BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỘ TỊCH, THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SÓC
SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỘ TỊCH, THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SÓC SƠNTHÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1
2.
Tình hình nghiên cứu của đề tài.
2
3.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
4
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
5
6.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm quản lý hộ tịch.
14
1.1.3.
Đặc điểm của quản lý hộ tịch
20
1.2.
Vai trò của quản lý hộ tịch.
22
1.3.
Nguyên tắc quản lý hộ tịch.
26
1.4. Mục tiêu, yêu cầu của quản lý hộ tịch………………………………………………………………..………28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ HỘ TỊCH VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HỘ
TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN
32
2.1.
1.
Tính cấp thiết của đề tài.
4
Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực
hiện. Hoạt động này là cơ sở để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người,
quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa
học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước. Tại hầu hết các nước, các sự kiện
hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn,
nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được quản lý
chặt chẽ.
Tại Việt Nam hiện nay, quản lý hộ tịch được thực hiện theo Luật hộ tịch 2014.
Trước khi luật mới có hiệu lực, các vấn đề về hộ tịch được điều chỉnh bằng nghị
định 158/2005/NĐ-CP của chính phủ về hộ tịch. So với nghị định 158/2005/NĐCP thì luật mới ra đời đã có những quy định tiến bộ hơn, hỗ trợ người dân nhiều
hơn trong công tác đăng ký hộ tịch, giúp việc quản lý hộ tịch của các cơ quan chức
năng được dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, sau 06 tháng luật có hiệu lực trên
thực tế, đã nảy sinh ra những khó khăn, như : những quy định của Luật đòi hỏi khá
cao mà thực tế hiện hành chưa đáp ứng được kịp thời, luật mới thi hành nên còn
nhiều quy định còn gây vướng mắc chưa có văn bản giải thích, cơ sở vật chất,
nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị sẵn sằng để tiếp cận với những thay đổi….
Những khó khăn thực tiễn như vậy, dẫn đền việc thực hiện đăng ký và quản lý hộ
tịch theo Luật hộ tịch chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn.
Là một huyện của thành phố Hà Nội, một trong bốn thành phố được thí điểm thực
hiện cấp số định danh cá nhân theo luật Hộ tịch, khi triển khai thi hành Luật, huyện
Sóc Sơn cũng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để thực hiện tốt công tác quản lý hộ tịch
trên địa bàn. Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy, cấp chính quyền nên quản lý
- Bài viết “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay”, tác giả Đinh
Ngọc Giang, tạp chí Quản lý nhà nước, số 01/2015.
Đến khi Luật hộ tịch 2014 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đến
nay, thì số lượng các công trình nghiên cứu về hộ tịch chưa nhiều. Có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
6
-
Bài “ Đào tạo, bồi dưỡng công chức tư pháp – hộ tịch đáp ứng yêu cầu triển
khai Luật hộ tịch” tác giả Trần Thu Hường, báo Dân chủ và pháp luật số chuyên đề
4/2015.
-
Bài “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay”, tác giả Đinh Ngọc
Giang, báo Quản lý nhà nước, số 01/2015.
-
Bài viết “Một số vấn đề về triển khai luật hộ tịch”, tác giả Uyên Nhi, Báo
Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề 4/2015.
Các công trình nghiên cứu trên đây nhìn chung đã cung cấp một khối lượng kiến
thức phong phú về những vấn đề lý luận về hộ tịch, quản lý hộ tịch, những vấn đề
bất cập khi thực hiện công tác quản lý hộ tịch theo nghị định 158/NĐ-CP 2005 của
Chính phủ, định hướng về việc xây dựng văn bản luật hộ tịch thay thế Nghị định
158/NĐ-CP về hộ tịch cũng như bình luận về những nội dung cơ bản của Luật Hộ
tịch 2014, về công tác chuẩn bị để thi hành Luật hộ tịch và những bất cập nảy sinh
định về quản lý hộ tịch và để công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn Huyện Sóc Sơn
thực hiện có hiệu quả.
Về không gian, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu việc thực hiện công tác
quản lý hộ tịch trên địa bàn Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và giới hạn trong
phạm vi thời gian là các văn bản pháp luật quy định về quản lý hộ tịch trước khi
Luật hộ tịch 2014 ra đời, và quản lý hộ tịch trong Luật Hộ tịch 2014.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ hơn cơ sở lý luận, thực tiễn của quản
lý hộ tịch ở cấp xã, và cấp huyện . Đánh giá thực trạng quản lý về hộ tịch ở cấp xã,
cấp huyện ở Sóc Sơn thời gian qua, nêu được những kết quả đạt được, hạn chế và
những nguyên nhân của chúng. Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn Huyện Sóc Sơn.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ tìm hiểu các nội dung liên quan
thông qua trả lời các câu hỏi sau:
8
-
Khái niệm quản lý hộ tịch, vị trí vai trò và đặc điểm của quản lý hộ tịch là gì?
