Tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh) - Pdf 51

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH BNH

TáI HòA NHậP CộNG ĐồNG
CHO NGƯờI CHấP HàNH XONG HìNH PHạT Tù Là PHụ Nữ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn Hà Tĩnh)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH BNH

TáI HòA NHậP CộNG ĐồNG
CHO NGƯờI CHấP HàNH XONG HìNH PHạT Tù Là PHụ Nữ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG

H NI - 2017


hình phạt tù là phụ nữ.......................................................................... 10
1.2. Yêu cầu tái hoà nhập cộng đồng đối với ngƣời phạm tội là
phụ nữ ................................................................................................ 13
1.2.1. Yêu cầu chung ..................................................................................... 13
1.2.2. Yêu cầu tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội là phụ nữ.............. 15
1.3.
Những yêu cầu của quốc tế về tái hoà nhập cộng đồng cho
ngƣời phạm tội ................................................................................... 23
1.3.1. Những yêu cầu chung của quốc tế về tái hoà nhập cộng đồng ........... 23
1.3.2. Những yêu cầu của quốc tế về tái hoà nhập cộng đồng cho người
phạm tội là phụ nữ............................................................................... 25
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 28
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÁI HÒA NHẬP
CỘNG ĐỒNG CHO CHẤP HÀNH XONG HÌNH PHẠT TÙ
LÀ PHỤ NỮ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TĨNH ................................................................................ 30
2.1. Quy định của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng cho ngƣời
chấp hành xong hình phạt tù ........................................................... 30


2.1.1. Quy định của pháp luật hình sự áp dụng đối với phụ nữ phạm tội .......... 32
2.1.2. Quy định của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng cho chấp hành
xong hình phạt tù là phụ nữ................................................................. 34
2.2.

Thực tiễn tái hòa nhập cộng đồng cho ngƣời chấp hành xong
hình phạt tù là phụ nữ trên địa bàn Hà Tĩnh ................................. 41
2.2.1. Kết quả tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình
phạt tù là phụ nữ .................................................................................. 42
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác tái hòa nhập cộng đồng

Trang

Bảng 2.1: Thống kê số vụ án hình sự đã xét xử trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh từ năm 2012- 2016, trong đó hình phạt tù được áp dụng

44

Bảng 2.2: Thống kê số người chấp hành xong hình phạt tù từ năm
2012 – 2016

48

Bảng 2.3: Thống kê về tình trạng việc làm của người phụ nữ chấp
hành xong hình phạt tù từ 2012-2016

49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác giúp đỡ, tạo điều kiện cho người chấp hành xong hình phạt
tù, đặc biệt khi người phạm tội là phụ nữ trở về với cuộc sống lương thiện
tại cộng đồng mang một ý nghĩa hết sức quan trọng trong chính sách pháp
luật của Việt Nam. Tái hoà nhập cộng đồng cho phụ nữ phạm tội sau khi
chấp hành xong hình phạt tù là một công tác gắn liền với việc thực thi các
biện pháp hoà nhập xã hội cho phụ nữ, sau khi được trở về với cộng đồng từ
cơ sở giam giữ. Giúp đỡ và tạo điều kiện cho những phụ nữ đã chấp hành
xong án phạt tù xây dựng một cuộc sống bình thường đồng thời giáo dục họ
trở thành những công dân có ích cho xã hội, hạn chế tối đa những trường
hợp tái phạm không chỉ là mục tiêu chung mà còn được thể hiện rất rõ theo

tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước;
hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân và chuẩn bị
các điều kiện cần thiết để phạm nhân tái hoà nhập cộng đồng sau khi
chấp hành xong án phạt tù [30, Điều 39, Khoản 2].
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức một cách đầy đủ rằng đây vừa là quyền
vừa là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền nhằm góp phần đưa người
phạm tội trở lại cuộc sống lương thiện, góp phần ổn định an ninh, trật tự tại
địa phương. Thực tế hiện nay cho thấy, các quy định về việc tái hoà nhập
cộng đồng đối với người phạm tội nói chung và phụ nữ nói riêng bị phân tán
ở các văn bản pháp luật khác nhau như luật hình sự, luật thi hành án phạt tù
hoặc trong các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ và ngành Công an
như Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, chương trình phòng chống
và kiểm soát ma tuý. Ngoài ra công tác tái hoà nhập cộng đồng cho phụ nữ
phạm tội chưa thực sự được quan tâm đúng mức cũng là nguyên nhân làm cho
công tác tái hoà nhập cộng đồng chưa thực sự phát huy hết vai trò của nó
trong quá trình giáo dục, cảm hoá người phạm tội để khi mãn hạn tù họ trở

