ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------
HOÀNG HẢI ĐĂNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CẢM NHIỄM BỆNH
CỦA ĐÀN GÀ ISA SHAVER HẬU BỊ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi thú y
Khoa
: Chăn nuôi thú y
Khóa học
: 2013 – 2017
Thái nguyên, năm 2017
Thái nguyên, năm 2017
i
LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho
mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn
tiếp cận với thực tế sản xuất. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất
quan trọng đối với tất cả các sinh viên trường Đại học nói chung cũng như
sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là thời gian
cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà
trường vào thực tế, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.
Thực tập tốt nghiệp cũng là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác
phong khoa học đúng đắn, tạo lập tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình
độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng, phát triển nông thôn mới
nói riêng và đất nước nói chung.
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
được sự phân công của giáo viên hướng dẫn, em tiến hành đề tài: “Đánh giá
khả năng sinh trưởng và cảm nhiễn bệnh của đàn gà Isa Shaver hậu bị tại
trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
Được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Từ Trung
Kiên, cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận này. Do
thời gian và kiến thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên
khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận được sự
đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa
luận của em được hoàn chỉnh hơn.
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BQ cs
Bình quân
KHKT
Cộng sự
NST
Khoa học kỹ thuật
Nxb
Nhiễm sắc thể
TB
Nhà xuất bản
Trung bình
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi............................ 37
4.2.2 Khối lượng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi .......................................... 39
4.2.3. Tiêu thụ thức ăn của gà qua các tuần tuổi............................................. 41
4.2.4. Tình hình cảm nhiễm cảm nhiễm bệnh của gà thí nghiệm ................... 43
4.2.5. Khả năng thích nghi của gà thí nghiệm ................................................ 43
4.2.6. Chi phí trực tiếp cho một gà hậu bị Isa Shaver..................................... 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................. 45
5.1. Kết luận .................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
I.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT............................................................................... 46
II.TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI ............................................................. 48
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm .............................................................................23
Bảng 3.2. Nhiệt độ và mật độ nuôi ...........................................................................23
Bảng 3.3. Chế độ chiếu sáng .....................................................................................24
Bảng 3.4. Quy trình phòng bệnh bằng vaccine cho gà .............................................25
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà ..................................................................32
Bảng 4.2. Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại ..................................................32
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ...........................................................35
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ...............................37
Bảng 4.5. Khối lượng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ......................................40
Bảng 4.6. Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ..............................42
Bảng 4.7. Khả năng thích nghi của gà thí nghiệm ....................................................43
Bảng 4.8. Chi phí trực tiếp cho một gà hậu bị Isa Shaver đến hết 18 tuần tuổi........44
điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Isa Shaver.
Chăn nuôi gà hướng trứng theo con đường thâm canh công nghiệp hóa,
chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển
khá nhanh. Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên
dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình
chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phương thức nuôi
phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá khả năng sinh trưởng và cảm nhiễm bệnh của đàn gà Isa
Shaver hậu bị tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi.
- Biết cách sử dụng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị
bệnh trong chăn nuôi.
- Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thông thường.
- Củng cố kiến thức và nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Xác định khả năng sinh trưởng và sản xuất của gà Isa Shaver giai
đoạn hậu bị.
- Góp phần hoàn thiện thêm quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà Isa
Shaver.
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất áp dụng vào thực tế sản xuất.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị bổ
sung thêm những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà sinh
sản Isa Shaver nuôi ở chuồng hở.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
vực khác.
2
+ Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m được
chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên.
2
+ Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m . Trong đó hố
2
2
sát trùng 20 m , khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10 m .
2
+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m . Trong đó
có các công trình như:
2
01 kho thuốc, dụng cụ thú y:
20 m
01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện):
30 m
01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi:
Tảo, gà trọi.
2.2. Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua
quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các
giống gia cầm ngày nay.
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho
rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên.