-
Quản lý hộ tịch tại cấp huyện, xã được quy định trong pháp luật hiện hành như
thế nào?
-
Thực tế thi hành quy định pháp luật hộ tịch tại Huyện Sóc Sơn, Hà Nội ra sao?
9
Là luận văn nghiên cứu về việc quản lý hộ tịch tại cấp xã và cấp huyện theo Luật
hộ tịch 2014, tác giả mong muốn có thể đóng góp một số vấn đề khoa học và thực
tiễn về quản lý hộ tịch cụ thể như sau:
Thứ nhất, luận văn đưa ra những quan niệm, đặc điểm của hộ tịch và quản lý hộ
tịch, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hộ tịch.
Thứ hai, luận văn đưa ra những số liệu, thống kê thực tế về việc thi hành luật và
công tác đăng ký quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện. Từ đó rút ra những nhận xét
đánh giá về mức độ cũng như hiệu quả thi hành Luật Hộ tịch
Thứ ba, dựa vào những thực tế của công tác hộ tịch, luận văn đã đúc kết những
nguyên nhân và tìm ra những đề xuất đề hoàn thiện hơn pháp luật về hộ tịch và
những kiến nghị để việc thi hành luật đạt được hiệu quả cao hơn
9. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được cấu trúc làm ba chương gồm:
Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý hộ tịch.
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý hộ tịch và thực tiễn quản lý hộ tịch trên
địa bàn Huyện Sóc Sơn – Hà Nội
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1.1.
Khái quát về hộ tịch và quản lý hộ tịch
10
11
“Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”5;
"Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong
một địa phương"6;
Bên cạnh những cách giải nghĩa của các từ điển Hán - Việt nói trên, một số từ điển
lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn. Dưới đây là một số ví dụ:
"Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo
từng hộ"7 ;
"Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp
luật"8.
"Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở
thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp
cho từng hộ để xuất trình khi cần"9;
Như vậy, nghĩa của từ "hộ tịch" xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu
khác nhau, thậm chí, có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản
giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu. Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm
lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ
biến.
Về khía cạnh pháp lý
Ở nước ta , khái niệm “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình
giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa : Tác
Hoàng Thúc Trâm: Hán - Việt tân từ điển, Tân Sanh ấn quán, Sài Gòn, 1974, tr. 296.
Bửu Kế: Từ điển Hán - Việt từ nguyên, Nxb. Thuận Hoá, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 814.
6
Nguyễn Lân (chủ biên): Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1989, tr. 321.
7
Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên): Từ điển tiếng Việt, in lần thứ năm, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr. 442.
sinh trên cơ sở ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, đó là: sự
kiện sinh , hôn nhân và tử ; - Chứng thư hộ tịch là loại giấy tờ pháp lý có giá trị
chứng minh chính xác các đặc điểm nhân thân cơ bản của một cá nhân.
Quan niệm của khoa học pháp lý nước ngoài xem xét từ khía cạnh pháp lý, khái
niệm hộ tịch với tính cách là một thuật ngữ pháp lý được định nghĩa trong một số
tài liệu nước ngoài như sau: Trong tiếng Anh, khái niệm “Civil Registration” được
13
hiểu là “việc đăng ký đúng hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong
thời hạn quy định10”.Trong tiếng Đức, khái niệm “Das Personenstandsregister”
được hiểu là “việc đăng ký công về tình trạng dân sự của mỗi cá nhân được thực
hiện bởi các cơ quan hộ tịch11”. Trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, chế định
hộ tịch là một trong những chế định hết sức quan trọng. Tuy nhiên luật dân sự
Pháp không đưa ra khái niệm về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm về chứng thư hộ
tịch. Khái niệm “Civil Registration” được Liên hợp quốc định nghĩa trong tài liệu
“Principles and recommendation for a Vital Statistics System” xuất bản năm 2002
như sau: “đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tính
dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh , luật
hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”12,13
Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm
pháp lý tiếng Việt. Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một
cách minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo
nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đã có rất
nhiều cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề tìm ra một khái niệm khác thay thế khái
niệm “ hộ tịch” nhưng do khái niệm này đã được sử dụng lâu dài, thông dụng, ăn
sâu vào tiềm thức người dân cho nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế
không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng
giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng
khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn
con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác
định lại dân tộc;
- Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch
các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái
pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.”
