BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------------PHAN NGỌC TRÂM
THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG
LAI ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TỪ HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Kiều Giang
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên
và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong
suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Tiến sĩ Nguyễn Kiều Giang – thầy giáo kính mến đã hết lòng
giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
1
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở
HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI
6
1.1. Khái quát về nhà ở hình thành trong tương lai
6
1.1.1. Khái niệm
6
1.1.1.1. Tài sản hình thành trong tương lai
6
1.1.1.2. Nhà ở hình thành trong tương lai
11
1.1.2. Đặc điểm nhà ở hình thành trong tương lai
13
1.2. Thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
15
35
2.1.2.2. Nội dung của hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
36
2.1.3. Phân biệt hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và hợp
đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở
40
2.1.4. Trình tự thực hiện thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
41
2.2. Thực trạng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai hiện nay
46
2.2.1. Xác định tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai
46
2.2.2. Định giá nhà ở hình thành trong tương lai
51
2.2.3. Công chứng hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
55
2.2.4. Đăng ký giao dịch bảo đảm đối với nhà ở hình thành trong tương lai
61
2.2.5. Xử lý tài sản thế chấp
85
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
1
~6~
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi nền kinh tế thị trường ra đời và phát triển ở nước ta từ những
năm 1980, tín dụng Ngân hàng đã hình thành và ngày càng đóng vai trò
quan trọng. Với điều kiện nền kinh tế nông nghiệp trước đây đang từng
bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu hỗ trợ về vốn đối với các
tổ chức, cá nhân là điều tất yếu. Trong đó, tín dụng Ngân hàng là hình thức
tín dụng chủ yếu; là điều kiện để bảo đảm quá trình sản xuất kinh doanh
diễn ra thường xuyên, liên tục; là công cụ huy động, tập trung vốn để thúc
đẩy sự phát triển kinh tế và góp phần nâng cao đời sống người dân; cao
hơn, tín dụng Ngân hàng còn là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Với
tầm quan trọng như vậy, cần có nhiều biện pháp bảo đảm để hoạt động này
phát triển lành mạnh, trong đó có biện pháp bảo đảm tiền vay của Tổ chức
tín dụng.
Trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
hiện nay, cho vay thế chấp bằng nhà ở hình thành trong tương lai, hay còn
gọi là sản phẩm “cho vay mua nhà dự án” đối với những dự án chưa hoàn
thành là một chính sách tín dụng linh hoạt nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho
khách hàng có nhu cầu mua nhà, căn hộ để ở. Do vậy, hoạt động này ngày
càng thu hút được sự quan tâm của đông đảo của nhiều tầng lớp nhân dân.
cứu, sách báo đi sâu vào phân tích. Những năm gần đây, sự phát triển mạnh
mẽ của các Tổ chức tín dụng và thị trường bất động sản, pháp luật về thế
chấp nhà ở hình thành trong tương lai đã nhận được sự quan tâm nhiều hơn
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bằng việc ban hành một loạt các
văn bản pháp luật điều chỉnh về tín dụng, điều kiện thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai, thủ tục công chứng, đăng ký thế chấp, giao dịch bảo
~8~
đảm,…. Vì vậy, cũng có khá nhiều nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn
đề này như “Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay
của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ của tác giả
Hoàng Anh Tuấn năm 2006; “Một số vấn đề về thế chấp tài sản tại Ngân
hàng thương mại”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Thị Thu Hằng năm
2010; “Pháp luật về bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai trong
hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam”, Luận văn
thạc sỹ của tác giả Lê Thị Mai Hương năm 2010; “Tài sản thế chấp và xử
lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành”, Luận văn tiến sỹ của tác giả Vũ Thị Hồng Yến năm 2013; “Thế
chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn
thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thanh Thúy năm 2014;…
Tuy nhiên, do sự thay đổi các quy định pháp luật như Luật nhà ở năm
2014, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Công chứng năm 2014
cùng một số nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành về việc nhận thế chấp,
đăng ký thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với nhà ở HTTTL
như Thông tư số 08/2014/TT-BTP, Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLTNHNN-BXD-BTP-BTNMT, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTPBTNMT-NHNN, Thông tư số 26/2015/TT-NHNN…Tính đến nay, chưa có
công trình nghiên cứu nào phân tích chuyên sâu về quy định mới cũng như
chỉ ra các bất cập, vướng mắc trong thực thi pháp luật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp
nhà ở hình thành trong tương lai.
