Mục lục
Phần thứ nhất:
A. Những vấn đề chung
I. Lý do chọn đề tài
II. Nhiệm vụ của đề tài
III. Đối tợng nghiên cứu
IV. Phơng pháp nghiên cứu
Phần thứ hai:
B: Nội dung của đề tài
I. Cơ sở lý luận
II. Cơ sở thực tiễn
III. Biện pháp thực hành
1. Đối với giáo viên
2. Đối với học sinh
IV. Bài học kinh nghiệm
V. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu
VI. Một số kiến nghị đề xuất
Phần thứ ba:
C. Kết luận chung
Phần thứ nhất
A. Những vấn đề chung
I. Lý do chọn đề tài
Nền giáo dục ở nớc ta đang đợc cải biến và nâng cao,
nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ đang đợc mọi ngời quan
tâm, đặc biệt là tiếng Anh. Tiếng Anh đợc coi là một trong
nay.
2
Qua các phơng tiện thông tin đại chúng: Vô tuyến truyền
hình, báo chí, đài phát thanh .... các em luôn tiếp xúc với tin
tức thời sự, chính trị, kinh tế, xã hội ở nơi này hoặc nơi khác,
ở Việt Nam hay các nớc khác trên thế giới. Khi mà đời sống các
dân tộc và các quan hệ quốc tế ngày càng đợc mở rộng. Cho
nên việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, thực hành tiếng Anh
là rất quan trọng. Đối với các em ngay từ buổi đầu học tiếng
Anh qua phần rèn luyện tiếng Anh học sinh có thể nhớ đợc từ
mới và biết cách vận dụng cấu trúc ngữ pháp, đặt câu và qua
đó các em sẽ hiểu rõ hơn về ngôn ngữ tiếng Anh. Do đó việc
đánh giá xếp loại học sinh là rất cần thiết, để từ đó giáo viên
sẽ có kế hoạch, biện pháp cụ thể để phụ đạo các em học sinh
yếu kém góp phần nâng cao chất lợng dạy học môn tiếng
Anh.
Bản thân tôi là giáo viên tiếng Anh thực tế giảng dạy
trong những năm qua: Tôi thấy rằng còn một số học sinh tiếp
thu còn chậm, các em còn vận dụng thực hành các mẫu câu,
cấu trúc ngữ pháp và rèn luyện 4 kỹ năng: Nghe - nói - đọc viết còn hạn chế, các em luyện tập đàm thoại giao tiếp với
nhau bằng ngôn ngữ tiếng Anh đơn giản vẫn còn khó khăn,
còn dập khuôn công thức.
Xuất phát từ những nhận thức trên tôi thấy việc rèn luyện
và vận dụng thực hành các kỹ năng thao tác trong tiếng Anh là
rất cần thiết nhất là đối tợng các em ở bậc THCS để chuẩn bị
lợng kiến thức cơ bản để tiếp tục học cao hơn nữa. Vì vậy
tôi đã chọn đề tài " Một số kinh nghiệm hớng dẫn phụ đạo học
sinh yếu kém môn tiếng Anh 7". Để qua đó ngày càng đáp
( Sách giáo khoa, sách tham khảo, đồ dùng trực quan ... ) để
phục vụ cho tiết dạy tốt hơn. Qua đó giúp cho các em học sinh
nắm bài ngay tại lớp .
III. Đối tợng nghiên cứu:
Để nghiên cứu thực hành và hoàn thành đề tài tôi đã
chọn đối tợng nghiên cứu trong phạm vi khối 7 gồm có lớp : 7
Toán1 (7T1), 7 Toán2 (7T2), 7 Văn (7V) với tổng số học sinh là
75 em.
Lớp 7T1 = 25 em, 7T2 = 27 em, 7V = 23 em
Mặc dù là đối tợng đợc tuyển chọn tuy nhiên trình độ
nhận thức của các em không đồng đều: Giỏi có, khá có, trung
bình có và thậm chí cả yếu, vì vậy việc phân loại học sinh
là cần thiết để có hớng phụ đạo và bồi dỡng. Cụ thể qua việc
khảo sát đầu năm:
Lớp
S
ĩ
số
7T1
25
Giỏi
T
S
4
%
12
7T2
27
3
11.
1
8
29.
6
12
44.4
4
14.9
7V
23
34
45.3
10
13.3
Qua kết quả khảo sát đầu năm học tôi thấy kỹ năng rèn luyện
và thực hành tiếng Anh của các em vẫn còn hạn chế, thậm chí
một số em còn yếu.
