Tiểu luận môn lý luận quản lý giáo dục: Tổng thuật lý luận và liên hệ thực tiễn về chủ đề: Phát triển năng lực quản lý của CBQL trường học. - Pdf 51

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
HỌC PHẦN LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Đề bài: Tổng thuật lý luận và liên hệ thực tiễn về chủ đề: Phát triển năng
lực quản lý của CBQL trường học.
Bài làm
I. Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang đặt tất cả các lĩnh vực
trong xã hội trước nhiều thách thức lớn, trong đó có giáo dục và đào tạo. Để thích
ứng với bối cảnh của cuộc CMCN 4.0, giáo dục và đào tạo cần đổi mới căn bản và
toàn diện, một trong những vấn đề then chốt đó là nâng cao chất lượng cán bộ quản
lý giáo dục.
Muốn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục ngoài những phẩm chất, năng lực cần thiết thì cần có những phẩm chất
mới, năng lực mới theo chuẩn năng lực nghề nghiệp. Để có được những phẩm chất,
năng lực mới đó, người cán bộ quản lý giáo dục phải thay đổi tư duy, tự học tập, tự
bồi dưỡng và được bồi dưỡng thông qua những chương trình bồi dưỡng cán bộ
quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ bồi dưỡng theo phân
cấp quản lý. Theo đó, để nâng cao chất lượng cán bộ quản lý giáo dục trước bối
cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 thì công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục
cần được đổi mới.
Với chủ đề này, em xin tập trung nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề đổi mới công
tác bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học nhằm phát triển năng lực cán bộ quản
lý trường học trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo và cuộc cách mạng 4.0
hiện nay.
II. Tổng thuật lí luận về phát triển năng lực quản lý của cán bộ quản lý
trường học
1. Khái niệm cơ bản
Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của
tổ chức dưới sự tác động của môi trường [9].

một số lĩnh vực hoạt động thực tiễn nhất định.
Năng lực quản lý của người quản lý là khả năng làm chủ những hệ thống
kiến thức, kĩ năng, thái độ trong hoạt động quản lý và vận hành chúng một cách
hợp lý, nhằm giải quyết có hiệu quả những chức năng, nhiệm vụ của người quản lý
[6].
Năng lực quản lý giáo dục là tổng hợp những thuộc tính của người cán bộ
đáp ứng được những yêu cầu của việc lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động trong các
cơ sở giáo dục và đảm bảo cho hoạt động đạt kết quả như mong muốn.

2


Bồi dưỡng theo Từ điển Việt Nam năm 1994: bồi dưỡng là làm cho tăng
thêm năng lực phẩm chất "Bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng giáo
viên, ...". " Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn".
Theo Từ điển giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội (2001)), bồi
dưỡng:
Nghĩa rộng: quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những
phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn. Thí dụ : bồi
dưỡng cán bộ, bồi dưỡng chí khí chiến đấu, bồi dưỡng các đức tính cần, kiệm, liêm,
chính, v.v…
Nghĩa hẹp: trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và
hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Thí dụ : bồi dưỡng kiến
thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, v.v…
Như vậy, mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất và
năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và nâng cao hệ
thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất
lượng, hiệu quả công việc đang làm. Trong hoạt động bồi dưỡng thì yếu tố quyết
định đến chất lượng các hoạt động vẫn là vai trò chủ thể của người được bồi dưỡng
thông qua con đường tự học, tự đào tạo, tự bồi dưỡng nhằm phát huy nội lực cá

