Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trường Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin - Pdf 51

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH
CHI (GANODERMATACEAE DONK)
Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

HÀ NỘI, NĂM 2018


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH
CHI (GANODERMATACEAE DONK)
Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ HỮU THƯ



Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và toàn thể Quý thày, cô
giáo trong Khoa Môi trường trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã
giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn T.S Đỗ Hữu
Thư đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như
những định hướng chuyên đề cho tôi.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến đề tài: “ Bảo tồn và phát triển
nguồn gen của ba loài Nấm lớn đang bị đe dọa là Nấm thông Boletus edulis Bull. Ex
Fr., Nấm mào gà Cantharellus cibarius Fr., Nấm lưỡi bò Fistulina hepatica
(Schaeff. Ex Fr.) Fr thuộc chương trình bảo vệ môi trường. Thời gian thưc hiện đề
tài từ 2017 – 2019 do Thày Đỗ Hữu Thư làm chủ nhiệm đã tạo điều kiện để tôi thực
hiện luận văn này.
Trong giới hạn khuôn khổ của một luận văn, chắc chắn sẽ không thể bao quát
trọn vẹn được hết các vấn đề xoay quanh nội dung nghiên cứu. Vì vậy tôi rất mong
nhận được nhiều ý kiến từ các thày cô để bổ sung cho luận văn này.
Qua các ý kiến đóng góp giúp tôi có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của
mình trong quá trình vận dụng vào thực tiễn.
Xin trân trọng cảm ơn!


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CÁM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CHỮ VIẾT TẮT ..................................................... v
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. xi
DANH MỤC HÌNH ..................................................................................................xii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1

gia Chư Yang Sin ...................................................................................................... 28
3.2.1. Danh mục các loài nấm họ Ganodermataceae Donk ở VQG CYS. ................ 28
3.2.2. Đặc điểm các loài thuộc họ nấm Ganodermataceae ...................................... 29
3.3. Phân bố của các loài nấm Ganodermataceae ở VQG CYS................................ 52
3.3.1. Phân bố theo sinh cảnh .................................................................................... 52
3.3.2. Phân bố theo các yếu tố sinh thái .................................................................... 53
3.4. Giải pháp bảo tồn họ nấm Ganodermataceae ở vườn Quốc gia Chư Yang Sin. 57
3.4.1. Định hướng và thực trạng dạng sinh học bảo tồn đa ...................................... 57
3.4.2. Lý do sự suy giảm các loại dược liệu có giá trị cao ........................................ 59
3.4.3. Phương pháp bảo tồn nấm lớn ........................................................................ 59
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 62
PHỤ LỤC


v
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Lớp: CH1MT

Khoá: 1

Cán bộ hướng dẫn: TS Đỗ Hữu Thư
Tên đề tài: Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm Linh Chi
(Ganodermataceae Donk) ở Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin
1. Mở đầu
Vườn quôc gia Chư Yang Sin nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa
dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae.
Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm
Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc

Trung Bộ, nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng
Đông Bắc-Tây Nam. Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư
Hae’le (1204 m), Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang
Siêng (1128 m), Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang
Kreou (1071 m) và dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang
Sin có độ cao 2.442 m.
* Thổ nhưỡng: Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả
khảo sát thực địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:
+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit
+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát
+ Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát
+ Đất mùn Alit trên núi cao
* Thảm thực vật: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu rừng
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, kiểu rừng kín thường xanh mưa


vii
ẩm á nhiệt đới núi trung bình, núi cao, kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới
núi thấp
b. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó
Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh.
Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống.
Đảm và bào tử đảm: Đảm là tế bào đinh phình to lên của một số sợi nấm song
nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể. Tế bào này gọi là nguyên đảm
c. Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermatacea Donk
Họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk đã nổi tiếng từ rất lâu ở các nước Á
Đông, theo tiếng Trung Quốc gọi là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi, ở Việt Nam
thì hay gọi là nấm Lim.
Họ nấm Ganodermataceae (nấm Linh chi) trước đây được xếp trong nhóm

