BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TIẾN
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ
PHÁT TRIỂN RỪNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Long
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Tiến
1.3.
7
36
Những đảm bảo của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng
41
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
2.1.
Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ và phát triển rừng
2.2.
45
Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của cơ chế pháp lý về xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng
2.3.
45
: Quản lý nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ
chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều
hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành
tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán,
ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên
tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm
không khí và nước.
Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa
hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt
đới ẩm phía Nam, đến Á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa
dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật. Những
hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh,
rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng
và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập
nước ngọt,...
Qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt
Nam đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại
đã bị hạ thấp quá mức. Sự giảm sút độ che phủ và chất lượng rừng là một vấn
đề đáng lo ngại. Trước đây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ,
mới bị trừng trị. Đó là chưa nói đến nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng trong
mấy năm gần đây chưa bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc, như ở
Kon Tum, Gia Lai, Bình Thuận, Nghệ An, Bắc Giang, Vườn quốc gia Phú
Quốc mà báo chí đã đưa tin (2003). Gần đây nhất mới phát hiện vụ phá
rừng lớn trái phép tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh. Tại hiện trường, cơ
quan điều tra đã phát hiện một số lượng lớn gỗ, hơn 2.400m3 do giám đốc
lâm trường Mang Đen, giám đốc lâm trường Tân Lập cầm đầu, cùng với một
số người khác, như trưởng trạm cửa rừng lâm trường Mang Đen, giám đốc
một số công ty trách nhiệm hữu hạn ở Kon Tum và Thành phố Hồ Chí Minh
khai thác bất hợp pháp. Một số lượng gỗ lớn bị khai thác trong thời gian dài
mà không bị phát hiện đã minh chứng sự buông lỏng quản lý của các cơ
quan có trách nhiệm, đặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác
(Đài Truyền hình Việt Nam, VTV1, ngày 15-12-2003). Theo số liệu thống
kê chưa đầy đủ, sáu tháng đầu năm 2008, cả nước đã xảy ra khoảng 15.000
vụ vi phạm lâm luật, hàng chục vụ kiểm lâm bị lâm tặc tấn công. Do giá trị
mang lại từ lâm sản lớn, cho nên bọn lâm tặc không từ một thủ đoạn nào để
3
đối phó, hành hung người thi hành công vụ (Báo Nhân dân, ngày 14-122008).
Nguyên nhân của tình trạng trên là nhu cầu phát triển kinh tế, tốc độ
đô thị hóa cao, tình trạng du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số, tình
trạng đói nghèo... Đặc biệt là cơ chế chính sách và tổ chức quản lý lâm
nghiệp chưa phù hợp, hệ thống pháp luật về bảo vệ rừng chưa hoàn thiện và
đồng bộ, rất nhiều vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng chưa có cơ chế xử
lý vi phạm pháp luật một cách nghiêm minh đã dẫn đến tình trạng phá rừng
ở nhiều nơi mà không thể kiểm soát.
Trên cơ sở thực trạng trên việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) là hết
số giải pháp có tính khả thi đối với việc hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp
luật.
Nhóm 2: Những nghiên cứu về pháp luật và quản lý nhà nước
(QLNN) bằng pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR
Luận văn thạc sĩ luật học " Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo
vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2004. Tác
giả đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ rừng, đề xuất
các giải pháp đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng ở Việt Nam
hiện nay.
Luận văn thạc sĩ luật học, luận án tiến sĩ luật học "Quản lý nhà
nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của
Hà Công Tuấn, năm 2002, 2006 tác giả đã làm rõ những yếu tố có liên
quan đến lĩnh vực QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng đồng thời đề cao vai
trò của pháp luật trong QLNN về bảo vệ rừng để đề xuất các giải pháp để
nâng cao hiệu lực pháp luật trong QLNN về bảo vệ rừng.
Luận văn thạc sĩ luật học "Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà
nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của Võ Mai Anh,
năm 2006. Tác giả nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong lĩnh vực
BV&PTR ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về vi phạm
pháp luật hoặc có đề cập đến lĩnh vực BV&PTR nhưng cũng mới chỉ đề cập
đến vấn đề hoàn thiện pháp luật nói chung hoặc vai trò của pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ rừng chứ chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về cơ chế
pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR. Có thể nói đây là
lần đầu tiên việc nghiên cứu các chế định về xử lý vi phạm pháp luật để
5
hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
6
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như
phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê...cũng được sử dụng
trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết qui định của
pháp luật về cơ chế pháp lý xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
BV&PTR.
- Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực BV&PTR; những hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng cơ
chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR.
- Đề xuất được một số phương hướng và giải pháp có tính khả thi
nhằm hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong cơ chế pháp lý về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
8
lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả
năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng.
Đến nay chưa có một khái niệm chính thống và đầy đủ nào về bảo
vệ rừng, tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì bảo vệ rừng là tổng thể
hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi
công dân nhằm bảo toàn, bảo vệ tài nguyên rừng trên cơ sở kết hợp hài hòa
giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và việc khai thác, sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên nhằm phát triển hệ sinh thái rừng, bảo vệ đất, bảo vệ
nguồn nước, bảo vệ tính đa dạng sinh học.
Theo đó, bảo vệ rừng sẽ bao gồm các hoạt động sau:
- Bảo vệ hệ sinh thái rừng
- Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng
- Phòng cháy, chữa cháy rừng
- Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng
- Kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất,
tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR.
Như vậy, hoạt động xử lý vi phạm pháp luật cũng là một trong số
những hoạt động quan trọng nhằm ngăn ngừa những hành vi gây thiệt hại
đến tài nguyên rừng. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học
tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực BV&PTR.
1.1.2. Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ và phát triển rừng
1.1.2.1. Khái niệm
Trong đời sống kinh tế - xã hội, các yêu cầu của pháp luật thường
được các chủ thể pháp luật: công dân, cán bộ công chức, cơ quan, tổ chức,
nhà nước, xã hội… tự giác nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên, do nhiều
tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo những mục tiêu, yêu cầu
của pháp luật [21, tr. 593].
Như vậy, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
BV&PTR là sự ràng buộc có tính hệ thống được tổ chức thực hiện trên cơ
sở các nguyên tắc, các quy định của pháp luật và được tổ chức, đảm bảo
cũng như thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá
trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực BV&PTR.
10
1.1.2.2. Đặc điểm
Một là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
BV&PTR có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá
nhân tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR:
Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR
có đối tượng tác động khá đặc biệt đó là các quan hệ xã hội phát sinh khi
các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến rừng và
đất rừng- hai loại tài nguyên đặc biệt. Trong lĩnh vực BV&PTR, thì những
hành vi vi phạm đến tài nguyên rừng và đất rừng sẽ bị xử lý bằng pháp luật
trong đó bao gồm: Thực vật rừng có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người
trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, động vật rừng
sống hoang dã trong rừng, đất rừng, vi sinh vật rừng. Đây là những loại tài
nguyên thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Vì vậy để
xác lập một trật tự trong lĩnh vực này nhà nước ban hành hàng loạt các
nguyên tắc, các quy tắc nhất định để đảm bảo cho hoạt động BV&PTR theo
đúng định hướng đã đặt ra trước đó, mục tiêu cuối cùng là bảo vệ được tài
nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững. Đối tượng tác động của cơ
chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là các
thể hành vi đó, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý.
Hai là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
BV&PTR có sự tham gia, phối hợp của nhiều loại chủ thể với vai trò khác
nhau
Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp,
thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Trong cơ chế pháp lý về
xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR thì Chính phủ có vai trò rất lớn đó là
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền nhằm xác lập
các nguyên tắc pháp lý làm cơ sở cho hoạt động xử lý vi phạm pháp luật
trên thực tế. UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông qua hoạt động
chấp hành - điều hành của mình UBND thực hiện chức năng QLNN trên
mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính- chính trị trong phạm vi
lãnh thổ nhất định. Trong phạm vi lãnh thổ được phân công, Chủ tịch
UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các
hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR nhằm ngăn ngừa có hiệu quả mọi vi
phạm hành chính xảy ra.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất QLNN về BV&PTR
trong cả nước. Bộ NN&PTNT là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở
12
Trung ương, là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn. Chịu trách nhiệm trực
tiếp trong lĩnh vực đảm bảo việc thực thi pháp luật về BV&PTR có hệ
thống kiểm lâm trong đó bao gồm Cục kiểm lâm ở cấp trung ương, chi cục
kiểm lâm ở cấp tỉnh, hạt kiểm lâm ở cấp huyện và kiểm lâm viên địa bàn ở
cấp xã. Đây là những cơ quan theo quy định của Chính phủ có thẩm quyền
tòa án áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội theo quy định tại
BLHS 1999; trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan
quản lý hành chính nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm
pháp luật hành chính, xâm hại tới các trật tự quản lý hành chính trong lĩnh
vực BV&PTR, được quy định tại nghị định 99/2009/NĐ-CP; trách nhiệm
kỷ luật nhà nước áp dụng đối với các cá nhân có hành vi vi phạm nội quy
của các tổ chức có liên quan đến hoạt động BV&PTR.