Giáo dục trong nhà trường phải để ngoài việc người học học được một nghề
cũng như năng lực giúp họ xử lí được nhiều tình huống cụ thể mà thường không thể
thấy trước được; đồng thời giúp cho người học thích ứng với các biến đổi của thời
đại. Vấn đề này phương pháp dạy học hiện nay chú ý chưa đúng mức và chỉ có thể
thực hiện được khi mà dạy học đi đôi với hoạt động tập thể, lao động gắn với cuộc
sống thực tiễn.
Như vậy, hoạt động dạy học trong trường phải được tiến hành trong một nền
giáo dục đủ rộng (học nhiều môn học với nhiều hình thức) nhằm tạo được cho
người học khả năng làm việc có kỹ năng và kĩ xảo với một nghề chọn lọc; nhưng
biết thêm phương pháp tư duy để biết và thích ứng được với sự thay đổi nghề trong
tương lai.
c. Học để chung sống (học để sống với người khác)
Giáo dục trong nhà trường phải để con người (công dân của thế giới) hiểu
biết nhau về: kế mưu sinh, về lịch sử - văn hóa, về truyền thống và các giá trị tinh
thần của người khác, của cộng đồng khác và của dân tộc khác. Từ đó người học
biết được cái riêng trong cái chung, biết bảo vệ cái riêng, nhưng cũng biết tôn trọng
và xây dựng cái chung của toàn nhân loại; đồng thời biết, hòa nhập vào cái chung
(giá trị chung của nhân loại) để cùng phát triển bền vững.
d. Học để làm người
Giáo dục trong nhà trường như thế nào để cho mỗi con người trong thế kỷ
XXI có năng lực tự chủ và xét đoán cao hơn nhằm gắn bó giữa cá nhân với nỗ lực
đạt được cái chung. Làm sao không để một tài năng nào (như một năng lực tiềm ẩn
trong từng con người) là không được khai thác. Cụ thể là trí nhớ, sự lập luận, trí
tưởng tượng, khả năng thể lực, thẩm mĩ, thái độ giao tiếp với những người khác, uy
4


tín của mỗi người... đều được phát huy. Hiện nay “xã hội thông tin” đang phát triển
làm cho những cơ hội tiếp cận những dữ liệu và sự kiện được gia tăng, nên dạy học
cần giúp cho mọi người sử dụng được thông tin; biết thu thập, chọn lọc, sắp xếp,

mới trong quản lý giáo dục là mô hình chú trọng đến lãnh đạo để thay đổi; các cơ
sở giáo dục quyết định lấy tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và các giá trị cần đạt tới
5


trên cơ sở xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường; tập trung vào rèn
luyện kĩ năng học tập, kĩ năng làm việc, kĩ năng sống và các kĩ năng xã hội khác
cho người học; các cơ sở giáo dục (nhà trường) tự chịu trách nhiệm xã hội về tổ
chức và nhân lực, về giáo dục và dạy học, về tài chính và tài sản trên cơ sở đào tạo
theo nhu cầu xã hội.
Như vậy, bản chất của sự đổi mới quản lý nhà trường là chỗ quản lý lấy nhà
trường làm cơ sở (School – Based Management). Đây là một xu thế tất yếu của sự
đổi mới nhà trường và xu thế này đang xuất hiện các thách thức chủ yếu sau:
- Quản lý lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi CBQL nhà trường phải có năng
lực ra quyết định phù hợp với quyền tự chủ về nhân sự và tài chính; đòi hỏi đội ngũ
nhà giáo phải có năng lực làm việc tập thể, giải quyết vấn đề, hoạch định kế hoạch
phát triển; đòi hỏi tập thể giáo viên, cán bộ, nhân viên nhà trường phải có năng lực
đóng góp và tham gia công tác quản lý.
- Quản lý lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi mọi thành viên nhà trường dành
thêm thời gian hàng ngày cho công việc nhà trường. Điều này là một thách thức
không nhỏ, nhất là đối với giáo viên khi họ đã phải chịu gánh nặng về thời gian do
yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp.
- Quản lý nhà trường làm cơ sở đòi hỏi cơ chế phối hợp mới, trong đó quản lí
giáo dục cấp trên cần giảm bớt tính chỉ đạo một chiều để tăng cường tính khuyến
khích, hỗ trợ, động viên, tạo điều kiện cho nhà trường phát huy vai trò chủ động
trong quản lý, điều hành các hoạt động của mình.
2.2. Phải nhận thức rõ vai trò lãnh đạo và quản lí của người Hiệu trưởng
Lãnh đạo và quản lý là các yếu tố tiền đề để đảm bảo cho sự phát triển bền
vững của một tổ chức nói chung và một trường học nói riêng. Ngoài vai trò quản
lý, Hiệu trưởng còn có vai trò lãnh đạo nhà trường và hai vai trò đó có mối quan hệ

