứng Pierre-Robin : lưỡi không có phanh nên dễ bị tụt ra sau ở tư thế
nằm ngửa gây tắc đường hô hấp trên

trong nước ối, chủ yếu ở trẻ đủ tháng, trong số đó có tới 5% bị hội chứng
hít phân su và một nửa số bệnh nhân này cần thông khí nhân tạo hỗ trợ,
+

tỷ lệ tử vong lên tới 6,6% [4], [34],[35],[36].
Hội chứng chậm hấp thu dịch phổi (Cơn khó thở nhanh thoáng qua): Hay
gặp ở trẻ đủ tháng hoặc gần đủ tháng, đặc biệt hay gặp ở trẻ gần đủ tháng
được sinh mổ chủ động chưa có chuyển dạ [4]. Thông thường bệnh tự
hết trong vòng 48 giờ, tuy nhiên cũng có khoảng 10% trẻ cần phải thở

+

oxy trong vài ngày sau sinh [6].
Bệnh màng trong: thường gặp ở trẻ đẻ non đặc biệt trẻ < 28 tuần tỷ lệ
mắc bệnh từ 70% đến trên 80% và giảm dần theo theo tuổi thai đến 36
tuần tỷ lệ mắc bệnh chỉ là 5% [37]. Sử dụng corticoid trước sinh cho
những thai phụ có nguy cơ sinh non vào tuần từ 24 đến 34 có tác dụng
trong vòng 7 ngày từ khi dùng thuốc. Sử dụng corticoid có khả năng
giảm nguy cơ bệnh màng trong, giảm xuất huyết não, viêm ruột hoại tử

+

và tỷ lệ tử vong [38].
Xuất huyết phổi: Hay gặp ở trẻ đẻ non, cân nặng < 1.500g và thường
kèm theo còn ống động mạch (PDA), tỷ lệ trẻ
thoát vị hoành và bệnh màng trong. Chiến lược thông khí phù hợp, khí NO
và điều trị surfactant có thể cải thiện kết quả điều trị và hạn chế điều trị
ECMO. Tỷ lệ mắc bệnh tăng áp động mạch phổi khoảng 0,2% trẻ sinh ra
sống, chiếm 10% số trẻ suy hô hấp và tỷ lệ tử vong lên tới 10% số trẻ bị
tăng áp động mạch phổi [45],[46],[47].
 Còn ống động mạch: Bệnh lý thường gặp, thông thường ống động mạch sẽ
đóng trong vòng 3 ngày. Khi còn tồn tại ống động mạch sau 72 giờ được
coi là bệnh lý, triệu chứng thường có trong 50-70% trường hợp trẻ < 28
tuần tuổi thai và/hoặc cân nặng lúc sinh < 1.000g. Tỷ lệ tồn tại ống động
mạch từ 15-37% ở trẻ cân nặng < 1.750g và chỉ có khoảng 0,2% ở trẻ đủ


21

tháng. Tỷ lệ tử vong hoặc di chứng lên tới 30%. Điều trị nội khoa bằng
Ibuprofen hoặc Indomethacine với hiệu quả tương tự nhau [48],[49],[50],
[51]. Gần đây có ý kiến sử dụng uống Acetaminophen thay thế cho uống
Ibuprofen trong điều trị đóng ống động mạch đã có kết quả khả quan, mức
độ tác dụng và độ an toàn như nhau ở cả hai nhóm [52]. Tuy nhiên còn cần
thêm nghiên cứu để khẳng định ý nghĩa trong lâm sàng.
Bệnh của hệ thần kinh


Xuất huyết não – màng não: ít gặp, yếu tố nguy cơ gây bệnh thường do rối
loạn đông máu của người mẹ, sang chấn trong cuộc đẻ, rối loạn chức năng

đông máu của trẻ (giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu…)
 Viêm não – màng não: Thường đi kèm với bệnh lý nhiễm khuẩn huyết,
nhiễm trùng bẩm sinh từ trong buồng tử cung.
 Mẹ bị gây mê, dùng thuốc an thần: gây ức chế trung tâm hô hấp của trẻ sau

Thoát vị cơ hoành: Hay gặp thoát vị hoành bẩm sinh sau bên, thường kết
hợp với thiểu sản phổi nặng, ảnh hưởng chức năng hô hấp trẻ sau sinh, tỷ lệ
tử vong cao. Thoát vị hoành phía trước ít gặp, hay gặp ở bên phải, triệu