tử, đảm, liệt bào và các cấu trúc khác (nếu có)
Phương pháp định loại/định danh theo tên nấm
Phân tích đặc điểm hiển vi: Bào tử, bào tầng hệ sợi, đảm… sử dụng kính hiển
vi Olympus (Nhật), hiển vi điện tử quét S-4800 (Hitachi), kính lúp Olympus (Nhật).
Phân tích đặc điểm hình thái ngoài: Bảng so màu, dung dịch KOH…
Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái
Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) sử dụng
các thiết bị như Tiger Direct HMAMT-110 (USA), GPS Garmine Trex Vista HCx
(USA).
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
a. Thành phần nhóm loài thuộc họ Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia
Chư Yang Sin.
Kết quả nghiên cứu tại vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc khu vực Tây
Nguyên sau 01 lần đi khảo sát và thu mẫu thực địa đã thu được 200 mẫu trong đó có
120 mẫu thuộc thuộc họ nấm Ganodermataceae. Tiến hành phân loại được 16 loài
thuộc chi Ganoderma và 3 loài thuộc chi Amauroderma.
b. Sự phân bố của họ nấm Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia Chư
Yang Sin.


ix
Nấm sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 17-22 0C, độ ẩm 90 – 95% và độ cao 200 –
800m so với mực nước biển.
c. Đưa ra giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý họ nấn Ganodermataceae Donk
ở vườn Quốc Gia Chư Yang Sin.
- Bảo tồn nguyên vị
- Bảo tồn chuyển vị
- Bảo tồn trang trại.



Hình 3.8: Ganoderma steyaertanum .........................................................................47


1
MỞ ĐẦU
Nấm là những sinh vật sống trong môi trường sinh thái. Nấm có khả năng tiết
ra các enzim vào môi trường để phân giải các phân tử phức tạp thành các chất
đơn giản, vì thế chúng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tốc độ chu trình tuần
hoàn vật chất trong tự nhiên, khoáng hoá các hợp chất hữu cơ, làm sạch môi
trường sinh thái và tăng độ phì nhiêu cho đất thông qua đó làm tăng năng suất
cây trồng và cây rừng.
Tây nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông
giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình
Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các
tỉnh Attapeu (Lào) và 2 tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri(Campuchia), chiếm 1/6 diện
tích nước ta gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Địa
hình Tây Nguyên bị phân cắt nhiều bởi các dãy núi khác nhau (dãy Ngọc Linh, dãy
An Khê, dãy Chư Dju, dãy Chư Yang Sin...) độ cao trung bình từ 400-2200m so với
mặt biển. Khí hậu Tây nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.. Hệ
sinh thái ở Tây Nguyên rất đa dạng với 6 kiểu hệ sinh thái chính gồm hệ sinh thái
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, rừng kín
nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, rừng hỗn giao tre nứa, hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng
cỏ, hệ sinh thái đồng ruộng và khu dân cư đã tạo nên các hệ động vật, thực vật và hệ
nấm khá đa dạng và phong phú trong đó có rất nhiều loài có trong sách đỏ và một số
loài đang trong tình trạng báo động tuyệt chủng. Với điều kiện tự nhiên ở Tây
Nguyên rất thuận lợi cho sự phát triển của nấm lớn nói chung và họ nấm
Ganodermataceae nói riêng. Nấm lớn Việt Nam hiện nay có rất ít tác giả nghiên
cứu, nếu có nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng trung du. Đối với
khu vực Tây Nguyên chủ yếu tập trung nghiên cứu ở Nam Tây Nguyên còn ở các
khu vực còn lại hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu. Họ Ganodermataceae đóng

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài thuộc họ nấm
Ganodermataceae Donk ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin


3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.1.1. Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Chư Yang Sin
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm,
Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông
và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk
Lăk. Tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin (2.442 mét) cao nhất hệ thống núi cao cực
Nam Trung Bộ. Phía Đông: dọc sông Krông Bông đến ngã ba suối Ya Brô đến
đường phân thủy sông Krông Ana. Phía Tây: từ suối Đắk Cao đến ngã ba suối Đắk
Kial và đến đường phân thủy giữa Đắk Cao và Đắk Phơi. Phía Nam: dọc sông
Krông Nô, ranh giới Đắk Lắk và Lâm Đồng. Phía Bắc: bắt đầu từ thác Krông Kmar
qua dãy Chư Ju - Chư Jang Bông đến suối Ea Ktuor.
Tọa độ địa lý:
Từ 120014ˊ16˝ đến 130030ˊ58˝ vĩ bắc
Từ 108017ˊ47˝ đến 108034ˊ48˝ kinh đông

Hình 1.1: Bản đồ Khu vực nghiên cứu – Vườn quốc gia Chư Yang Sin


4
1.1.1.2. Khí hậu, thủy văn
*Khí hậu
Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây
Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 đến hết

Nam. Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư Hae’le (1204 m),
Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang Siêng (1128 m),
Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang Kreou (1071 m) và
dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang Sin có độ cao 2.442
m.
Với sự hoạt động mạnh mẽ của quá trình nội và ngoại sinh, trong đó đặc biệt
là quá trình ngoại sinh đã làm cho địa hình khu vực bị chia cắt mạnh, tạo thành
nhiều thung lung nhỏ, hẹp. Tuy vậy, kết quả khảo sát cho thấy, có một số thung
lũng khá bằng phẳng phân bố theo các triền sông, suối lớn.
Độ cao VQG chênh lệch rất lớn, từ 450 m đến 2442 m. Độ chia cắt sâu >500
m, độ chia cắt ngang dao động 2-2,4 km/km2. Yếu tố sườn cũng là một trong những
đặc điểm có sự phân hóa rõ rệt của VQG. Địa hình sườn phía Bắc và phía Tây có độ
dốc lớn, phổ biến từ 250-350, thậm trí một số nơi độ dốc >400. Sườn Đông và Nam,
địa hình trải dài và nâng lên từ từ, phần lớn có độ dốc từ 150-250.
* Thổ nhưỡng
Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả khảo sát thực
địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:
+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit: Diện tích 38.220
ha, chiếm 64,2 % diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố chủ yếu trên đai cao 9001.800 m và chiếm đại đa số diện tích VQG.
+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit: Có diện tích khá lớn,
khoảng 8.898 ha, chiếm 14,9% diện tích tự nhiên.
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát: Diện tích khoảng 4.827 ha, chiếm
trên 8% diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố ở đai cao
(Fokienia hodginsii). Thân cây thường nhiều cành, phủ rêu và địa y. Hiện tượng này
càng gần đỉnh núi càng rõ nét.
+ Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp: Loài ưu thế là Thông
3 lá (Pinus kesiya). Cây mọc gần như thuần loài thành những dải hẹp ở thung lũng
Ea Krông Kmar và thung lũng Đăk Mé. Rừng có cấu trúc rất đặc trưng của rừng
thưa cây lá kim, với mật độ cây thường không quá 220 cây/ha. Rừng có 2 tầng cây
gỗ và 1 tầng cây bụi thảm tươi.
Tầng ưu thế sinh thái gồm Thông 3 lá với chiều cao 18-25 m, đường kính
trung bình 30 cm, tán khá liên tục.
Tầng dưới tán là các cây lá rộng như Chẹo răng cưa (Engelhardtia spicata),
Dâu rượu (Myrica esculenta), Hồng quang (Rhodoleia championii), Vối thuốc
(Schima wallichii) cùng nhiều loài đến từ họ Dẻ, họ Re, họ Sim.
Tầng cây bụi và thảm tươi, thảm khô khá phát triển làm cho khả năng tái sinh
dưới tán rừng kém, hầu như không thấy Thông 3 lá tái sinh
1.2. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó
1.2.1. Khái niệm chung
Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh.
Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống. Thể dinh dưỡng của nấm đảm
là dạng sợi đa bào nguyên thủy, có vách ngăn ngang với lỗ thông phức tạp dạng
dolyporus, phân nhánh mạnh, màng được cấu tạo chủ yếu từ Kitin [5].Sinh sản vô
tính bằng nhiều kiểu khác nhau còn sinh sản hữu tính bằng bào từ đảm
(Basidiospore) được hình thành trên thể sinh sản.
Cá thể phát sinh của nấm đảm (Basidiomycetes)
Theo một số tác giả như Trịnh tam Kiệt[11], Lê Bá Dũng[5], Leif
Ryvarden[50] thì cá thể phát sinh của nấm đảm trong trường hợp điển hình diễn ra
như sau: Bào tử đảm khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm, hình thành sợi sơ cấp
với các tế bào đơn nhân, đơn bội (1n). Sợi sơ cấp tồn tại rất ngắn trong chu trình
sống. Sau đó chúng mau chóng tiếp hợp với sợi khác tính, giao phối sinh chất, song