luôn luôn thay đổi để phát triển bền vững. Các vai trò đó gồm:
+ L1: Hoạch định sự phát triển nhà trường (vạch ra tầm nhìn, sứ mạng, mục
tiêu, các giá trị và các giải pháp chiến lược phát triển);
+ L2: Đề xướng sự thay đổi của nhà trường của nhà trường (chỉ ra các lĩnh
vực cần thay đổi để phát triển nhà trường)
+ L3: Thu hút và phát triển nguồn lực nhà trường (thu hút và phát triển nhân
lực, huy động tài chính và cơ sở vật chất cho các hoạt động);
+ L4: Thúc đẩy sự phát triển nhà trường (đánh giá, động viên, phát huy thành
tích)
+ L5: Duy trì sự phát triển bền vững cho nhà trường (uốn nắn và củng cố sự
thay đổi của nhà trường)
- Vai trò quản lý của hiệu trưởng có ý nghĩa làm cho nhà trường luôn luôn
vận hành ổn định để đạt tới các mục tiêu. Vai trò đó được thể hiện ở việc thực hiện
các chức năng cơ bản của quản lý trên cơ sở tuân theo các quyết định của nhà
trường. Các vai trò đó gồm:
+ Q1: Đại diện cho chính quyền về xây dựng và thực thi pháp luật, chính
sách, điều lệ, quy chế và các quy định về hoạt động giáo dục và hoạt động QLGD.
7


+ Q2: Hạt nhân sắp xếp bộ máy tổ chức, phát triển đội ngũ, điều hành nhân
lực, hỗ trợ sư phạm và hỗ trợ quản lí cho mọi thành viên nhà trường.
+ Q3: Chủ sự huy động và quản lí việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
vật chất của nhà trường.
+ Q4: Tác nhân phối hợp các lực lượng trong và ngoài tổ chức nhằm phát
huy thế mạnh và hạn chế các bất thuận của môi trường giáo dục của nhà trường.
+ Q5: Chủ thể của việc thiết lập và vận hành EMIS của nhà trường.
Vai trò lãnh đạo và quản lý của hiệu trưởng có quan hệ biện chứng với nhau,
hiệu trưởng cần thể hiện kết hợp các vai trò trên một cách chặt chẽ, đồng bộ trên tất
cả các lĩnh vực hoạt động của nhà trường.

- Cán bộ quản lý giáo dục trước đây không biết đến sức ép tài chính, còn Cán
bộ quản lý giáo ngày nay có vai trò như một doanh nhân…
- Cán bộ quản lý giáo dục của cơ quan giáo dục trước đây thường chỉ huy, ra
mệnh lệnh và kiểm soát thì ngày nay cần hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện.
- Cán bộ quản lý giáo cấp trường trước đây: thực hiện mệnh lệnh cấp trên
trên mọi lĩnh vực: chuyên môn, tổ chức, nhân sự, tài chính thì ngày nay: quyết
định, tổ chức thực hiện, minh bạch hóa các hoạt động chuyên môn, tổ chức, nhân
sự và kĩ năng chủ yếu của họ là giải quyết vấn đề..
Tất cả những thay đổi trên đòi hỏi cán bộ quản lý giáo phải được chuẩn bị
chu đáo và thường xuyên về chuyên môn – nghiệp vụ quản lí chủ yếu thông qua
đào tạo – bồi dưỡng. CBQLGD phải được trang bị những kiến thức về lí luận quản
lý hiện đại, nghiệp vụ quản lý thiết thực mang tính chuyên nghiệp, đặc biệt cần có
các kĩ năng quản lý của thế kỷ XXI: kĩ năng giao tiếp và liên nhân cách; định
hướng đạo đức và trí tuệ; kĩ năng quản lý sự thay đổi; khả năng khơi dậy và nuôi
dưỡng động lực; có tầm nhìn chiến lược, kĩ năng phân tích và giải quyết vấn đề; kĩ
năng xây dựng tư duy toàn cầu; dám nghĩ, dám làm; nhạy bén với các xu thế thị
trường; sử dựng công nghệ thông tin, có năng lực hoạt động thực tiễn, năng lực đối
ngoại... để trở thành nhà quản lý đủ bản lĩnh biến chủ trương, chính sách thành hiện
thực, trở thành nhà quản lý trong sạch và thạo việc, việc thực hiện đúng chức trách
một cách chuyên nghiệp, hoạt động theo nguyên tắc minh bạch và hiệu quả.
4. Một số yêu cầu năng lực của cán bộ quản lý trường học trong bối
cảnh hiện nay
Để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của nền giáo dục hiện đại trong bối cảnh hiện
nay, người cán bộ quản lý trường học có nhiệm vụ: định hướng, dẫn dắt sự phát
triển, đặc biệt quan tâm tới việc phát triển đội ngũ giáo viên sáng tạo; điều hành,
phối kết hợp thúc đẩy, lôi cuốn các nguồn lực của nhà trường hoạt động hiệu quả;
kết nối nhà trường với xã hội, với cộng đồng. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ ấy,
người CBQL nhà trường, đặc biệt là người đứng đầu/hiệu trưởng nhà trường cần
phát triển cho mình hệ thống năng lực tương ứng. Đó là nhóm năng lực: Năng lực
chuyên môn, sư phạm; năng lực quản lý, điều hành; năng lực lãnh đạo trong nhà