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng;
ấp 20 - 21 ngày trứng nở. Khối lượng gà trưởng thành: Gà mái khoảng 0,7 kg;
gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg. Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ. Gà trống có
lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen,
lông bụng pha đen. Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ. Mỏ, chân
màu vàng đậm, vàng nhạt, đen. Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng
châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê
Hồng Mận, 2007 [15]).
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia
cầm chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà
đầu tiên ở Đông Nam Á. Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau.
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng
Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm. Trải qua quá trình phát triển nông
(larotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất
sắc tố thì lông có màu trắng.
+ Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi là có độ tin cậy cao nhất trong việc
đánh giá đầu của gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự
kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết.
+ Mỏ: Là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng
(Stratumcorneum). Mỏ phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh có
khả năng sản xuất không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại như: Vàng, đỏ,
đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân. Những giống gà da
vàng thì mỏ cũng vàng. Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời
kỳ đẻ trứng.
+ Chân: Gia cầm có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng
Việt, 1998 [11]). Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân
và da. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh
sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [19]). Gà có chân cao thường
cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục.
+ Mào và tích: Là dẫn xuất của da, là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của
gà. Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống, gà mái. Mào gà rất đa dạng về hình
dạng, kích thước, màu sắc; có thể đặc trưng cho từng giống gà. Theo Phan Cự
Nhân (1971) [16], ở gà trống, sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành
thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu
hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà.
- Hình dáng, kích thước các chiều đo cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại hình là:
Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dạng
cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà
hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác.
A: Là giá trị cộng gộp (Additive value)
D: Là giá trị sai lệch (Dominance devition)
I : Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction devition)
Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành
phần quan trọng nhất của kiểu gen vị nó ổn định, có thể xác định được và di
truyền cho thế hệ sau, có ý nghĩa quan trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho
việc chọn giống.
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò
quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con
đường thực nghiệm. D và I không di truyền được phụ thuộc vào vị trí và sự
tương tác giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống.
Đồng thời tính trạng số lượng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường
chung và môi trường riêng.
Sai lệch môi trường chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do
các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có
tính chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu… Do vậy là
sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một
cơ thể.
Sai lệch môi trường riêng (Environmental deviation) (Eg) là các sai
lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật hay
các phần khác nhau của con vật. Loại yếu tố này có tính chất không thường
xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý… gây
ra.
Như vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E)
của một cá thể biểu hiện như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Trong đó:
P: Là giá trị kiểu hình
dễ gây hiện tượng stress làm giảm sức sống của gia cầm. Trong điều kiện tự
nhiên của nước ta, các yếu tố này tác động lần lượt ở các mức độ khác nhau
tại những vùng địa lý khác nhau. Do vậy để có sức sống cao đòi hỏi gia cầm
phải có sự thích nghi với điều kiện sống.
2.2.1.5. Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm
Trong chăn nuôi, tạo ra giống mới có năng suất cao chưa đủ mà phải tạo
ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh lý và mục đích
sản xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật
nuôi mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế.
Chi phí thức ăn thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, tiêu tốn thức
ăn càng thấp cho hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. Đánh giá về vấn đề
này, đối với gia cầm sinh sản người ta đưa ra chỉ tiêu: Tiêu tốn thức ăn cho 10
quả hay 1 kg trứng. Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng
phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng chi phí thức ăn cho gia cầm từ
lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc 1 năm đẻ.
Theo Phùng Đức Tiến và cs (1999) [21], gà Ai Cập tiêu tốn 2,33 kg thức
ăn trên 10 quả trứng trong 43 tuần đẻ. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [7], cho
biết, tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng trong 12 tháng của gà Goldline - 54
thương phẩm đạt 1,65 - 1,84 kg. Nhachannuoi.vn (2015) [31], cho biết, tiêu
tốn thức ăn trên 10 quả trứng của Gà Leghorn, Gold – Line và Brown nick lần
lượt là 1,3 – 1,6 kg ; 1,3 – 1,6 kg và 1,3 – 1,6 kg.
Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày phản ánh tình trạng sức khỏe của đàn
gà, chất lượng thức ăn và trình độ chăm sóc nuôi dưỡng. Không những thế, nó
còn ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng, từ đó ảnh hưởng đến năng suất con
giống. Lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày liên quan đến mức năng lượng và
protein trong khẩu phần, ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng sản xuất của
gia cầm.
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [8], thì hàm lượng protein khác nhau
đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %. Theo Hays (dẫn theo Brandsch H. và Bilchel H,
(1978) [1]) thì những gà có tuổi đẻ trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng
trứng thấp hơn so với những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là
6,9 quả. Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi
trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng. Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy
gia cầm đẻ sớm. Tuổi đẻ trứng đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng
cơ thể ở một thời điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống bé có khối
lượng cơ thể nhỏ, tuổi thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối
lượng cơ thể lớn. Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng chăm
sóc tốt, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp
sẽ có tuổi thành thục sinh sản sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã
chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh
dục muộn.
* Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số
trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan
trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và
đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc
nhiều vào điều kiện ngoại cảnh.
Tỷ lệ đẻ là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của gia cầm. Đỉnh cao của tỷ
lệ đẻ có mối tương quan đến năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ
cao kéo dài trong thời kì sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh
dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao. Năng suất trứng của một quần
thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ cao nhất vào
tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm.
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Tổng thời
gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường. Thời gian kéo dài sự đẻ có
cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ (dẫn theo Trần Huê Viên,
(2001) [24]).
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [9] cho biết: Trong
cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng
trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần. Khối lượng gà con khi nở
thường bằng
62 % - 78 % khối lượng trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các loại giống
khác nhau thì khác nhau.
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài.
- Giống, dòng: Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể
giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 – 270 trứng/năm. Về sản lượng
trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa
được chọn lọc kỹ khoảng 15 % - 30 % về sản lượng.
- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Như một
quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15 % - 20 % so với năm thứ nhất, còn ở vịt thì ngược lại, năm thứ hai có
sản lượng trứng cao hơn năm thứ nhất 9 % - 15 %.
- Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó
là đặc điểm di truyền cá thể. Sản lượng trứng của 3 – 4 tháng đầu tiên tương
quan thuận với sản lượng trứng cả năm.
- Mùa vụ: Ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt. Ở nước ta, mùa hè
sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên.
- Nhiệt độ môi trường xung quanh: Liên quan mật thiết đến sản lượng
trứng. Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng
o
- Nguồn gốc: Isa Shaver là giống gà chuyên trứng trong giống gà Isa.
Thông qua chọn lọc Isa Shaver đã trở thành một trong những giông gà có
năng suất trứng cao hiện nay. Công ty Japfa Comfeed đang cung cấp giống gà
chuyên trứng này với tên thương phẩm là Japfa Brown.
- Đặc điểm ngoại hình: Isa Shaver có màu lông cánh gián sẫm, dáng
thanh tú, đầu nhỏ, mào cờ, mắt sáng, tinh nhanh, cổ dài thanh; ngực lép, bụng
bầu; bộ lông ép sát vào thân, lông đuôi dài, xòe rộng; chân cao, khô; thần kinh
linh hoạt.
- Khả năng sản xuất:
+ Isa Shaver khả năng thích nghi cao, phù hợp với điều kiện khí hậu
Việt Nam.
+ Tỷ lệ nuôi sống cao. Gà có tuổi thành thục sớm, đẻ bói khi 18 tuần
tuổi (2%), thời gian khai thác dài (tuần tuổi 79).
+ Năng suất trứng bình quân 320 – 330 trứng/mái/năm. Khối lượng
trứng bình quân 54 – 62g.
+ Tiêu thụ thức ăn: 120g/con/ngày.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói
riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn. Chăn
nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