2


thành những người có ích cho xã hội. Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, phụ nữ phạm
tội mãn hạn tù trong những năm qua mặc dù đã được quan tâm của các cấp,
ban, ngành, tổ chức xã hội nhưng vẫn còn những trường hợp tái phạm, chưa
nhận được sự quan tâm đúng mực của gia đình, xã hội khiến cho họ khó khăn
trong việc hòa nhập với nơi mình sinh sống.
Từ những phân tích trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tái hòa nhập cộng
đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ (Trên cơ sở thực
tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay có nhiều công trình khoa học, sách báo pháp lý chuyên

nghiên cứu và làm rõ. Do đó, tác giả cho rằng việc nghiên cứu, tìm hiểu về
vấn đề này là cần thiết và hữu ích.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và những
quy định của pháp luật Việt Nam về tái hoà nhập cộng đồng đối với người
phạm tội là phụ nữ. Thông qua việc phân tích tình hình tái hoà nhập cộng
đồng nói chung và đi sâu phân tích công tác tái hoà nhập cộng đồng đối với
người phạm tội là phụ nữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2012 –
2016 nhằm vận dụng có hiệu quả vào công tác tái hoà nhập cộng đồng nói
chung và phụ nữ nói riêng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, đồng thời tạo cơ sở về lý
luận và thực tiễn để đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật nước
ta về vấn đề này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quan điểm về tái hòa nhập cộng
đồng cho người phạm tội; nội hàm của tái hòa nhập cộng đồng dưới góc độ
chuyên ngành luật Hình sự và Tố tụng hình sự; Nghiên cứu thực tiễn tái hòa
nhập cộng đồng cho người phạm tội là phụ nữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; Từ

4


kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả tái hòa nhập cộng đồng cho người phạm tội là phụ nữ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một là, các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tái hoà nhập cộng
đồng; Khái niệm tái hoà nhập cộng đồng đối với người phạm tội là phụ nữ; các
quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; thi hành án hình sự và các luật
có liên quan về tái hoà nhập cộng đồng đối với người mãn hạn tù là phụ nữ.

về tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ.
Đồng thời với những phương pháp khác nhau, đề tài sẽ làm rõ tình hình tái hoà
nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ ở Hà Tĩnh
hiện nay và những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác này.
c) Ý nghĩa về lập pháp: trên cơ sở những nghiên cứu về lý luận và thực
tiễn, đề tài cung cấp những cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tham khảo
hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong công tác tái hoà nhập cộng đồng đối với
người mãn hạn tù nói chung và phụ nữ nói riêng.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về tái hòa nhập cộng đồng cho người
chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng cho người
chấp hành xong án phạt tù là phụ nữ và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Chƣơng 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định về
tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù là phụ nữ.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG
CHO NGƢỜI CHẤP HÀNH XONG HÌNH PHẠT TÙ LÀ PHỤ NỮ
1.1. Khái niệm tái hoà nhập cộng đồng cho ngƣời chấp hành xong
hình phạt tù là phụ nữ
1.1.1. Khái niệm tái hoà nhập cộng đồng đối với người phạm tội
Tái hòa nhập cộng đồng là quá trình hòa nhập về mặt xã hội và tâm lý
với môi trường xã hội của một con người. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tư pháp
hình sự, nó thường được đề cập cụ thể hơn tới những hình thức hỗ trợ khác

nhiên theo quan điểm của tác giả, nếu sử dụng thuật ngữ “tái hòa nhập cộng
đồng” vấn đề tái hoà nhập hướng đến các yếu tố khách quan bên ngoài người
phạm tội như gia đình, cộng đồng dân cư để đưa người phạm tội trở lại với
cộng đồng, tái hoàn lương. Ngược lại, khi sử dụng thuật ngữ “tái hoà nhập xã
hội”, cái nhìn về tái hoà nhập đối với người phạm tội sẽ được mở ra, bao gồm
cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên trong là chính nhận thức, suy
nghĩ của người phạm tội về những hành đồng của mình đã đi ngược lại với
những quy tắc chung, chuẩn mực chung của xã hội dẫn đến việc vi phạm pháp
luật hình sự và phải chịu hình phạt. Yếu tố bên ngoài chính là các yếu tố tác
động đến việc người phạm tội có thể tái hoà nhập thành công hay không: sự
cảm thông, cái nhìn về sự thay đổi của người phạm tội, những cơ hội, điều
kiện được nhà nước và xã hội cung cấp giúp người phạm tội hoà nhập trở lại
được với cuộc sống. Góc nhìn này sẽ toàn diện và chính xác hơn.
Vấn đề tái hoà nhập cộng đồng được đặt ra đối với những người phạm
tội phải chịu hình phạt bị tước tự do. Tuy nhiên có thể hiểu tái hòa nhập cộng
đồng như sau: Tái hòa nhập cộng đồng là xóa đi những quá khứ tội lỗi và mặc
cảm của người phạm tội, tạo cơ hội, bình thường hóa các mối quan hệ để họ
hòa nhập cộng đồng nơi họ cư trú với tư cách là một công dân, một thành viên