Tới Luật hộ tịch 2014 thì khái niệm hộ tịch cũng tương tự như các văn bản trước,
đó là “các sự kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra tới khi
chết đi”14. Khái niệm đăng ký hộ tịch là “việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác
nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân...”15
Sổ hộ tịch ở đây là “sổ giấy được lập và lưu giữ tại cơ quan đăng ký hộ tịch để xác
nhận hoặc ghi các sự kiện hộ tịch”16. Sổ hộ tịch được coi là sổ gốc lưu trữ các sự
, Khoản 1 điều 2 Luật Hộ tịch 2014
14 15
16
Khoản 3 điều 4 Luật Hộ tịch 2014.
15
kiện hộ tịch của cá nhân, khi cá nhân tới đăng ký hộ tịch tại các cơ quan đăng ký
hộ tịch, bên cạnh việc cấp cho cá nhân các giấy tờ hộ tịch để chứng minh sự kiện
hộ tịch thì các cơ quan đăng ký hộ tịch phải ghi lại các thông tin hộ tịch chính xác
vào sổ hộ tịch. Sổ hộ tịch vừa giúp lưu trữ các sự kiện hộ tịch của công dân, vừa
giúp cho công tác quản lý và theo dõi hộ tịch được thuận lợi và chính xác hơn. Bên
cạnh đó, sổ hộ tịch còn giúp cho công dân trong việc xin bảo sao các giấy tờ hộ
tịch. Về giá trị pháp lý, “Sổ hộ tịch là tài sản quốc gia, được lưu trữ vĩnh viễn theo
quy định của pháp luật về lưu trữ, Cơ quan lưu giữ Sổ hộ tịch có trách nhiệm bảo
Khoản 3,4 điều 12 Nghị định 123/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch
16
Như vậy, trải qua các văn bản pháp luật về Hộ tịch, thì khái niệm hộ tịch và đăng
ký hộ tịch dường như không có nhiều sự thay đổi. Chỉ có sự điều chỉnh trong
việc phân định rõ ràng về các trường hợp xác nhận vào Sổ hộ tịch và trường hợp
ghi vào Sổ hộ tịch. Khái niệm “hộ tịch” vẫn luôn có một sự ổn định, tạo thành một
khái niệm pháp lý quen thuộc cho mỗi người dân, để mọi người nhận thức và ghi
nhớ những việc hộ tịch mình cần phải làm hay đăng ký với cơ quan quản lý hộ
tịch.
Hộ tịch có những đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt với các khái niệm như hộ
khẩu, hộ chiếu…. Với đặc thù là khái niệm gắn với cá nhân của mỗi con người, do
vậy nó mang đặc điểm gắn với những giá trị nhân thân của người đó. Cụ thể:
-
Thứ nhất, là quyền nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người. Điều 24 Bộ
luật dân sự 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là
quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, quyền nhân thân ở đây là những
giá trị gắn liền với mỗi cá nhân, giúp phân biệt cá nhân này với cá nhân khác,
không thể có điểm chung về nhân thân của người này với người khác. Mỗi người
chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết, các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân
tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người.
Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người từ khi sinh ra đến khi
chết.
-
các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người
(“đinh”) bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“điền”) - là hai vấn đề đã từng được thực
hiện một cách bài bản, có hệ thống. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác
quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và phát
triển. Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng
ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ tiếp tục
được áp dụng ở Việt Nam. Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng
và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào.
18
Ngày 08/5/1956, Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ
hộ tịch. Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP kèm
theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế Nghị định số 764/TTg. Bước vào
thời kỳ đổi mới, căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia
đình và các luật liên quan khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh
lĩnh vực hộ tịch18 (cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài)19. Tới lúc
này, khi các nghị định điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch được ra đời thì khái niệm
quản lý hộ tịch mới được định nghĩa một cách cụ thể nhất.
Khái niệm quản lý hộ tịch được đề cập đến lần đầu tiên đó là trong Nghị định số
83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Quản lý hộ tịch được xem là
“công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để
theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng và chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình”20
Kế thừa nghị định 83/1998/NĐ-CP, nghị định số 158/2005/NĐ-CP tiếp cận khái
niệm quản lý hộ tịch cũng từ góc độ xác định mục đích; theo đó quản lý hộ tịch
là:“ nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi
thay đổi đó phải được sự xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải
được tiến hành theo một trình tự thủ tục rất chặt chẽ22.
Rất khó để có thể tách rời hai khái niệm: “đăng ký hộ tịch” và “quản lý hộ tịch”.
Bởi lẽ đăng ký hộ tịch cũng là một yếu tố, một “động tác” cơ bản của hoạt động
quản lý hộ tịch. Khi xem xét khái niệm đăng ký hộ tịch và các hoạt động đăng ký
hộ tịch, ta sẽ nhận thấy rõ được điều này.