5. Phương pháp nghiên cứu
~ 10 ~
Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương
pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các luận điểm nghiên cứu nêu trong
luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa lý luận, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các
khái niệm tài sản, tài sản hình thành trong tương lai, nhà ở hình thành trong
tương lai, thế chấp, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai,… và hệ
thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp bằng
nhà ở hình thành trong tương lai.
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn là công trình nghiên cứu có giá trị tham
khảo cho những người làm công tác pháp luật trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện những quy định của pháp luật về hoạt động thế chấp có tài
sản bảo đảm là nhà ở hình thành trong tương lai tại Ngân hàng thương mại
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn bao gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai
Chương II: Thực trạng pháp luật thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng tín dụng
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp nhà ở
~ 12 ~
tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng cũng có quy định tương tự: “Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình
thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với tổ
chức tín dụng.”2. Theo đó, tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là
“tài sản hình thành từ vốn vay”, thế chấp tài sản hình thành trong tương lai
chỉ nhằm mục đích vay vốn để hình thành nên tài sản đó mà không được sử
dụng vào mục đích nào khác. Quy định này tạo điều kiện cho Ngân hàng có
thể kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay của khách, theo dõi được
tiến độ hình thành tài sản và trong trường hợp khách hàng mất khả năng
thanh toán thì Ngân hàng vẫn có thể xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay.
Sau một thời gian áp dụng, quy định tài sản hình thành trong tương lai
đã thể hiện một số điểm bất cập cũng như chưa rõ ràng: Một là, quy định
tài sản hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản hình thành sau
thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên bảo
đảm chỉ giới hạn tài sản hình thành trong tương lai ở vật, chưa đề cập đến
các dạng tài sản khác; Hai là, quy định mới chỉ thừa nhận tài sản hình
thành sau thời điểm ký kết giao dịch là tài sản hình thành trong tương lai,
chưa đề cập đến những tài sản đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở
hữu tại thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm; Ba là, quy định tài sản hình
thành trong tương lai “sẽ thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm” mà không
đưa ra một mốc thời gian cụ thể sẽ dẫn tới nhiều rủi ro cho bên nhận bảo
đảm do việc tài sản trong tương lai có thực sự thuộc quyền sở hữu của bên
bảo đảm hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
trong tương lai (do bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng
1 Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 1999 về giao dịch
bảo đảm.
kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm
mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm.” 4. Mặc dù đã giải thích cụ thể hơn
3 Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005
~ 14 ~
nhưng dựa vào quy định trên, vẫn chưa thể xác định tài sản nào là tài sản
hình thành trong tương lai do khái niệm không nêu bất kỳ căn cứ hay tiêu
chí nhận diện nào. Phải đến khi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22
tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về
giao dịch bảo đảm ra đời thì tài sản hình thành trong tương lai mới được
quy định một cách rõ ràng:
“Tài sản hình thành trong tương lai gồm:
a, Tài sản được hình thành từ vốn vay;
b, Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập
hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
c, Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở
hữu nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới
được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng
đất.”5
Thời điểm xác lập quyền sở hữu được xem là mốc để xác định tài sản
hình thành trong tương lai, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về thời điểm
chuyển quyền sở hữu đối với tài sản mua bán là thời điểm giao hàng, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác;
đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu là thời điểm hoàn thành thủ tục
đăng ký quyền sở hữu6. Vì vậy, đối với tài sản pháp luật bắt buộc đăng ký
quyền sở hữu, chỉ được xác lập quyền sở hữu khi đã hoàn thành thủ tục
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động
sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”7
Theo khái niệm tài sản tại Bộ luật Dân sự 2015, tài sản không chỉ gồm
“vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” như Bộ luật Dân sự 2005 mà
quy định rõ tài sản gồm động sản và bất động sản, thừa nhận tài sản hình
thành trong tương lai là một loại tài sản. Trong đó, quy định mốc thời gian
7 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017)
~ 16 ~
cụ thể để xác định tài sản hình thành trong tương bao gồm:
“a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản
sau thời điểm xác lập giao dịch.”8
Bằng khái niệm này, Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra cách hiểu thống
nhất giúp nhận diện tài sản hình thành trong tương lai đó là tài sản phải
chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu tại
thời điểm ký kết. Việc ghi nhận tài sản hình thành trong tương lai vào Bộ
luật Dân sự là một tiến bộ trong khoa học pháp lý và là một sản phẩm tất
yếu của nền kinh tế thị trường, khi mà các giao dịch kinh tế, dân sự, thương
mại ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
1.1.1.2. Nhà ở hình thành trong tương lai
Nhà ở hình thành trong tương lai là một loại tài sản hình thành trong
tương lai, giao dịch về nhà ở hình thành trong tương lai chịu sự điều chỉnh
chung của pháp luật về tài sản hình thành trong tương lai và pháp luật về
nhà ở.
