BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CÔNG VIÊN TAO ĐÀN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
CHI PHÍ DU HÀNH
LƯƠNG THỊ BẢO TRI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2010
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Xác Định Giá Trị
Công Viên Tao Đàn Thành Phố Hồ Chí Minh Sử Dụng Phương Pháp Chi Phí Du
Hành TCM” do Lương Thị Bảo Tri, sinh viên khóa 2006 – 2010, ngành Kinh Tế Tài
Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
TS. Nguyễn Văn Ngãi
Người hướng dẫn
________________________
Ngày
tháng
những thông tin quý báu để thực hiện nghiên cứu này.
Hơn cả lời cảm ơn con muốn gửi tới ba mẹ lòng biết ơn sâu sắc vì đã sinh thành
và nuôi dạy con nên người như ngày hôm nay. Con không thể nào quên công ơn lớn
lao đó và sự vất vả hy sinh của ba mẹ để con bước tiếp con đường con đường mình đã
chọn
Tôi xin gửi đến Ban giám đốc công ty công viên cây xanh và các anh chị phòng
quản lý cây xanh Sở Giao Thông Công Chính đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý
giá để hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
Lương Thị Bảo Tri
NỘI DUNG TÓM TẮT
LƯƠNG THỊ BẢO TRI. Tháng 07 năm 2010. “Xác Định Giá Trị Công Viên
Tao Đàn Thành Phố Hồ Chí Minh Sử Dụng Phương Pháp Chi Phí Du Hành
TCM”.
LUONG THI BAO TRI, July 2010. “Value Of Pricing Tao Dan Park, Ho
Chi Minh City Used Travel Cost Method”.
Đề tài tiến hành định giá giá trị của công viên Tao Đàn bằng cách sử dụng
phương pháp chi phí du hànhTCM. Phương pháp chi phí du hành này dùng để định giá
giá trị những khu du lịch, tham quan hoặc giải trí bằng cách phỏng vấn thu thập các
thông tin về chuyến đi và các đặc điểm kinh tế- xã hội của du khách đến địa điểm đó.
Qua đó xây dựng đường cầu du lịch thể hiện số lượt du hành phụ thuộc vào chi phí du
hành.
Sau khi tiến hành thu thập thông tin về chuyến đi và đặc điểm kinh tế- xã hội
của 90 người được phỏng vấn ngẫu nhiên đề tài đã xây dựng được đường cầu du lịch
với giá trị của công viên Tao Đàn là 84,912 tỷ đồng.
Thông qua kết quả phân tích đường cầu và tình hình thực tế của công viên Tao
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
4
1.2.1. Mục tiêu chung
4
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
4
1.3. Phạm vi nghiên cứu
4
1.3.1. Về không gian
4
1.3.2. Về thời gian
4
1.3.3. Về nội dung
4
7
2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội
8
a) Đặc điểm dân số
8
b) Tăng trưởng kinh tế
9
2.2. Giới thiệu chung về cây xanh đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
13
2.2.1. Cây xanh đô thị
13
v
a) Cây xanh đường phố
15
b) Cây xanh trong khuôn viên và ven kênh rạch
22
3.1. Cơ sở lý luận
22
3.1.1 Một số khái niệm
22
a) Công viên
22
b) Khái niệm về định giá tài nguyên môi trường
22
3.1.2. Định nghĩa phương pháp TCM
23
3.2. Phương pháp nghiên cứu
26
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
26
31
4.1.1. Những đặc điểm kinh tế- xã hội của du khách
31
a) Giới tính
31
b) Độ tuổi
31
c) Trình độ học vấn
33
vi
d) Nghề nghiệp
34
e) Thu nhập
34
4.1.2. Phân tích những hành vi của khách đến tham quan công viên
41
4.2.1. Ước lượng các tham số của mô hình dạng log-log
41
4.3.Xác định giá trị du lịch công viên Tao Đàn
42
a) Hàm cầu du lịch
42
b) Xác định đường cầu và tính toán giá trị du lịch của Tao Đàn
43
c) Xác định giá trị của điểm du lịch.