CBQL nhà trường bao gồm năng lực tạo ra sự thức tỉnh trong nhà trường (tạo tâm
lý sẵn sàng thay đổi), năng lực thực hiện sự thay đổi, năng lực xây dựng văn hóa
chấp nhận sự thay đổi trong nhà trường [8].
- Năng lực sáng tạo: Sáng tạo về bản chất là hoạt động tạo ra cái mới và
khác biệt bởi vì sản phẩm mới đươc tạo ra là độc đáo và có giá trị. Năng lực sáng
tạo là thuộc tính nhân cách, là khả năng hành động tạo ra kết quả là cái mới, cái
vượt trội, cái giá trị. Thành phần của năng lực sáng tạo gồm: (1) trí tưởng tượng,
(2) khả năng thích nghi và ứng biến, (3) tò mò, linh hoạt và có thể nhìn nhận sự
viêc một cách đa dạng.
Năng lực sáng tạo là năng lực cần thiết giúp CBQL đối mặt và giải quyết các
tình huống nảy sinh để làm tốt nhiệm vụ và chức năng của mình. Với chức năng
quản lý trường học sáng tạo, người CBQL, đặc biệt là hiệu trưởng phải có năng lực
10


sáng tạo để nhận thức sáng tạo và đối tượng sáng tạo, tạo ra các ý tưởng sáng tạo
trong hoạt động quản lý, quyết định sáng tạo trong điều hành và định hướng phát
triển nhà trường.
- Năng lực định hướng, điều chỉnh và phối hợp các nguồn lực sáng tạo
trong nhà trường: Năng lực định hướng đòi hỏi CBQL có tầm nhìn, hoạch định
được chiến lược phát triển trong nhà trường trong từng giai đoạn; xây dựng những
kỳ vọng và niềm tin cho giáo viên, cho người học; tạo dựng được sự đồng lòng,
nhất trí, cam kết và tự nguyện của các lực lượng giáo dục trong trường cùng phấn
đấu mục tiêu chung. Năng lực điều hành và phối kết hợp các nguồn lực sáng tạo
đòi hỏi CBQL phải am hiểu chuyên môn, am hiểu về mặt sư phạm của nhà trường
để cố vấn cho giáo viên và tập thể sư phạm trong quá trình giáo dục và dạy học
sáng tạo; am hiểu về công tác quản lý nhân sự, quản lý tài chính và quản lý các mặt
khác trong nhà trường; hiểu biết và làm chủ ứng dụng công nghệ tiên tiến trong
giáo dục nhà trường; nắm vững chức năng, nhiệm vụ, đánh giá đúng mức trình độ
phát triển, khả năng thực có để phân chia công việc, giao việc, ra quyết định hiệu