Vì vậy tôi mạnh dạn áp dụng một số sáng kiến kinh
nghiệm về " Hớng dẫn phụ đạo học sinh yếu kém"
IV. Phơng pháp nghiên cứu:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu qua việc tìm hiểu
những năm học qua tôi chọn phơng pháp tốt nhất để thực
hiện đề tài này là:
- Phơng pháp trực quan tranh ảnh, đồ vật thực kết hợp
với đàm thoại, gợi mở: Đa ra mẫu câu tình huống cụ thể, để
từ đó phát huy đợc nội lực và sự năng động, sáng tạo của học
sinh trong khi đặt câu và rèn luyện kỹ năng thực hành cho
các em
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phơng pháp thực hành theo cặp, nhóm .
- Phơng pháp thực hành tài liệu tham khảo.
- Tham khảo ý kiến của một số giáo viên có kinh nghiệm
trong giảng dạy, qua đó giúp cho học sinh và giáo viên cải tiến
việc dạy và học tiếng Anh ở cấp bậc THCS.
quen và kỹ năng, phơng pháp rèn luyện mẫu câu (Pattern drill)
đợc vận dụng trong việc thực hành. Để tránh tình trạng rèn
luyện máy móc, mục đích giao tiếp của câu rèn luyện đợc
thông báo trớc khi học sinh rèn luyện kỹ năng. Ngoài ra một số
qui tắc ngôn ngữ có tính chất khái quát cũng đợc cung cấp
qua nhiều hình thức: Công thức, ghi chú, giúp cho học sinh
nắm ngôn ngữ tiếng Anh thêm vững chắc.
Đơn vị đợc sử dụng để rèn luyện ( ngữ âm, ngữ
pháp và từ vựng ) là còn tuỳ theo mục tiêu rèn luyện mẫu
câu đợc cấu tạo theo những tình huống và hình thức
khác. Nếu trọng âm rèn luyện là cấu trúc ngữ pháp, mẫu
câu đợc xây dựng với những từ đã học nhằm giảm mức độ
khó khi tiếp thu và rèn luyện mẫu câu mới. Một số từ mới có
6
thể đợc đa vào giúp mở rộng vốn từ tích cực ( active word)
của học sinh.
Để thiết lập tình huống giao tiếp, giáo viên cần sử
dụng những đồ dùng giảng dạy nh tranh ảnh ( pictures ), đồ
vật thật (real obj ) hay hình vẽ đơn giản lên bảng. Mục
đích của đồ dùng dạy học là giúp học sinh liên tởng để
hiểu đợc ý nghĩa của ngôn ngữ một cách trực tiếp. Không
thông qua mục dịch và từ đó có thể nhớ lâu hơn.Tính tích
cực của các hiện tợng di chuyển ( transference ) ở những
điểm giống nhau giữa Tiếng Việt và Tiếng Anh. ở những
điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ đợc khắc phục trong các
bài tập khác nhau. Việc giới thiệu mỗi câu đối thoại, việc rèn
luyện miệng cần phải tiến hành theo trình tự nghe - nói đọc - viết. Học sinh phải có cơ hội nghe hiểu ngữ liệu mới vài
lần trớc khi nói và nhìn vào dạng (viết ) hay chép vào vở bài
phơng tiện không thể thiếu đợc trong tiết học. Do đó muốn
dạy tốt môn tiếng Anh trớc hết giáo viên phải hiểu và nắm
vững ngôn ngữ tiếng Anh và cách biểu đạt tiếng Anh giao
tiếp tiếng Anh nh thế nào sao cho phù hợp với từng đối tợng học
sinh: Giỏi - khá - trung bình - yếu - kém để đạt hiệu quả cao
trong giảng dạy đó là đặc trng của bộ môn nhằm phát triển
t duy ngôn ngữ cho các em song song với việc thực hành giao
tiếp tiếng Anh và lĩnh hội kiến thức trong nớc và quốc tế.
Để thiết lập tình huống giao tiếp và đa học sinh vào
chủ điểm từ vựng, giáo viên cần sử dụng một số đồ dùng dạy
học nhằm gây sự hứng thú và tập chung cho các em học sinh
vào vấn đề đang đợc trình bầy. Đồ dùng có thể là tranh,
ảnh, đồ vật thực, đồ chơi trẻ em, những hình vẽ đơn giản
theo dạng hình que đơn giản, bảng nỉ, đài băng ghi âm ...