8


của gia đình, cộng đồng xã hội [23, tr. 24]. Đây là những biện pháp tác động
tích cực giúp đỡ những người lẫm lỡ, những người có quá khứ phạm tội xóa
bỏ đi mọi mặc cảm của bản thân họ đối với cộng đồng, gia đình và xã hội để
họ có thể trở về là người dân lương thiện theo đúng nghĩa của nó. Như vậy có
thể hiểu tái hóa nhập cộng đồng đối với người phạm tội được xét ở hai khía
cạnh: Với cá nhân đối tượng thì tái hòa nhập cộng đồng chính là quá tự bản
thân họ tự nhận thức điều chỉnh tư duy và hành vi cho phù hợp với quy định
và chuẩn mực của cộng đồng, đồng thời thông qua lao động giao tiếp, họ dần

đối với người chấp hành xong án phạt tù là quá trình tác động tích cực hai
chiều giữa cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, gia đình
cũng như người chấp hành xong hình phạt tù nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi để người chấp hành xong hình phạt tù xóa bỏ đi mọi mặc cảm của
bản thân họ đối với cộng đồng, gia đình và xã hội để họ có thể trở về là người
dân lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.
1.1.2. Khái niệm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong
hình phạt tù là phụ nữ
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong tái hoà nhập cộng đồng đối với những
đối tượng là những người phụ nữ bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân và
tính từ khi còn là bị can, bị cáo cho đến khi mãn hạn tù hay là các đối tượng
tù tha và trở về địa phương. Theo tác giả có thể hiểu tái hoà nhập cộng đồng
đối với người phạm tội là phụ nữ trong phạm vi luận văn là “các biện pháp
tái hòa nhập cộng đồng được thiết kế riêng biệt ngay từ khi ở trong cơ sở
giam giữ và sau khi được phóng thích để giúp người phạm tội là phụ nữ được
trả tự do sau thời gian giam giữ có thể đối mặt với những thách thức liên
quan đến việc trở về với cộng đồng”. Ngoài những biện pháp được áp dụng
chung với người phạm tội, người phạm tội là phụ nữ cần được xem xét là một
đối tượng người phạm tội đặc biệt. So với số tù nhân nam, số nữ tù nhân có

10


phần chiếm tỉ lệ nhỏ. Thực tế này dẫn đến một hệ quả là hầu hết các hệ thống
nhà tù và các chương trình tái hoà nhập có xu hướng được lên kế hoạch và
thiết kế cho những người phạm tội là nam nam giới, để lại những lỗ hổng cho
nhu cầu cụ thể của phụ nữ. Phụ nữ trong tù thường có khả năng tiền sử bị lạm
dụng tình dục và thể chất nhiều hơn so với nam giới. Họ bị bệnh về tâm thần
ở mức cao hơn nam giới và tiền sử lạm dụng thuốc của họ có khuynh hướng