Đăng ký hộ tịch chính là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, hoặc
ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân:
Một là, xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; khai tử;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; bổ
sung thông tin hộ tịch.
Trong đó, thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay
đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của
pháp luật dân sự hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã
đăng ký theo quy định của pháp luật
Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại
dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.
Lê Thị Minh Hiếu (2013), Thực tiễn pháp luật về Hộ tịch trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ luật
học, Hà Nội 2013,tr 11
22
20
Cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi những thông tin
hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch.
Bổ sung hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cập nhật thông tin hộ tịch
còn thiếu cho cá nhân đã được đăng ký.
Hai là, ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định
quy phạm pháp luật hộ tịch. Vì vậy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về hộ tịch là nội dung hàng đầu trong các nội dung quản lý hộ tịch. Trên cơ sở văn
bản quy phạm pháp luật về hộ tịch đã được ban hành, công việc tiếp theo là hướng
dẫn và tổ chức thực hiện văn bản đó.
- Thứ hai, hướng dẫn chỉ đạo, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn hộ tịch.
Khi đã có một hệ thống văn bản hộ tịch hoàn chỉnh, việc tiếp theo đó là phải tiến
hàn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các công chức trực tiếp thực hiện công
tác thi hành pháp luật, có những hưỡng dẫn chỉ đạo cần thiết để làm rõ các quy
định của pháp luật và kịp thời giải quyết những tính huống phát sinh.
- Thứ ba, ban hành, quản lý hướng dẫn việc sử dụng thống nhất các loại sổ sách,
biểu mẫu hộ tịch. Các loại sổ sách hay biểu mẫu chính là công cụ cần thiết để công
tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thuận lợi và chính xác nhất, đảm bảo tính
thống nhất và đồng bộ trên phạm vi cả nước, công tác lưu trữ cũng dễ dàng hơn.
- Thứ tư, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy
định pháp luật về hộ tịch. Việc thực hiện thành công Luật hộ tịch hay không chủ
yếu dựa vào sự tự giác chấp hành của người dân và sự hiểu biết pháp luật của họ về
các giấy tờ hộ tịch. Bởi lẽ đặc thù của Luật hộ tịch không giống như các luật khác,
Luật Hộ tịch không có phần quy định về chế tài. Hơn nữa mục đích sâu xa trong
đăng ký hộ tịch đó là: giúp nhà nước nắm bắt tình hình dân cư và giúp cho công tác
quản lý dân cư của nhà nước, do vậy nhà nước phải tìm mọi biện pháp và cách
thức để có thể nắm được các vấn đề hộ tịch của nhân dân trên cả nước. Chính vì
22
vậy, việc tuyên truyền phổ biến để nhân dân có ý thức tự giác đăng ký hộ tịch là
yếu tố quyết đinh sự thành công của Luật Hộ tịch.
- Thứ năm, đăng ký hộ tịch, đây là việc làm quan trọng nhất để có thể quản lý hộ
tịch được tốt, bởi chỉ thông qua việc đăng ký hộ tịch, các cơ quan nhà nước mới có
thể nắm bắt được tình trạng hộ tịch trên địa phương mình từ đó đưa ra những thống
kê theo dõi, và ban hành các văn bản phù hợp để có thể điều chỉnh.
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm
quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước,
như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, hòa giải... chính
những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một
bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được
bảo đảm thực hiện.
- Quản lý hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền lực nhà
nước trong lĩnh vực hành pháp. Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý nhà nước về hộ
tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Ủy ban nhân dân, cơ quan
chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác tư pháp – hộ
tịch). Những chủ thể này được nhà nước trao quyền đặc biệt, và việc trao quyền
được quy định cụ thể trong luật, để giới hạn những việc được làm, những việc
không được làm, quyền hạn và nghĩa vụ.
- Quản lý hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất được tổ chức chặt chẽ. Để bảo
đảm tính pháp chế trong hoạt động quản lý hộ tịch, bộ máy các cơ quan hộ tịch
được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương đến địa phương, nhờ đó
các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích
chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương
24
tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa
phương hay vùng miền khác nhau trong việc quản lý hộ tịch.
Sự di cư trong dân số là không thể tránh khỏi của mỗi quốc gia nên nhà nước
không thể ép buộc mỗi cá nhân phải đăng ký hộ tịch tại một địa phương nhất định.
Nhà nước, để có thể quản lý tốt dân số của mình, phải linh hoạt và phối kết hợp
giữa các địa phương với nhau để trao đổi thông tin về biến động dân cư, nắm bắt
tình hình dân số để có những chính sách phù hợp trong quản lý hộ tịch. Đây chính
là lý do đòi hỏi quản lý hộ tịch phải có tính thống nhất, từ trung ương tới địa
phương, từ địa phương này sang địa phương khác.