Xây dựng không khí lớp học thân thiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5. - Pdf 51

Đề tài: Xây dựng không khí lớp học thân thiện, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
1.1, Cơ sở lí luận:
Tâm lí nhân cách của mỗi con người chủ yếu được hình thành qua hoạt động, lao
động và học tập. Ở lứa tuổi tiểu học, học sinh chưa định hình một thực thể nhân
cách trọn vẹn mà đang từng bước phát triển, hoàn thiện dần tính cách của mình.
Mỗi hành vi, lời nói đều có thể góp phần tác động vào quá trình tạo lập tính cách
con người. Ngày xưa ông cha ta đã khẳng định: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện. Tính
tương cận, tập tương viễn”, “Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”. Vậy, bản chất con
người vốn là “thiện” nhưng cần phải giáo dục mới thành tính tốt, trong việc giáo
dục cần phải “chuyên cần” thì mới có kết quả.
Con người tiếp nhận sự giáo dục cần phải có sự thích ứng tự nhiên, nghĩa là sự
thích nghi của lứa tuổi. Sự phát triển tâm lí của mỗi con người cũng giống như sự
tiến hóa của nhân loại, nó có từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn đó, giáo dục chỉ
có thể tác động vào theo một chiều hướng nhất định, đó là chiều hướng tích cực
mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất. Nói cụ thể hơn là phải giáo dục học sinh
bằng tình cảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi thì mới có thể tạo ra “những tâm hồn
trong sáng” cho các em.
Mục tiêu của giáo dục hạnh kiểm ở trường tiểu học là xây dựng những tính cách
ban đầu phù hợp để có thể phát triển đi lên cho các cấp học trên. Để đạt được mục
tiêu đó, người giáo viên cần tạo ra sự hứng thú, xúc cảm cho học sinh; giúp các em
chủ động xây dựng nhân cách cho mình. Một trong những biện pháp giúp học sinh
tự giác hoàn thiện nhân cách là tạo ra sự “thân thiện” trong quá trình giáo dục, giúp
các em thực sự tin tưởng vào môi trường học tập, thực sự cảm thấy “mỗi ngày đến
trường là một ngày vui”.
2.1, Cơ sở thực tiễn:
Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi lớp học cần tự xây dựng cho mình một môi trường

hiện tại của giáo dục với bối cảnh hện đại hóa, tình trạng hạnh kiểm của học sinh
đang sa sút nghiêm trọng. Nếu đề tài này được nghiên cứu một cách nghiêm túc và
ứng dụng kịp thời, thì có thể giải quyết cơ bản tình trạng ngại tiếp xúc với môi
trường học tập và thái độ đối với thầy (cô) của một bộ phận học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5, phát triển
kĩ năng giao tiếp phù hợp và linh hoạt hơn. Xây dựng mối quan hệ thầy – trò thân
mật, gần gũi. Qua đó, hình thành ý thức tự học, tự rèn luyện ở học sinh, tạo ra tình
đoàn kết trong tập thể lớp học, góp phần xây dựng “trường học thân thiện, học sinh
tích cực”.
Đưa ra hệ thống các giải pháp xây dựng không khí lớp học thân thiện, giúp
học sinh hoạt động học tập và vui chơi thân mật, cởi mở để phát triển tâm lí và
hình thành nhân cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập – rèn luyện lên lớp
trên và bước vào đời.
3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài kết hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp phân loại thống kê.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm ...
***
Trang 3


B. NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Về giáo viên:
Thái độ trong giao tiếp với học sinh có vai trò quan trọng trong việc gây hứng thú
học tập và tạo ra sự gần gũi thân mật giữa thầy - trò. Người giáo viên có thái độ

các em có bản lĩnh để vào đời và học lên lớp trên thuận lợi hơn.
Nhìn chung khi tiếp xúc với học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 5 nói riêng
tôi thấy thường có một khoảng trống nhất định xuất hiện, học sinh co lại rụt rè.
Hạn chế nhất của các em là vốn ngôn ngữ còn thiếu thốn, mất bình tĩnh nên tỏ ra
không mặn mà, thân mật.
Trang 4


II. NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KHÔNG KHÍ LỚP HỌC THÂN THIỆN
1. Cơ sở để xây dựng giải pháp.
Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học về ngôn ngữ, chú ý, trí nhớ, ý
chí, tình cảm dẫn tới phát triển nhận thức, tình cảm. Từ đó có thể vận dụng khả
năng nhận thức và nhu cầu tình cảm để giúp các em thêm yêu môi trường học tập.
Trong quá trình lên lớp hàng ngày với những tình huống từ đơn giản đến phức
tạp, mỗi tình huống cần có những cách ứng xử khéo léo. Từ những cách ứng xử đó
có thể rút ra những giải pháp chung nhất, ứng dụng cho những tình huống phù hợp.
Tuy nhiên, mỗi con người có một đặc điểm cấu trúc tâm lí khác nhau nên cùng một
hiện tượng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Song hệ thống các
giải pháp được đề cập là những phương pháp giải quyết những vấn đề chung nhất
với kết quả tối ưu nhất.
2. Các giải pháp:
1.2; Sử dụng lời nói thân thiện.
Lời nói là phương tiện chủ yếu của người giáo viên. Vì vậy, người giáo viên phải
trau chuốt, mài dũa công cụ của mình để sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. Người
thầy phải giữ gìn lời nói như nhân phẩm của mình. Khi giao tiếp với học sinh,
người thầy phải sử dụng ngôn ngữ sao cho các em dễ hiểu nhất, giàu hình ảnh và
đạt giá trị biểu cảm cao.
Ngoài giá trị nội dung của ngôn ngữ, người giáo viên còn phải diễn đạt nó bằng
âm điệu phù hợp. Bởi vì cùng một từ ngữ, nếu chúng ta nói với những âm điệu
khác nhau thì người nghe sẽ hiểu theo những ý khác nhau. Chẳng hạn: khi giáo

giáo dục tiểu học. Khi học sinh làm được việc tốt thì phải khen ngợi ngay để động
viên. Một lời động viên khuyến khích có hiệu quả giáo dục gấp nhiều lần so với
những lời chỉ trích. Đặc biệt với những học sinh cá biệt thì lời động viên như là
liều thuốc tinh thần giúp các em thay đổi hành vi theo hướng tiến bộ. Chẳng hạn:
một học sinh có tính hay cắp vặt, khi học sinh đó nhặt được đồ vật gì mà nhiều bạn
thấy thì giáo viên khuyên em trả lại cho bạn, rồi sau đó tuyên dương tinh thần
“nhặt được của rơi, trả người đánh mất” và thưởng hoa điểm mười. Việc làm này
sẽ làm cho em học sinh đó cảm động và dần dần thay đổi thói quen. Vậy, động
viên, khuyến khích kịp thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách.
Động viên, khuyến khích kịp thời không những làm cho học sinh thay đổi tâm
tính mà còn là động cơ thúc đẩy quá trình học tập của các em. Trong học tập, sự
“cần cù” có phần bù đắp cho sự thiếu thông minh. Nếu động viên, khuyến khích
kịp thời sẽ giúp học sinh ham thích và dẫn tới chăm chỉ học tập, từ đó giúp các em
thành công hơn trong học tập. Chẳng hạn, một học sinh có lực học yếu khi làm
được một bài toán mức cơ bản thì giáo viên ghi điểm 10 và tuyên dương sự tiến bộ
của em đó. Việc làm này sẽ giúp học sinh tự tin hơn, tạo ra sự phấn khích cho học
sinh thích thú học tập, từ đó các em sẽ tự giác học tập và tạo lập quá trình tự giáo
dục. Những phẩm chất tốt của một con người chỉ hình thành dễ dàng khi người đó
tự mình rèn luyện nó, đó là mục đích cao nhất của giáo dục.
4.2; Thưởng, phạt công bằng.
Thưởng, phạt là việc làm xảy ra thường xuyên trong quá trình dạy học – giáo dục.
Khi học sinh làm được việc tốt thì thầy thưởng, còn khi học sinh vi phạm kĩ luật thì
cần phải trách phạt. Nhưng thưởng, phạt phải công bằng thì mới có hiệu quả giáo
dục. Chẳng hạn; một học sinh A chăm chỉ làm trực nhật thì được thưởng hoa điểm
mười và tuyên dương trước lớp, còn học sinh B lười làm trược nhật thì buộc phải
viết bản tự kiểm điểm rồi đọc trước lớp. Dù một hành vi nhỏ cũng phải thưởng,
phạt thật công bằng thì mới giúp học sinh yên tâm học tập và rèn luyện. Ngược lại,
nếu bỏ qua bất cử một hành vi tốt hay chưa tốt đều có thể làm mất niềm tin của các
em, làm cho các em có cảm giác bất bình và ảnh hưởng đến tinh thần của các em.
Trong dạy học, việc thưởng, phạt công bằng sẽ giúp học sinh biết quan tâm đến