44
CHƯƠNG 5
46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
46
Hiện giá ròng (Net Present Value)
SLDL
Số lần du lịch trong năm
TCM
Phương pháp chi phí du hành
TDVH
Trình độ văn hóa
TN
Thu nhập
TDVH
Trình độ học vấn
MDHL
Mức độ hài lòng
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
Bảng 4.5. Nhận xét về các hình thức giải trí
40
Bảng 4.6. Tỷ lệ du khách nhìn thấy cây xanh được chăm sóc cây xanh trong công viên
40
Bảng 4.7. Các Thông Số ước Lượng của Hàm Cầu theo Dạng Log-Log
41
Giải thích hàm cầu
41
Bảng 4.8. Kiểm Tra Dấu Kỳ Vọng Mô Hình
42
Bảng 4.9. Giá Trị Công Viên Tao Đàn Được Thể Hiện ở Các Mức Suất Chiết Khấu 45
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Đường cầu số lần du lịch
23
37
Hình 4.9. Đường cầu du lịch đến công viên Tao Đàn
43
x
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Hàm Cầu Du Lịch Tao Đàn dạng Log-log
Phụ Lục 2. Kết Xuất Các Mô Hình Phụ
Phụ Lục 3. Kết Xuất Kiểm Định White
Phụ Lục 4. Kết xuất kiểm định LM
Phụ Lục 5. Kiểm Tra Các Vi Phạm Giả Thiết Cho Mô Hình
Phụ Lục 6. Các Kiểm Định Giả Thiết Cho Mô Hình
Phụ Lục 7. Bảng Giá Trị Thống Kê Mô Tả Các Biến Trong Mô Hình Đường Cầu
Phụ Lục 8. Bảng Câu Hỏi Điều Tra
xi
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với quá trình phát triển kinh tế không ngừng, TP Hồ Chí Minh đã phát triển trở
thành trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. TP Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt
Nam-là nơi tập trung nhiều đầu mối kinh tế, giao thông quan trọng, nơi có dân cư đông
đúc với hơn 7 triệu dân. Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số
Sở GTVT, công tác phát triển mảng xanh của TP.HCM đang gặp nhiều khó khăn. Bởi
thực tế, quỹ đất trong các quận nội thành để dành xây công viên thì không còn. Trong
khi đó, các khu vực ngoài trung tâm, quỹ đất dành cho vườn hoa, khu công viên lại
không được quan tâm đúng mức. Đồng thời, tốc độ phát triển đô thị, cơ sở hạ tầng lại
tăng lên chóng mặt trong những năm qua đã khiến mật độ phủ xanh bị giảm xuống
đáng kể. So với các thành phố lớn trên thế giới, tỉ lệ cây xanh trên đầu người ở
TP.HCM quá thấp. Tại TP.HCM chỉ 1m2/người thì bình quân diện tích cây xanh ở
Berlin (Đức) là 50 m²/người; ở Paris (Pháp) là 25 m²/người; ở Moscow (Nga) là 44
m²/người hay ở London (Anh) là 9 m2/người. Mảng xanh ở TP.HCM còn có nguy cơ
bị “teo” dần do các hạng mục dự án công trình. Thậm chí các công viên cũng bị "xẻ
thịt" khiến cho chỉ tiêu tăng mảng xanh lên 6-7m2/người của thành phố rất khó thực
hiện được.
Công viên Tao Đàn được coi là một công viên văn hóa và có thể coi là công
viên cây xanh lớn nhất thành phố về diện tích và quy mô. Nó không chỉ là lá phổi xanh
của thành phố mà còn là nơi tham quan của du khách trong nước và du khách ngoài
nước khi đặt chân đến TP.Hồ Chí Minh. Công viên có riêng khu trò chơi cho trẻ em và
có nhiều cây xanh tán rộng lâu năm để che mát hơn so với các công viên khác. Tuy
nhiên hiện nay nó chưa được quan tâm đúng mức điển hình là việc diện tích công viên
bị lấn chiếm bởi các cơ sở kinh doanh, các quán ăn và cà phê. Hiện nay các cơ quan
chức năng cũng chưa có biện pháp gì để giải quyết tình trạng này. Chính vì vai trò to
lớn của công viên Tao Đàn và thực trạng nói trên nhất thiết cần xác định giá trị của
công viên để từ đó có những biện pháp cải thiện cũng như phát triển chất lượng của
3
công viên nhằm gìn giữ những giá trị mà công viên Tao Đàn mang lại từ trước đến
nay.