9
quá trình tiến hóa. Chính vì thế sự tương đồng về hình thái học của đảm trong các
Taxon chính được xem như những chỉ định cho các mức độ quan hệ giữa những
Taxon đó [5,11]. Các dẫn liệu về hóa thạch của nấm đảm hầu như là không có hoặc
rất khó diễn giải, vì vậy những nghiên cứu về hình thái được đưa ra chỉ dựa trên
những hiểu biết về tiến hóa trong nấm đảm[11,50,58].
Đảm ở Basidimycota có 2 dạng cơ bản: Đảm đơn bào (holabasidie) gặp ở các
đại diện thuộc Hymenomycetes và Gasteromycetes. Chúng có hình dạng kích thước
khác nhau như: hình trứng, hình chùy, hình thoi… Trên mỗi đảm có 4 cuống bào tử
(sterigma), trên mỗi cuống bào tử mang một bào tử đảm. Đảm đa bào
(phragmobasidie) thường được tạo thành từ phần dưới đảm (hypobasidium) và phần
trên đảm (epibasidium) với những vách ngăn. Tùy theo từng loại vách ngăn người
ta chia thành hai loại đảm đa bào. Loại có 3 vách ngăn ngang tạo nên bốn tế bào nối
tiếp nhau, ở mỗi tế bào hình thành một tiểu bính (sterigma), trên đó mang một bào
tử. Loại thứ hai có 3 vách ngăn dọc, hình thành nên bốn tế bào, ở mỗi tế bào có một
cuống sinh bào tử[5, 32, 50].
Bào tử đảm thường chỉ cấu tạo từ một tế bào (hoàn toàn không có vách ngăn
ngang hay ngăn dọc) và chỉ có một nhân. Bào tử đảm rất khác nhau về hình dạng và
kích thước. Chúng có thể hình cầu, hình trứng, hình elip, hình bầu dục hay hình
thoi. Kích thước bào tử đảm của đa số các loại nấm thường gặp thay đổi từ 3 đến 29
micromet. Màng bào tử của tuyệt đại đa số các loài là 1 lớp, chỉ có bào tử đảm của
các loài thuộc họ Ganodermataceae có màng 2 lớp[5, 22, 32]. Màng của chúng có
thể không màu, màu xám, màu vàng – nâu, màu nâu, màu hồng hay màu đen. Màng
của chúng có thể phẳng nhẵn hay có gai, có u lồi, đôi khi dạng mạng lưới [22].
Vách bào tử đảm cũng như bào tử túi có thành phần cấu tạo từ kitin ngoài ra trong
cấu tạo vách bào tử còn có callosa, hemicellulose, các hợp chất pectin, amyloid,
protein và các sắc tố. Người ta có thể phân biệt 5 lớp khác nhau của vách bào tử
đảm là: lớp vách trong, lớp vách giữa, lớp vách trung gian, lớp vách ngoài, lớp vách

ngành phụ: Puciniomycotina, Ustilaginomycotina, Agaricomycotina; với 16 lớp, 52
bộ, 177 họ, 1589 chi, 31515 loài. Chúng bao gồm hầu hết các loại nấm lớn được
dùng làm thực phẩm, dược phẩm và nhiều loại nấm nhỏ gây bệnh rỉ sắt, bệnh than



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status