Những lời thầy ghi nhận xét
Chỉ là nhắc nhở em thôi
Thầy không muốn em thất vọng
Tin cho năng lực mình tồi.

Học trò xưa nay vẫn thế
Nhưng là tuổi mộng thần tiên
Dù nay em chưa tròn lễ
Rồi mai em sẽ ngoan hiền.

Ngày nào trưởng thành em hiểu
Thầy nào bắt lỗi em đâu
Chỉ là “dơ cao đánh khẽ”
Dắt em những bước đi đầu.

Việc trách phạt nhẹ nhàng sẽ giúp học sinh nhận ra lỗi của mình nhưng không làm
cho học sinh bi quan, mặc cảm trước bạn bè, giúp các em cảm thấy môi trường
hoạt động của mình thân thương và hình thành ý thức trách nhiệm. Từ đó các em
sẽ tự giác xây dựng tình đoàn kết, thân thiện để học tập, vui chơi. Tôi xin đơn cử
một ví dụ sau: Em Trần Thị Hằng có đặc tính thiếu hòa đồng, hay gây gỗ với bạn
bè, có hôm trong giờ ra chơi tự dưng đẩy bạn ngã lại còn đánh bạn. Khi vào học, cả
lớp bức xúc thưa thầy, em Hằng cũng đứng lên phân minh. Trước hết tôi gọi một
đại diện đã chứng kiến, trình bày đầu đuôi sự việc. Sau đó tôi yêu cầu Hằng trả lời
sự việc bạn đã trình bày là đúng hay sai, nếu đúng thì Hằng phải xin lỗi bạn và
nhận lỗi trước các bạn, nếu sai thì phải chứng minh việc mình làm là đúng. Cuối
cùng Hằng đã nhận lỗi và hứa không tái phạm. Từ đó Hằng trở nên hòa đồng và
vui vẻ cùng các bạn học tập và vui chơi.
6.2; Tạo tiếng cười sau mỗi tiết học.
“Tiếng cười là liều thuốc bổ”. Tiếng cười trong dạy học – giáo dục sẽ làm tan đi
không khí căng thẳng vì tư duy khoa học. Không những thế, tiếng cười còn tạo ra

giáo viên biết cách vân dụng hợp lí. Thông thường trong tiết sinh hoạt lớp có các
nội dung: nhận xét đánh giá kết quả học tập – rèn luyện trong tuần vừa qua, phổ
biến kế hoạch hoạt động của tuần tới, nhắc nhở và khắc phục tồn tại đã mắc phải...
Để làm tăng sự thân thiện cho tiết sinh hoạt, giáo viên nên tổ chức cho học sinh
trao đổi về tâm tư nguyện vọng của mỗi người, giao lưu văn nghệ... thường xuyên
thay đổi nội dung và hình thức cho tiết sinh hoạt luôn mới mẻ.
3. Khả năng ứng dụng của đề tài.
Đề tài có thể ứng dụng vào việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh ở cấp tiểu học
nói chung và đối tượng học sinh lớp 5 nói riêng. Lớp 5 là lớp học cuối cấp ở bậc
học tiểu học, ở lớp học này các em đã hình thành ý thức cá nhân, khả năng khái
quát hóa phát triển, bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Vì vậy đề tài ứng dụng phù
hợp cho việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5, góp phần phát triển ý thức
cho học sinh, làm tiền đề cho các em bước ra cuộc đời và học lên lớp trên.