Xuất phát từ nhận thức về vai trò quan trọng của công viên Tao Đàn hiện nay
tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác Định Giá Trị Công Viên Tao Đàn Thành
Phố Hồ Chí Minh Sử Dụng Phương Pháp Chi Phí Du Hành TCM”
Chương 3 giới thiệu điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của thành phố HCM
và công viên Tao Đàn.
Chương 4 nêu ra những kết luận của nghiên cứu : các đặc điểm cũng như hành
vi của ngững người dân tới công viên Tao Đàn, phản ánh thực trạng hệ thống cây xanh
và công viên ở thành phố, xây dựng đường cầu số lượt du hành dựa vào chi phí du
hành, tính giá trị du lịch công viên Tao Đàn, một số đề xuất nhằm phát triển công viên
để phục vụ cho du khách tốt hơn.
Chương 5 tóm lược kết quả đã nghiên cứu và đề xuất kiến nghị.
5
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10010’- 10038’ vĩ độ
Bắc và 106022’- 106054’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp
tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đồng Nam giáp tỉnh Bà RịaVũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Chiều dài của thành
phố theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 150 km từ Củ Chi đến Cần Giờ, chiều
rộng theo hướng từ Đông sang Tây là 50km từ Thủ Đức đến Bình Chánh. Diện tích
toàn thành phố là 2.095,2 km2.
b) Đặc điểm địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh có vùng cao ở phía Bắc với cao độ 10- 25m có nơi cao
đến 32m so với mực nước biển. Vùng thấp nhất ở phía Nam có cao độ trung bình lớn
hơn 1m, ngoài ra khu vực trung tâm và Hóc Môn có cao độ từ 15- 20m.
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng tiếp giáp giữa miền gò, đồi thuộc miền Đông
Nam Bộ và đồng bằng song Cửu Long, một phần tiếp giáp ven biển. Xu thế địa hình
bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,70C).
Lượng mưa cao, bình quân trong năm là 1,949 mm. Số ngày mưa trung bình
trong năm là 155,6 ngày. Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao
nhất.
7
Độ ẩm tương đối của không khí bình quân là 79,5%/năm, bình quân mùa mưa
80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%, bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối
xuống tới 20%.
Về gió, thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và
chủ yếu là gió mùa Tây- Tây Nam và Bắc- Đông Bắc. Gió Tây- Tây Nam từ Ấn Độ
Dương thổi vào trong mùa mưa , khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình
3,6m/s. Gió Bắc- Đông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11
đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4m/s. Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam- Đông
Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5, tốc độ trung bình 3,7m/s. Về cơ bản TP.HCM
thuộc vùng không có gió bão.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội
a) Đặc điểm dân số
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung
tâm kinh tế văn hóa giáo dục quan trọng của Việt Nam. Theo kết quả điều tra dân số
ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.123.340 người, mật độ dân số là
3.401 người/km², gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới
tính: Nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% .
Dân số thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố
tăng thêm 2,086.185 người, bính quân tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng
3,53%/năm, chiếm 22% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Quận Bình
Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người, tương đương với dân số một số tỉnh như:
6.062.993
6.239.938
6.424.59
Các quận
4.259.322
4.372.985
5.094.733
5.240.516
5.387.38
989.380
1.076.218
968.260
999.422
1.037.11
Các huyện
ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung
tâm thương mại, 3 chợ đầu mối và chợ Bến Thành là một biểu tượng về giao lưu
thương mại từ xa xưa của thành phố. Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất – kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm tiêu thụ lớn với các mức tiêu dùng hàng hóa
dịch vụ gấp 10 – 13 lần so với các tỉnh Tây Bắc, 6 lần các tỉnh Tây Nguyên, gấp 1,5
lần Hà Nội. Lĩnh vực kinh doanh địa ốc, đặc biệt là các tòa nhà cao tầng phục vụ cho
kinh doanh thương mại, văn phòng đang được đầu tư ồ ạt. Nguồn nhân lực chất lượng
cao của thành phố cũng là một nguồn động lực quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh
đạt được mục tiêu trở thành trung tâm phần mềm và có thể là trung tâm thương mại,
dịch vụ, tài chính của khu vực.