Theo Khoản 1 Điều 3, Luật Nhà ở năm 2014 thì nhà ở "là công trình
xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia
nhưng cũng gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp
của tài sản khi không thể thực hiện quyền lợi của mình.
1.1.2. Đặc điểm nhà ở hình thành trong tương lai
Dựa vào khái niệm và các quy định của pháp luật về nhà ở hình thành
trong tương lai, có thể nhận xét nhà ở hình thành trong tương lai có một số
đặc điểm như sau:
Thứ nhất, nhà ở hình thành trong tương lai là một loại tài sản trong
quan hệ thế chấp và là đối tượng của quyền sở hữu.
Bộ luật Dân sự và pháp luật hiện hành đã ghi nhận nhà ở hình thành
trong tương lai là một loại tài sản được phép tham gia giao dịch thế chấp
nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy đây là một dạng tài sản đặc thù và
11 Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-NHNN
~ 19 ~
các giao dịch liên quan đến nhà ở hình thành trong tương lai sẽ tiềm ẩn
nhiều rủi ro so với các tài sản hiện có nhưng để bắt kịp với trình độ phát
triển kinh tế - xã hội hiện nay khi các giao dịch liên quan đến nhà dự án,
chung cư hình thành trong tương lai ngày càng nhiều thì không thể không
xem nó là một loại tài sản và loại nó ra khỏi các giao dịch thế chấp. Việc
thừa nhận nhà ở hình thành trong tương lai là một loại tài sản đã làm đa
dạng, phong phú hơn các loại tài sản tham gia giao dịch thế chấp, tạo điều
kiện dễ dàng cho chủ sở hữu sử dụng tài sản của mình một cách linh hoạt
hơn.
Nhà ở hình thành trong tương lai còn là đối tượng của quyền sở hữu đây là một chế định pháp lý quy định địa vị của chủ sở hữu tài sản, các căn
cứ xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền sở hữu, các quyền và nghĩa vụ của
chủ sở hữu, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu. Về nguyên tắc, chủ sở hữu
có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của
mình (nhưng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chủ thể khác),
Nhà ở là tài sản có giá trị tương đối lớn, có chứng nhận quyền sở hữu
rõ ràng và có tính rủi ro thấp hơn những loại tài sản thông thường khác do
vậy nhà ở được sử dụng phổ biến để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
trong giao dịch thế chấp với các Tổ chức tín dụng. Điều 342 Bộ luật Dân sự
2005 có quy định về thế chấp tài sản như sau: “Thế chấp là việc một bên
(sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp”. Về bản chất,
thế chấp được hình thành trên cơ sở một bên sử dụng tài sản thuộc sở hữu
của mình để bảo đảm cho một nghĩa vụ được xác lập giữa các bên trong
quan hệ. Tài sản thế chấp trong quan hệ này chỉ được đem ra xem xét và
giải quyết khi bên thế chấp không thực hiện được nghĩa vụ hoặc thực hiện
~ 21 ~
không đúng nghĩa vụ của mình đối với bên nhận thế chấp. Khi tài sản được
cam kết để bảo đảm thực thi cho một nghĩa vụ thì ngay lập tức chúng tạo ra
những quyền cụ thể cho bên nhận thế chấp và cũng đồng thời hạn chế
những quyền nhất định của bên thế chấp đối với tài sản đó.
Mặc dù được đề cập ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng khái
niệm thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai vẫn không được giải thích,
định nghĩa. Dựa vào quy định về khái niệm thế chấp tài sản và khái niệm
nhà ở hình thành trong tương lai, có thể rút ra một khái niệm như sau: “Thế
chấp nhà ở hình thành trong tương lai là việc một bên (gọi là bên thế chấp)
dùng nhà ở đang trong quá trình hình thành của mình để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (gọi là bên nhận thế chấp) và không
chuyển giao nhà ở (sau khi đã hình thành) cho bên nhận thế chấp.”