Trang 8


Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho phụ huynh học sinh trong quá trình giáo
dục và kèm cặp con em học tập.
Rèn luyện kĩ năng giao tiếp và hoạt động tập thể, giúp rèn luyện kĩ năng sống cho
học sinh. Đây là mục đích cao nhất của việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh trong
nhà trường. Từ rèn luyện trong nhà trường để trang bị kĩ năng sống trong cuộc đời
cho học sinh. Đây cũng là dụng ý mà đề tài muốn hướng tới.
***

C. KẾT LUẬN
1. Kết quả ứng dụng.
Ứng dụng đề tài vào công tác chủ nhiệm lớp, tôi thấy có kết quả rõ rệt. Lớp học
trở nên thân thiện thể hiện ở những điểm sau:
- Học sinh thích đi học: ở học kì I có 14 lượt học sinh nghỉ học, trong đó có 4 lượt

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Đầu năm học 2010-2011

26

23

88,5%

3

11,5%

Cuối năm học 2010-2011

26

26

100%

0

0


tinh thần tự học hỏi và sửa đổi của các em.
Muốn học sinh tiến bộ, một trong những việc hết sức cần thiết là giáo viên phải
chuyên cần trong giáo dục, phải nhắc nhở ngay nếu các em vi phạm lỗi cho dù là
rất nhỏ. Người giáo viên không thể cẩu thả trong việc giáo dục nhân cách cho học
sinh. Song người thầy phải có tính độ lượng, sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho học sinh,
mở ra cơ hội sữa chữa nếu các em có lỗi lầm.
Trên đây là kết quả tìm tòi, suy nghĩ, học hỏi và quá trình thể hiện của tôi thực sự
đã mang lại hiệu quả đáng kể trong giáo dục học sinh mang tính cá nhân tôi. Mặc
dầu đề tài này mới chỉ được tôi áp dụng vào việc dạy học – giáo dục học sinh lớp
5C Trường Tiểu học Tân Thành, nhưng cũng đã gặt hái những thành công đáng kể.
Trước khi tiến hành làm đề tài này, tôi đã trực tiếp trao đổi với một só đồng nghiệp
và đã nhận được những phản hồi tốt đẹp. Tuy nhiên, chúng ta thường quen với
những phương pháp giáo dục có tính chủ quan nên mới tiếp cận ban đầu với đề tài
còn có nhiều chỗ chưa hẳn đã tìm được tiếng nói chung. Với tinh thần cầu thị, ý
thức nghề nghiệp, tôi mong muốn các quý thầy cô giáo, đồng nghiệp và hội đồng
Trang 10


khoa học trường, nghành góp ý để đề tài tiếp tục được hoàn thiện và tính ứng dụng
thiết thực hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Tân Thành, ngày 18 tháng 4 năm 2011
Tác giả:

§Ëu §øc
Minh

Trang 11



3. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Về giáo viên
2. Về học sinh
II. NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KHÔNG KHÍ LỚP HỌC
THÂN THIỆN
1. Cơ sở để xây dựng giải pháp
2. Các giải pháp
2.1; Sử dụng lời nói thân thiện.
2.2; Sử dụng ánh mắt và cử chỉ trìu mến.
3.2; Khuyến khích, động viên kịp thời.
4.2; Thưởng, phạt công bằng.
5.2; Trách phạt nhẹ nhàng.
6.2; Tạo tiếng cười sau mỗi tiết học.
7.2; Xây dựng giờ sinh hoạt thân thiện.
3. Khả năng ứng dụng của đề tài.
C. KẾT LUẬN
1. Kết quả ứng dụng.
2. Những kết luận.
3. Những đề xuất.

Trang
2
2
3
3
4
4
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status