Trong điều kiện và hoàn cảnh giảng dạy hiện nay lớp
học là nơi có điều kiện thuận lợi nhất giúp học sinh tiếp xúc
rèn luyện và vận dụng tiếng Anh. Vì vậy giáo viên cần khuyến
khích học sinh sử dụng tiếng Anh giao tiếp trong một số sinh
hoạt taị lớp. Cần dạy cho học sinh nghe hiểu một số cách nói
thông dụng trong giao tiếp ở lớp hàng ngày nh: "sitdown" "
listen"
"who can volenteer" "close your book " "make
questions'... Trớc khi bắt đầu bài hoặc kết thúc bài giáo viên
nên hớng dẫn các em một số câu nói trong giao tiếp lịch sự
nh chào hỏi, thông báo về thời tiết sinh hoạt cá nhân hoặc hát
một bài hát ngắn đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Sinh hoạt này
sẽ giúp cho không ít lớp học trở nên thoải mái và thân mật, lớp
8
các em thực hành giáo viên cần làm hớng dẫn nhiều lần và hớng dẫn rõ ràng cách thực hành. Nếu cần nên cho một cá nhân
hoặc một nhóm thực hành cho cả lớp xem. Để điều khiển lớp
trong lúc thực hành giáo viên nên chia lớp ra thành nhiều nhóm:
Cử các học sinh khá, giỏi làm nhóm trởng, giáo viên sẽ đi đến
từng nhóm để hớng dẫn và sửa chữa những sai sót. Giáo viên
nên khuyến khích cách làm tập thể và giúp nhau.
9
Những ngữ liệu tối thiểu về ngữ âm, ngữ pháp, từ
vựng giúp cho giáo viên dạy cho học sinh nắm đợc ba mặt
ngôn ngữ và các kỹ năng thực hành.Sau những bài khoá (text)
học sinh có thể đặt những câu hỏi đơn giản để tóm tắt,
trình bầy lại một số thông tin ở bài khoá ở dạng khác (chuyển
động từ, đại từ, tân ngữ ... từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba
số ít.)
a. Khi dạy từ vựng : (teaching vocabularies) tuỳ thuộc
vào loại từ hay nội dung (content) hay từ cấu trúc (structure)
giáo viên có thể dùng tranh ảnh hay đồ vật thực để minh hoạ
ý nghĩa hay dùng cách giải thích.
Ex: (T) Đức is playing foot ball
-> He is a player
(T) Ba is driving a taxi
-> He is a taxi driver
(T) they're building the house
-> they're workes/ builders
Dùng một số ngữ cảnh để liên hệ đến kinh nghiệm của
học sinh:
Ex: T: this is Nil river and this is Mekong river
T: Sai Gon is a city, Hai Phong is a city, too
+ Let's go some where for a -------- I'm very thirsty.
c. Cấu trúc ngữ pháp ( grammar structures)
Việc rèn luyện phải theo trình tự: Nghe - nói - đọc viết.Trong khi rèn luyện học sinh không đợc mở sách vì
mục đích của bài là thành lập thói quen và giúp học sinh
đợc rèn luyện tiếng Anh một cách dễ dàng một cách trôi
chảy.
- Dùng phơng pháp thay thế đơn ( single slot
substitution drill)
ex: T: Listen: shall we go to the cinema? Now repeat
Shall we go to the cinema?
P: Shall we go to the cinema ?
T: The zoo. Shall we go to the zoo?
P: Shall we go to the zoo?
11
- Dùng phơng pháp thay thế kép ( Double sot
substitution drill)
ex: T: We may stay at home, now repeat please
We may stay at home
P: We may stay at home
T: Now, repeat please they may go to the seaside
P: They may go to the seaside
- Dùng phơng pháp hỏi đáp ( ask and answer)
Sau khi học sinh có thể thành lập câu hỏi giáo viên giới
thiệu câu trả lời. Nếu câu hỏi thuộc loai yes - no question
nên cho học sinh trả lời "yes" sau đó đến "No" để tránh sự
nhầm lẫn, xáo trộn đối với học sinh. Khi đã giới thiệu từng phần
riêng lẻ nên đặt câu hỏi cho cả lớp trả lời và ngợc lại.
Ex: T: Should we drink coffee? Answer please
Ex: Will you go to school on Sundays?
....... Sundays?
....... on Sundays?
....... go to school on Sunday?
Will you go to school.....?
e. Vận dụng: ( Further practice )
Đây là phần bài tập về kỹ năng giao tiếp ( Dialogue ) và
kiểm tra kiến thức về từ vựng và ngữ pháp.
Dialogue: giới thiệu ngữ liệu và đặt một số câu hỏi về
nội dung bài văn. Sau đó chia lớp làm nhiều nhóm tơng ứng với
số nhân vật trong bài ( giáo viên cũng nên đóng một vai để
tạo sự hào hứng trong lớp ) và cho luyện tập theo nhóm ( group
work) trớc khi chuyển sang luyện tập từng đôi ( pair work) để
tạo sự thay đổi giáo viên có thể gọi ngời nói đầu tiên và để
cho học sinh này tự chọn lấy ngời cùng nói với mình.