dục theo chức năng nhiệm vụ được giao. Trong nhiều năm qua, hoạt động bồi
dưỡng cho đội ngũ CBQL nhà trường đã được được nhiều kết quả quan trọng, góp
phần nâng cao chất lượng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho
CBQL. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBQL cũng thường xuyên có sự thay đổi, cập
nhật nội dung, chương trình bồi dưỡng; Phương pháp giảng dạy cũng có sự linh
hoạt và đa dạng hơn. Trong mỗi khóa bồi dưỡng, học viên được tham gia các
chuyến thực tế xuống cơ sở để tìm hiểu tình hình thực tế tại các địa phương. Kết
thúc khóa học, hầu hết học viên đều đánh giá khá cao các chuyên đề bồi dưỡng
cũng như chất lượng giảng dạy của học viên.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác này nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế:
- Về nội dung, chương trình: Chương trình bồi dưỡng cán bộ QLGD được
ban hành theo Quyết định 382/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2012 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và đào tạo. Nội dung, chương trình, đổi mới còn chậm và chưa chú trọng
khảo sát tìm hiểu mong muốn của người học. Việc bồi dưỡng theo kiểu đồng loạt
với nội dung cho tất cả các học viên; thiếu sự khảo sát trình độ và nhu cầu để tổ
chức lớp học phân hóa theo năng lực, nguyện vọng người học đã làm giảm hiệu quả
của quá trình bồi dưỡng.
- Về phương pháp bồi dưỡng: Hiện nay, phương pháp bồi dưỡng chủ yếu là
thuyết trình kết hợp một số nội dung thảo luận nhóm. Có một số nội dung người
học được thực hành, tuy nhiên nội dung này chưa nhiều, chưa có sự gắn kết nhiều
giữa nội dung lý thuyết vào thực hành hoặc những tình huống cụ thể.
- Về phương pháp bồi dưỡng chủ yếu là tập trung tại chỗ. Học viên bắt buộc
phải có mặt trên lớp để tiếp cận bài học dẫn đến khó khăn cho nhiều học viên trong
việc đi lại hoặc giải quyết những công việc thuộc nhiệm vụ được phân công tại cơ
sở.
- Về kiểm tra, đánh giá người học còn mang tính hình thức, nhiều khi chưa
phản ánh đúng chất lượng học tập.
Những hạn chế này ảnh hưởng lớn đến chất lượng các khóa bồi dưỡng cho
CBQL nhà trường, tác động không nhỏ đến hiệu quả quản lý của họ cũng như chất
12

- Xây dựng và lựa chọn bộ máy tham gia hoạt động bồi dưỡng
Lựa chọn đội ngũ giảng viên phải đảm bảo đạt chuẩn trình độ đào tạo, vừa có
đức, vừa có tài, có năng lực tìm hiểu học viên, đặc biệt họ phải là người tích cực
đổi mới, sáng tạo, đi đầu trong việc ứng dụng những thành tựu của công nghệ hiện
đại vào giảng dạy.
- Đổi mới phong pháp và hình thức bồi dưỡng
13


Lớp bồi dưỡng nên được mở theo cùng một đối tượng và nên chỉ có từ 30
đến 40 học viên, nhằm tạo điều kiện cho các giảng viên có điều kiện sử dụng những
phương pháp dạy học tích cực, học viên có cơ hội được trao đổi, chia sẻ, nâng cao
chất lượng bồi dưỡng.
Phương pháp bồi dưỡng phải đa dạng: thuyết trình, minh họa, thảo luận
nhóm, thực hành, đóng vai, giải quyết tình huống..... Trong quá trình bồi dưỡng cần
dành nhiều thời gian cho việc trao đổi, giải đáp thắc mắc và thực hành đổi mới
phương pháp dạy học như: tổ chức học viên thực hành tình huống quản lý, chia sẻ
bài học kinh nghiệm...
Bước đầu thực hiện và phát triển hình thức bồi dưỡng trực tuyến, vừa tận
dụng được thành tựu khoa học hiện đại, vừa giải quyết những khó khăn của học
viên về thời gian, đi lại, giải quyết công việc...
Phương hướng đổi mới công tác bồi dưỡng là phải coi trọng quá trình tự học,
tự bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng thông qua công việc hàng ngày của đội ngũ CBQL
nhà trường. Do đó bản thân CBQL phải ý thức rõ điều này và không ngừng cố
gắng, nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao năng lực, hoàn thành tốt các công
việc và nhiệm vụ được giao.
- Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để nâng cao
hiệu quả bồi dưỡng
Thời đại CMCN 4.0, việc học tập không chỉ trên lớp mà phải học mọi nơi,
mọi lúc; học qua trải nghiệm, nghiên cứu khoa học. Việc sử dụng công nghệ thông