phạt tù là phụ nữ là một quá trình hai chiều giữa sự “hồi sinh” của cá nhân
người đó hướng về cộng đồng và sự tác động tích cực của xã hội để giúp cá
nhân đó nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng.
Thứ hai, Tái hoà nhập cộng đồng là một quá trình tác động đến đối
tượng trong môi trường và thời gian rất khác nhau. Thông thường có thể phân
chia thành hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn chuẩn bị cho người chấp hành xong
án phạt tù các điều kiện cần thiết về tâm lí, nghề nghiệp và văn hoá tại các cơ
sở giam giữ và giai đoạn đưa người chấp hành xong hình phạt tù tái hoà nhập
với gia đình và xã hội.
Thứ ba, công tác tái hoà nhập cộng đồng là sự kết hợp tổng thể giữ các
biện pháp: quản lí hành chính – tư pháp, tác động vê tâm lí, tư tưởng; hướng
nghiệp; giáo dục văn hoá pháp luật
Thứ tư, tái hoà nhập cộng đồng đối với chấp hành xong án phạt tù là
phụ nữ là một quá trình cần có sự phối hợp tham gia của nhiều cơ quan, tổ
chức mà vai trò quan trọng nhất thuộc về gia đình, chính quyền cơ sở và trại
giam để giúp người phạm tội nhìn nhận lại bản thân, tạo động lực, niềm tin
cho người phạm tội làm lại cuộc đời.
Thứ năm, tái hoà nhập cộng đồng là hoạt động mang tính xã hội hoá
cao. Bởi lẽ, nếu công việc này chỉ được thực hiện bởi các nhân viên nhà nước
thì tính khả thi sẽ không cao do tính chất của công việc này. Các biện pháp tác
động của xã hội thông qua các tổ chức cá nhân của mình sẽ phù hợp hơn với
trạng thái tâm lí của người phạm tội hơn là các nhân viên, tổ chức công
quyền. Đây cũng là xu hướng của rất nhiều các quốc gia phát triển trên thế

12


giới. Tại Việt Nam, mô hình này đã được áp dụng tuy nhiên chưa rộng rãi và
hiệu quả còn chưa được như mong muốn.
1.2. Yêu cầu tái hoà nhập cộng đồng đối với ngƣời phạm tội là phụ nữ

cộng đồng được thành công.
Như chúng ta đã thấy, chương trình đặc biệt được thiết kế ra nhằm
chuẩn bị cho việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội có thể bao gồm
giáo dục, chăm sóc sức khỏe tinh thần, cai nghiện, đào tạo nghề, hướng dẫn
và giáo dục. Những chương trình này đã được cung cấp trước khi có sự phóng
thích của các cơ quan có nền tảng xã hội để cung cấp cho người phạm tội sự
hỗ trợ kế tiếp sau khi hết hạn tù và theo đó áp dụng đối với những người
phạm tội được phóng thích khỏi trại giam.
1.2.1.2. Yêu cầu tái hoà nhập sau khi chấp hành xong hình phạt tù
Có một thực tế mà người phạm tội cần đối mặt vào thời điểm họ được
phóng thích là việc tìm kiếm một nơi sinh sống phù hợp với tài sản ít ỏi, hòa
hợp với gia đình, xoay sở cuộc sống khi có ít hoặc thậm chí không có tài sản
tiết kiệm cho đến khi họ kiếm được đồng tiền hợp pháp, là việc cần có những
thiết yếu của cuộc sống hàng ngày, của những dịch vụ và sự những nhu cầu
riêng của họ.
Nhiều quốc gia đã phát triển những chính sách và chương trình để giúp
đỡ người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng sau khi hết hạn tù. Sự can thiệp
này cũng khác nhau do có thuật ngữ khác nhau như: “hỗ trợ sau khi hết hạn
tù”, “hỗ trợ chuyển tiếp”, “sự trở về “ hoặc “ hỗ trợ cho sự trở về”, “tái hòa
nhập” hoặc “tái định cư”. Một vài sự can thiệp dự kiến có thể bắt đầu trong
khi người phạm tội đang bị tù với mục đích là nhằm điều chỉnh một cách
thuận lợi hơn chương trình này.
Chương trình tái hòa nhập cho người phạm tội thường được dựa trên
phương pháp tiếp cận trường hợp quản lý theo ca và bao gồm một loạt các
biện pháp can thiệp. Những biện pháp này được thiết kế để trợ giúp người