1.2.1.2. Đặc điểm thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
Nhà ở hình thành trong tương lai là một loại tài sản do vậy, thế chấp
chấp mới được nhận bàn giao nhà và đưa vào sử dụng. Bên nhận thế chấp
lúc này có quyền kiểm tra, giám sát tiến độ xây dựng nhà ở và chỉ được
phép xử lý tài sản khi bên thế chấp không thực hiện hoặc không đủ khả
năng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Hai là, giá trị bảo đảm thường phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
Với tư cách là biện pháp bảo đảm tín dụng, thông thường giá trị tài sản
bảo đảm cho nghĩa vụ sẽ phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm. Khi lựa
chọn tài sản thế chấp, Tổ chức tín dụng thường ưu tiên lựa chọn những tài
sản có tính thanh khoản cao và giá trị tài sản thế chấp lớn hơn nghĩa vụ trả
nợ (phần lớn các Ngân hàng thương mại hiện nay đều quy định hạn mức
cho vay tối đa chỉ ≤ 75% giá trị tài sản thế chấp) để bảo đảm khả năng thu
hồi nợ trong trường hợp bên thế chấp không đủ khả năng, điều kiện trả nợ.
Hơn nữa, Tổ chức tín dụng sẽ nắm giữ toàn bộ những giấy tờ pháp lý
chứng minh quyền sở hữu đối với nhà ở hình thành trong tương lai của bên
~ 23 ~
thế chấp. Do vậy, mặc dù không có sự chuyển giao tài sản thế chấp nhưng
lợi ích giữa các bên chủ thể vẫn được bảo đảm.
Tuy nhiên, do thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai có đối tượng
là một loại tài sản đặc thù, tài sản “chưa có thực” tại thời điểm giao kết vì
vậy, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai không chỉ mang đặc điểm
của biện pháp bảo đảm tín dụng nói chung, biện pháp thế chấp tài sản nói
riêng mà nó còn mang những đặc trưng riêng khác biệt so với thế chấp tài
sản thông thường, thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, bên nhận thế chấp là Tổ chức tín dụng
Chủ thể trong hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai – cụ
thể là bên nhận thế chấp chỉ có thể là Tổ chức tín dụng (“Tổ chức, cá nhân
xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của
đó trong tương lai sẽ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình vì vậy, pháp
luật cho phép trong trường hợp phải xử lý tài sản thì bên nhận thế chấp vẫn
có quyền xử lý tài sản đó ngay cả khi nhà ở chưa được đăng ký quyền sở
hữu – đây là quyền đặc biệt của bên nhận thế chấp chỉ có trong giao dịch
đối với tài sản hình thành trong tương lai.
Thứ ba, thỏa thuận ba bên trong quan hệ thế chấp
Khi nhận thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai của tổ chức, cá
nhân mua của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì bên
nhận thế chấp luôn mong muốn giao kết hợp đồng/văn bản thỏa thuận ba
bên, giữa: Bên nhận thế chấp - Bên thế chấp - Chủ đầu tư (đơn vị kinh
doanh bất động sản).
Thỏa thuận ba bên xuất phát từ thực tế: khi nhà ở đang trong quá trình
hình thành và chưa được đăng ký quyền sở hữu thì không thể khẳng định
bên thế chấp là chủ sở hữu hợp pháp và duy nhất của toàn bộ tài sản thế
chấp; ở đây, bên thế chấp chịu sự ràng buộc bởi các quyền, nghĩa vụ theo
~ 25 ~
hợp đồng mua bán nhà ở đã ký với chủ đầu tư và rõ ràng trong một phạm vi
nào đó (ví dụ như khi bên mua nhà chưa nộp hết tiền mua nhà cho chủ đầu
tư hay bên mua nhà vi phạm một phần nghĩa vụ của hợp đồng mua
bán,….), cả chủ đầu tư và bên thế chấp (bên mua nhà) đều có quyền, lợi ích
đối với nhà ở hình thành trong tương lai đang thế chấp. Thỏa thuận ba bên
còn bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp (trong việc kiểm tra, giám sát
quá trình hình thành nhà ở đang thế chấp), hạn chế những rủi ro như bên
thế chấp cố tình không thực hiện đúng theo hợp đồng mua bán nhà ở đã ký
với chủ đầu tư hoặc chuyển giao quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng đó cho
người khác. Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của nhà ở hình thành trong
tương lai là nhà ở chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa đăng ký