chứng thường nhẹ [55].
 Thiếu máu: bệnh lý hay gặp nhất trong các bệnh lý huyết học sau sinh.
Nguyên nhân gặp nhiều gây thiếu máu là tan huyết ( bất đồng nhóm máu
đặc biệt bất đồng Rh), xuất huyết, ngạt, nguyên nhân gây thiếu oxy mạn
tính trong tử cung (chậm phát triển trong tử cung, mẹ đái tháo đường, tăng
huyết áp). Các tác giả nước ngoài cho rằng thời gian kẹp rốn cũng liên quan
với lượng huyết sắc tố của trẻ. Họ nhận định ở trẻ đủ tháng, rau thai chứa
khoảng 100ml máu, khoảng 25% được truyền sang trẻ trong 15 giây đầu
tiên và được 50% ở cuối phút đầu tiên (khoảng 50ml máu ở trẻ đủ tháng).
Sự chênh lệch nồng độ hemoglobin ở trẻ kẹp rốn sớm và muộn là 3g/l [56].
 Bệnh đa hồng cầu: được xác định khi lượng Hematocrit > 0,65. Thường
gặp ở bệnh nhi sau sinh với các yếu tố nguy cơ: chậm phát triển trong tử
cung, mẹ bị cao huyết áp, mẹ bị đái tháo đường, hội chứng truyền máu, kẹp
rốn quá muộn … [56]
1.1.2.3. Một số yếu tố nguy cơ thường gặp của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Các yếu tố nguy cơ này có thể từ phía người mẹ hoặc từ chính bản thân
thai nhi cũng có thể gây nên suy hô hấp sau sinh.
Những sang chấn trong cuộc đẻ cũng là những nguyên nhân làm cho trẻ
không tự thở ngay sau sinh. Sang chấn do dập não, có thể kèm theo xuất
huyết não, kết hợp với phù nề chèn ép trung tâm hô hấp. Nguyên nhân quan
trọng của khởi phát nhịp thở đầu tiên chậm là do ức chế trung tâm hô hấp hậu
quả của giảm oxy máu kéo dài trong lúc đẻ. Hiện tượng đó có thể do dây rốn
bị ép, do rau bong non, co bóp quá mức của tử cung làm gián đoạn sự tưới


23

lý cho trẻ khi sinh ra đặc biệt là suy hô hấp. Những yếu tố này được Carlo
W.A. (2011) [57] tổng kết và có nhận định về bệnh lý của người mẹ sẽ ảnh


24

hưởng đến tình trạng trẻ sau sinh. Kattwinkel J. và cộng sự (2006) [13] cũng
đã đề cập đến các bệnh lý của mẹ và ảnh hưởng tuổi người mẹ khi mang thai
với bệnh lý trẻ sau sinh.


Yếu tố nguy cơ từ bệnh lý mẹ trong quá trình mang thai
Các bệnh lý phát sinh trong quá trình mang thai có nguy cơ cao liên quan

bệnh lý cho trẻ sơ sinh sau khi sinh, bệnh lý rõ rệt nhất là suy hô hấp. Các
bệnh lý người mẹ hay gặp như đái tháo đường thai kỳ, nhiễm độc thai nghén,
tình trạng nước ối và bánh rau như đa ối và thiểu ối… những bất thường này
tác động nhiều đến sự phát triển của thai nhi, ảnh hưởng đến chức năng hô
hấp và tim mạch của thai nhi. Sản phụ không được chăm sóc, theo dõi trong
quá trình mang thai cũng tăng nguy cơ bệnh lý đến trẻ sau sinh [5], [58], [59].
Đái tháo đường ở bà mẹ có thai đặc biệt đái tháo đường thai kỳ chiếm tỷ
lệ khá cao. Theo ghi nhận của Viện nghiên cứu sức khỏe Úc về tình trạng đái
tháo đường của phụ nữ Úc cho thấy năm 2007-2008 tỷ lệ đái đường thai kỳ
chiếm 5% tổng số phụ nữ trong độ tuổi 15-49 khi có thai. Cũng theo báo cáo
này, trẻ sinh ra ở các bà mẹ này có thể mắc các bệnh lý bẩm sinh, thai lưu,
phải mổ đẻ, thai to và hội chứng suy hô hấp [60]. Sản phụ mắc đái tháo đường
tăng nguy cơ bị sản giật, tiền sản giật, cao huyết áp, mổ đẻ… đây cũng là các
nguy cơ có thể gây bệnh lý cho trẻ sau sinh đặc biệt bệnh lý suy hô hấp.



cho thấy biến chứng liên quan đến sinh non là bệnh màng trong (80%), còn
ống động mạch lớn (14,4%), nhiễm trùng… và tỷ lệ thở máy là 44,2% [63].
Kattwinkel J. và cộng sự (2006) [13] trong chương trình hồi sức sơ sinh
đã nêu lên những yếu tố mà trẻ sinh non có nguy cơ cao suy hô hấp, ngạt là:
+

Phổi thiếu hụt surfactant, giảm sức căng bề mặt phế nang, gây xẹp phế

+

nang làm thông khí khó khăn.
Não chưa trưởng thành, trung tâm điều hòa hô hấp thích nghi kém giảm

+
+

khả năng điều hòa nhịp thở.
Trương lực cơ giảm làm khả năng phát động nhịp thở kém.
Trẻ non tháng nên hệ thống da niêm mạc mỏng, diện tích bề mặt lớn, lớp

mỡ dưới da mỏng -> trẻ dễ mất nhiệt khi không kiểm soát tốt.
+ Hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện nên hay bị nhiễm trùng.
+ Mạch máu não mảnh, dễ vỡ nên dễ bị xuất huyết não.
+ Nguy cơ mất dịch, giảm thể tích do thể tích tuần hoàn nhỏ, cân nặng trẻ
thấp.
+ Các cơ quan chưa hoàn thiện nên có nguy cơ tổn thương khi sử dụng oxy
nồng độ cao và kéo dài đặc biệt là phổi và mắt.
 Các yếu tố khác từ thai và trẻ sơ sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status