14


phạm tội trong việc chuẩn bị được thả khỏi trại giam bằng cách giúp họ có

mà họ đang duy trì. Trong những năm gần đây, một số cách thức đánh giá nhu
cầu và rủi ro đáp ứng yêu cầu về giới tính đang được xây dựng. Sau quá trình
thử nghiệm, người ta thấy rằng phụ nữ thích ứng tốt hơn với các chương trình
“gói gọn” tiến hành nhiều phương thức tái hoà nhập một lúc. Các mô hình gói
gọi trên được tiến hành kết hợp với nhiều biện pháp can thiệp khác nhau để
giải quyết tất cả những thách thức mà người phạm tội đang đối mặt. Các
chương trình này cần được liên kết, phối hợp với nhau để trở thành một khối
tổng thể chứ không đơn thuần là những can thiệp riêng lẻ. Cần có sự quan tâm
sâu sắc tới vị trí của người phụ nữ trong vai trò người chăm sóc, là con gái, là
một người mẹ, người vợ hoặc bạn gái vì những người phụ nữ không thể được
trợ giúp một cách hiệu quả nếu tách biệt họ hoàn toàn khỏi xã hội và mối
quan hệ mật thiệt của họ.
Rất nhiều nữ tù nhân đã phải chịu hình phạt và để lại con cái của họ với
chồng, bạn trai hoặc người thân. Họ không ngừng lo lắng về hạnh phúc của
của chính mình. Các chương trình giúp phụ nữ vượt qua những lo lắng và
giảm bớt mặc cảm, cô đơn của họ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình cải
tạo. Việc tạo thuận lợi để người phụ nữ được giao tiếp với con cái và gia đình
là một cách đơn giản và thiết thực để hiện thực hoá các chương trình này.
Ngoài các yêu cầu chung tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong
hình phạt tù, thì đối với phụ nữ cần có các yêu cầu cụ thể, đặc thù đó là:
1.2.2.1. Tạo mối liên hệ với bên ngoài
Tạo điều kiện để nữ tù nhân giữ mối liên hệ với bên ngoài là một yếu
tố quan trọng của các chiến lược nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực của
việc giam giữ và người phạm tội dễ dàng tái hoà nhập cộng đồng. Người
phạm tội cảm nhận được sự tha thứ của gia đình dành cho mình là yếu tố
tiên giúp người phạm tội hoàn lương. Hơn nữa, mối liên hệ mật thiết gia
đình và sự hỗ trợ vợ hoặc chồng đã được chứng mình là yếu tố then chốt

16




số lượng tù nhân nữ giới hạn, các tù nhân nữ thường được giam giữ ở các cơ
sở xa nhà và do đó có thể số lượng người thân và bạn bè ghé thăm cũng ít.
Bởi vậy có thể cân nhắc việc tăng thời gian các cuộc thăm hỏi cho gia đình
và bạn bè khi phải đi một quãng đường dài. Các cuộc gặp gỡ giữa mẹ và con
cái nên cho phép việc tiếp xúc trực tiếp với trẻ em và thực hiện trong một
môi trường thích hợp. Ví dụ, ở một số nhà tù, các phòng đặc biệt giống như
những ngôi nhà đã được thiết kế để đáp ứng cho những lần gặp gỡ của các
gia đình, tạo một bầu không khí riêng tư và sự thân mật hơn. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với những lần ghé thăm của gia đình, đặc biệt là trẻ em.
Trong những hoàn cảnh bình thường không có mối quan ngại về an ninh, các
gia đình có thể ngồi xuống cùng nhau, tiếp xúc trực tiếp mà không có người
giám sát.. Mọi cuộc thăm nom của gia đình nên được diễn ra trong một bầu
không khí ấm cúng và thoải mái, đòi hỏi phải có sự đào tạo chuyên nghiệp
dành cho các cán bộ trại giam. Song song với việc tạo sự tiếp xúc gần gũi
giữa cha mẹ và con cái, trại giam cũng nên thiết lập những khu vui chơi nhỏ
cho trẻ em để chúng không thấy cảm giác xa lạ, sợ sệt khi đến thăm mẹ, tạo
cảm hứng cho các lần ghé thăm tiếp theo. Ngoài ra đây cũng là cách để thu
hút trẻ em, tạo không gian riêng tư cho cha mẹ và người thân. Điều này làm
nên chất lượng cho các cuộc thăm nom nữ phạm nhân, là tiền đề tốt cho
công tác tái hoà nhập sau này.
Ngoài ra cũng áp dụng hình thức gọi điện về gia đình đối với các nữ
phạm nhân để họ được nắm bắt tình hình gia đình, đặc biệt là khi họ sống xa
hoặc không thể đến thăm. Các cán bộ quản lí trại giam, trại tạm giam cũng có
thể hợp tác với các cơ quan và tổ chức xã hội để giúp các tù nhân phụ nữ giữ
liên lạc với gia đình họ. Việc tạo mối liên hệ giới gia đình đã mang lại những
hiệu quả thiết thực. Ví dụ, Nhà tù nữ Thika ở Kenya đã bắt đầu tổ chức các
"Ngày hội nuôi dạy con từ xa" vào năm 2007. Cán bộ phụ trách nhà tù nói



19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status