Thông qua quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể mang quyền
lực nhà nước trên cơ sở quy định pháp luật hiện hành để đưa ra các quyết định
xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định xét xử khi có hành vi vi phạm
pháp luật xảy ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đảm bảo mục tiêu
BV&PTR. Vì vậy quá trình này luôn mang tính quyền lực nhà nước, được
tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thể hiện ý chí nhà nước.
Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật có điều kiện, quy trình,
thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ. Thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực này được quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính và chương 5 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP, thủ tục để truy cứu trách
nhiệm hình sự trong lĩnh vực này được quy định chặt chẽ tại Bộ luật Tố
tụng hình sự.
1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI
PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
1.2.1. Văn bản quy phạm pháp luật với tính cách là cơ sở pháp lý
cho quá trình xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát
triển rừng
Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là văn bản do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lâm nghiệp ban hành theo thủ tục,
trình tự luật định, trong đó có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được nhà
nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội được áp dụng
nhiều lần trong thực tế đời sống. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm
xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật.
Như vậy việc xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR được quy định
chủ yếu tại BLHS 1999 (phần các tội phạm liên quan đến bảo vệ rừng) và
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định có liên quan, bao
gồm hai hình thức chính là xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách
nhiệm hình sự.
15
1.2.1.1. Các văn bản quy phạm pháp luật hành chính về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng
Các văn bản quy phạm pháp luật hành chính về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực BV&PTR bao gồm: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008, Nghị định số 77/CP ngày
29/1/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; được thay thế bằng Nghị định số
139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 và được thay thế bằng Nghị định
159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 nay được thay thế bằng Nghị định
99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì xử phạt vi phạm hành chính
về BV&PTR được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức trong nước
và nước ngoài có hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của Nhà
nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản xảy ra trên lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa gây thiệt hại hoặc đã gây
thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Theo tinh thần của Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý
Không bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng khi được phép
sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, các thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt
và bảo quản, sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng. Ở những khu
rừng tập trung mà chủ rừng không có phương án phòng cháy, chữa cháy
và công trình phòng cháy, chữa cháy rừng. Tháo nước dự trữ phòng cháy
trong mùa khô hanh. Trong mùa khô hanh không tổ chức tuần tra, canh
gác rừng để ngăn chặn cháy rừng tự nhiên do mình quản lý.
- Chăn thả gia súc trong những khu rừng đã có quy định cấm: Chăn
thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng.
Chăn thả gia súc trong rừng trồng dặm cây con, rừng trồng mới dưới ba
năm, rừng khoanh nuôi tái sinh đã có quy định cấm chăn thả gia súc.
- Vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng: Chủ rừng không
thực hiện một trong các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rừng theo quy
định của pháp luật về bảo vệ thực vật. Sử dụng thuốc trừ sâu bệnh hại rừng
không được phép sử dụng tại Việt Nam hoặc không chấp hành các quy
định về kiểm dịch. Chủ rừng không báo cáo kịp thời cho cơ quan bảo vệ và
kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật để được hướng dẫn, hỗ trợ, xử lý
sâu, bệnh vì vậy mà phát dịch với diện tích từ 3 ha rừng trở lên.
17
- Lấn, chiếm rừng trái phép: là hành vi dịch chuyển ranh giới chiếm
giữ trái pháp luật diện tích rừng của cá nhân, tổ chức khác.