Về giao thông: là trung tâm thương mại của cả nước nên thành phố Hồ Chí
Minh luôn là đầu mối giao thông lớn và quan trọng. Từ thành phố Hồ Chí Minh mạng
lưới giao thông đường bộ tỏa đi khắp nơi, mối quan hệ với các vùng phụ cận được nối
bằng hệ thống quốc lộ, liên tỉnh lộ đến các nơi từ miền Tây ra miền Trung, miền Bắc
nước ta.
Đường bộ: hệ thống đường bộ dày đặc nhưng do sự tăng dân số quá nhanh và
quy hoạch chưa hợp lý nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Để giải quyết vấn nạn tắc
nghẽn giao thông, thành phố đã triển khai và hoàn tất nhiều dự án giao thông quan
trọng như: Đại lộ Đông Tây, cầu Thủ Thiêm… và đặc biệt là dự án đường cao tốc Bắc
- Nam với tổng số vốn dự kiến lên tới trên 30 tỷ đô la. Khi dự án này hoàn thành sẽ kết
nối thành phố với tất cả các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.
Đường thủy: các hệ thống cảng Sài Gòn, Tân Cảng đáp ứng được yêu cầu tiếp
nhận các tàu trọng tải lớn. Tuy nhiên, do nằm trong nội bộ nên ảnh hưởng lớn đến giao
thông đô thị và đang được đề nghị di dời ra khỏi nội thành. Các cảng container mới,
hiện đại đang được triển khai có: cụm cảng Hiệp Phước, cảng Cát Lái…
10
Đường sắt: ga Sài Gòn là đầu mối giao thông quan trọng và nhộn nhịp nhất
trình.
Để thực hiện CDCCKT Thành phố theo hướng phát triển dịch vụ và các ngành
công nghiệp công nghệ cao, UBND Thành phố cũng đã kiến nghị Chính phủ hỗ trợ về
cơ chế phát triển thành trung tâm tài chính, thành lập công ty đầu tư tài chính Thành
phố để huy động vốn cho các dự án hạ tầng kỹ thuật, cũng như hoàn thiện từng bước
để phát triển thị trường tài chính trên địa bàn thành phố.
Đồng thời, Thành phố cũng thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập,
thủ tục xuất nhập cảnh đối với chuyên gia y tế nước ngoài đến Việt Nam; chế độ
khuyến khích hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; phân cấp mạnh
và đồng bộ hơn cho Thành phố trong việc thu hút và cấp phép cho nhà đầu tư trong và
ngoài nước thành lập cơ sở giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao; cơ chế phối hợp
với các tập đoàn kinh tế Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, tổng công ty Nhà nước trực
thuộc bộ - ngành Trung ương trên địa bàn thành phố; xây dựng mạng thông tin liên kết
về nghiên cứu khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố; hỗ
trợ thành phố trong quy hoạch và xây dựng Khu đô thị cảng Hiệp Phước, trung tâm
thương mại quốc tế tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm
Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố (UBNDTP) yêu cầu, cứ định kỳ 3 tháng hoặc 6
tháng, các sở, ban ngành liên quan cần báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá hiệu quả đầu
tư trên địa bàn về UBND TP để kịp thời có những biện pháp tháo gỡ kịp thời giúp
doanh nghiệp phát triển liên tục và ổn định. Đồng thời, cần nhanh chóng phối hợp với
Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư tập trung xúc tiến kêu gọi đầu tư vào các dự
án sản xuất công nghiệp công nghệ cao, nhất là 4 ngành công nghiệp chủ lực (điện,
điện tử công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, hóa chất và chế biến tinh
lương thực thực phẩm) để thực hiện thành công chương trình CDCCKT như đã đề ra.
Từ nay đến năm 2010, thành phố sẽ tập trung hoàn thiện cơ chế chính sách
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ thành phố lần thứ VIII; phấn đấu tăng GDP từ 12,6% đến 13%, trong đó tăng
khu vực dịch vụ từ 14,2% đến 14,6%, khu vực công nghiệp - xây dựng từ 10,8% đến
sông, quanh hồ lớn, các dải rừng chắn gió, rừng phòng hộ, các công viên ở ngoại ô,
vườn bách thú, vườn bách thảo. Ở mỗi bộ phận có cơ quan chuyên trách và đội sản
xuất chuyên môn do thành phố quản lý, cũng có thể cho từng đơn vị độc lập quản lý
(đối với các công viên lớn).
13