13
Bài tập từ vựng: Giáo viên cho tập thể lớp làm chung tất
cả những câu trong sách, sửa chữa và sau đấy gọi một số
câu trong sách để đọc lại những câu đã làm tập thể ( group
work )
Bài tập cấu tạo từ: Cần chú trọng giải thích rõ ý nghĩa
của những tiền tố và hậu tố đợc sử dụng để ghép nên từ mới
và ý nghĩa của từ mới này trong câu.
Bài tập ngữ pháp: Đợc làm bằng miệng ngay tại lớp. Có
thể gọi một số em học sinh tơng ứng với số câu trong sách
giáo khoa lên bảng nhiều em cùng một lúc để viết những
câu hoàn chỉnh theo yêu cầu.
đối với các trờng THCS trong toàn huyện Mai Sơn. Chủ yếu
giáo viên tự tìm tòi và tham khảo tài liệu, giáo trình để
giảng dạy trên lớp và hớng dẫn rèn luyện các kỹ năng cho học
sinh, hình thành cho các em có một kỹ năng vận dụng kỹ năng
giao tiếp hàng ngày.
Qua một thời gian áp dụng một vài kinh nghiệm về "
Hớng dẫn phụ đạo học sinh yếu kém môn tiếng Anh7 "
bản thân tôi thấy chất lợng học tập của môn tiếng Anh đã
đợc nâng lên rõ rệt. Kết quả của học sinh ở giữa kỳ II nh
sau:
Trung
S
giỏi
Khá
bình
Yếu
Lớp ĩ
% TS
%
TS
% T %
số TS
S
7T1
7T2
7V
Tổn
g
cộng
0
10
37.
0
1
3.
7
4
17.
4
8
34.
8
10
43.
5
1
4.
thảo luận các nhóm đều có kết quả cao. Qua việc khảo sát
chất lợng học tập của học sinh ở giữa kỳ I tôi thấy tỷ lệ học
sinh yếu đã giảm hẳn, các em học sinh đã có thói quen thực
hành vận dụng tiếng Anh trong sinh hoạt hàng ngày các em đã
biết vận dụng ngoại ngữ của mình trong giao tiếp hàng ngày.
Qua đó giúp các em say mê và có hứng thú môn học
tiếng Anh.
Đến cuối năm kết quả đạt đợc:
Giỏi
Lớp
Sĩ
số
TS
7T1
25
6
27
6
7T2
7V
22.
7
1 40.
1
8
1 43.
0
7
3
0
40
Trung
bình
TS
%
10
Yếu
TS
40
0
10 37.1
0
giao tiếp. ngoài ra giáo viên còn có thể sử dụng điệu bộ, cử
chỉ, giọng nói, hành động để giúp học sinh liên hệ giữa âm
thanh và ngữ nghĩa. Bằng cách này học sinh có sự liên tởng
và ghi nhớ trong ký ức những gì đợc nghe.
Phân loại học sinh để hớng dẫn học sinh để thực hành
các kỹ năng giao tiếp trong tiếng Anh phù hợp với đối tợng học
sinh, từng kỹ năng, thao tác, rèn luyện.
IV. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tế áp dụng đề tài, bản thân tôi tự rút ra bài học
kinh nghiệm sau:
- Giáo viên cần nghiên cứu kỹ và hiểu rõ nội dung bài
giảng. Tìm tòi tài liệu tham khảo và sách giáo khoa tham
khảo.
- Huy động học sinh tích cực làm việc ( chuẩn bị và
xem trớc bài ở nhà. Ôn lại kiến thức có liên quan đến bài mới.
Tránh đợc việc tiếp thu thụ động, dồn ép, vì vậy cần tránh
việc dạy " nhồi nhét " giảm nhẹ việc ghi chép nhiều và máy
móc.
- Rèn luyện 4 kỹ năng cơ bản trong tiếng Anh cho các
em, để từ đó các em có thể sử dụng thành thạo các kỹ năng,
thao tác và khả năng giao tiếp ngôn ngữ tiếng Anh.
V. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu:
Tháng 9, 10 : Đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu.
Tháng 11, 12 : Điều tra khảo sát.
17
Tháng 2, 3 : Thu thập tài liệu, viết bảng nháp.
Tháng 4: tham khảo ý kiến tổ hoàn thành đề tài.
VI. Một số kiến nghị đề xuất:
năm 200
Ngời thực hiện
Xác nhận của Hội đồng khoa học nhà trờng
19