- Phá hoại các công trình phục vụ việc BV&PTR: Phá hoại các
công trình phục vụ việc BV&PTR là hành vi gây thiệt các công trình phục
vụ cho công tác BV&PTR (như: nhà trạm, chòi canh lửa rừng, biển báo,
bảng quy ước tuyên truyền bảo vệ rừng; bể, hồ chứa nước chữa cháy rừng;
các loại phương tiện, công cụ sử dụng trong việc BV&PTR) làm thay đổi
hiện trạng hoặc hư hỏng các công trình đó.
nhiên gỗ rừng trồng, gỗ vườn có nguồn gốc hợp pháp nhưng không chấp
hành các quy định hiện hành của Nhà nước về trình tự, thủ tục quản lý.
Hình thức xử phạt chủ yếu là: Phạt cảnh cáo áp dụng với cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính lần đầu, chưa gây thiệt hại hoặc mức độ gây thiệt
hại không đáng kể mà pháp luật quy định, được phạt cảnh cáo, có tình tiết
giảm nhẹ hoặc đối với hành vi do người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới
16 thực hiện các hành vi do cố ý; Phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản là 500.000.000 triệu đồng. Ngoài ra người vi phạm còn có thể bị tước
quyền sử dụng giấy phép; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; Người
nước ngoài vi phạm còn có thể bị xử phạt trục xuất.
Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:
Đối với hệ thống cơ quan kiểm lâm:
Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo hoặc
phạt tiền đến 200.000 đồng. Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền phạt
cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 5.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng. Hạt
trưởng Hạt Kiểm lâm cấp huyện, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ,
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng; Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ
động (Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng),
có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang
vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến
30.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả. Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm
lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước
quyền sử dụng Giấy phép khai thác; tước quyền sử dụng Giấy phép sử
dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật,
Chứng chỉ hành nghề; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt;
Giấy phép lái xe; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành
lực cao hơn (nâng từ mức 100.000 đồng (Nghị định 159/2004/NĐ-CP) lên
mức 200.000 đồng (Nghị định 99/2009/NĐ-CP) trong việc xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Ngoài ra, mức độ vi phạm làm căn
cứ để xử phạt vi phạm hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự thường
được xác định dựa trên cơ sở diện tích rừng bị phá hoặc khối lượng lâm
sản, động thực vật bị xâm hại. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như
20
cảnh sát nhân dân, hải quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên
ngành, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm lâm trong
việc kiểm tra, thanh tra ngăn chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Khi phát hiện hành vi vi
phạm thì lập biên bản, chuyển giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm
xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiểm lâm tiếp thu hồ sơ xử lý chịu trách nhiệm thanh toán những
chi phí hợp lý trong quá trình bắt giữ, bảo quản tang vật cho cơ quan
chuyển giao hồ sơ.
Trường hợp một người cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi vi
phạm hành chính thuộc lĩnh vực xử lý của các ngành khác thì chuyển toàn
bộ hồ sơ vụ vi phạm đến UBND cấp có thẩm quyền ở nơi xảy ra vi phạm
để xử lý.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như cảnh sát nhân dân, hải
quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành, có trách nhiệm phối
hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra ngăn
chặn các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản. Khi phát hiện hành vi vi phạm thì lập biên bản, chuyển
giao hồ sơ, tang vật cho cơ quan kiểm lâm xử lý theo quy định của pháp
luật.
việc phân định các tội danh trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở trong BLHS năm
1999 đã bao quát hơn phạm vi các đối tượng liên quan đến rừng cần được
pháp luật bảo vệ. Theo đó, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BV&PTR bị
xử lý theo các điều luật Điều 175: Tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng; Điều 176: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng; Điều
189: Tội hủy hoại rừng; Điều 190: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ
động vật hoang dã quý hiếm; Điều 240: Tội vi phạm quy định về phòng
cháy, chữa cháy; Theo đó các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự bao
gồm: Khai thác trái phép cây rừng; vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép; giao
rừng, thu hồi rừng trái pháp luật; cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng
trái pháp luật; cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; đốt
rừng trái phép; phá rừng trái phép; săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái
phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ; ở
những khu rừng tập trung mà chủ rừng không có phương án phòng cháy,
chữa cháy và công trình phòng cháy, chữa cháy rừng; Đốt lửa, sử dụng lửa
trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng, phân khu phòng hộ rất
xung yếu; đốt lửa, sử dụng lửa ở các khu rừng dễ cháy, thảm thực vật khô
nỏ vào mùa hanh khô; đốt lửa, sử dụng lửa gần kho, bãi gỗ khi có cấp dự