các phòng giáo dục nêu rõ khóa bồi dưỡng CBQL cấp nào; Phòng Giáo dục các
huyện gửi cử cán bộ quản lý theo đúng đối tượng tham gia bồi dưỡng.
- Chương trình, nội dung, hình thức giảng dạy: Được thực hiện theo tài liệu
Bồi dưỡng của nhà trường biên soạn năm 2013 dựa trên chương trình quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, tuy nhiên đến hiện nay tài liệu chưa được cập nhật, điều
chỉnh, bổ sung những nội dung, quy định, văn bản mới.
- Số lượng giảng viên của khoa Bồi dưỡng hiện nay có: 05 giảng viên cơ hữu
và 07 giảng viên là lãnh đạo trường, lãnh đạo một số đơn vị trong trường tham gia
giảng dạy bồi dưỡng.
Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy có trình độ đạt chuẩn, nhiệt tình, có
trách nhiệm cao trong giảng dạy, phát huy những kinh nghiệm chuyên môn, kinh
nghiệm quản lý của mình góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng của
nhà trường.
- Từ khi thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng (năm 2000) đến
năm 2018, Trường đã mở được 31 khóa Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục cho
1300 cán bộ quản lý các trường các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở
trong tỉnh. (Bảng cụ thể sau)

15


Bồi dưỡng
TT

Năm học

Khóa học

CBQLGD trường
Mầm

Khóa 10

0

0

31

31

3

2002 - 2003

Khóa 11, 12

41

35

0

76

4

2003 - 2004

Khóa 13, 14


37

0

37

7

2006- 2007

Khoa 17, 18

0

25

35

60

8

2007 - 2008

Khóa 19, 20

41

27


68

11

2010 - 2011

Khóa 25, 26

0

45

61

106

12

2011- 2012

Khóa 27, 28

36

56

0

92


2014 - 2015

Khóa 33, 34

38

52

0

90

16

2015 - 2016

Khóa 35, 36

49

0

43

92

17

2016 - 2017


553

395

1300

- Các học viên là những cán bộ quản lý, cán bộ trong nguồn quy hoạch các
trường sau khi học xong khóa học đã đạt được những mục tiêu theo yêu cầu, hình
thành được những kiến thức, kỹ năng quản lý vận dụng có hiệu quả trong hoạt động
quản lý tại đơn vị mình.
2. Những hạn chế trong công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bồi dưỡng quản lý giáo dục của
Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng còn tồn tại một số hạn chế:
- Chương trình, tài liệu, phương pháp bồi dưỡng CBQLGD còn chậm đổi
mới, chưa xuất phát từ nhu cầu của cán bộ quản lý, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới QLGD đang diễn ra ở các địa phương.
17


- Các giảng viên chưa kịp thời trong việc cập nhật những kiến thức về lí luận
quản lý giáo dục mới, hiện đại, việc gắn lý luận với giáo dục từng địa phương còn
hạn chế. Việc bồi dưỡng giảng viên làm nhiệm vụ bồi dưỡng chưa được quan tâm
thường xuyên, đúng mức.
- Thiếu sự phối hợp của nhà trường với địa phương trong việc xác định nhu
cầu đào tạo, bồi dưỡng QLGD một cách cụ thể.
- Nội dung, hình thức bồi dưỡng chưa chú trọng đến phương pháp thực hành,
chưa gắn lí luận với việc giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá chủ yếu qua những bài kiểm tra lí luận,
chưa đánh giá được khả năng vận dụng năng lực quản lý vào những vấn đề, những
tình huống thực tế.

dung, hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, đặc biệt việc sử dụng công nghệ
thông tin và truyền thông để tiện ích hóa, nâng cao hiệu quả bồi dưỡng cũng như
huy động các nguồn lực phục vụ bồi dưỡng, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động
bồi dưỡng, từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL nhà trường./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày
4/11/2013 của về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

2.

Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý nhà trường, NXB Đại học Sư phạm.

3.

Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (2015), Giáo trình khoa học Quản lý giáo dục, NXB
Giáo dục Việt Nam.

4.

Đặng Xuân Hải (chủ biên) (2016), Năng lực thích ứng của cán bộ quản lý
nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục, NXB Giáo dục Việt Nam

5.

Nguyễn Duy Hưng (2013), Quản lý chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status