Thực trạng pháp luật về phá sản doanh nghiệp và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LONG VŨ QUỲNH PHƢƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LONG VŨ QUỲNH PHƢƠNG

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM



1.
2.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài……………………………..
Tình hình nghiên cứu đề tài……………………………………………

1
2

3.
4.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn…………………........ 3
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn…………………........ 3

5.
6.
7.

Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn………........ 3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn………………………….. 4
Bố cục của luận văn…………….………………………………………. 4

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT
PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP………………….……………………………… 5
1.1. Khái niệm phá sản……………………….……………………………... 5
Một số vấn đề chung về pháp luật phá sản doanh nghiệp …………...
Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp……………………………
Nội dung của pháp luật phá sản …………...…………………………...

2.2.

13
16

18
20
21
32

Thực trạng thực hiện pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam...……………………………………………………………………. 49


2.2.1. Kết quả áp dụng Luật phá sản năm 2014 và một số nhận xét, đánh giá 49
về thực trạng thi hành pháp luật phá sản...........................................................
2.2.2. Khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về phá sản doanh 51
nghiệp và nguyên nhân…………………………………………………………
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
ĐẢM BẢO THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM…………………………………………….. 59
3.1. Một số phƣơng hƣớng nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật
về phá sản doanh nghiệp………………………………………………………. 59
3.2. Giải pháp nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về phá sản
doanh nghiệp…………………………………………………………………… 59
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phá sản doanh nghiệp………………… 60
3.2.2. Tổ chức thực hiện Luật phá sản năm 2014……………………………..

70


thu có chọn lọc pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới, khắc phục hạn chế
của luật cũ, Luật phá sản năm 2014 đã có những thay đổi cơ bản phù hợp với yêu
cầu thực tiễn, tạo điều kiện cho việc giải quyết các vụ việc phá sản một cách công
bằng, hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, Luật phá sản năm 2014 mới chỉ đi vào thực
hiện trong thời gian ngắn nên việc áp dụng vào thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc,
có thể kể đến như việc áp dụng các quy định về Quản tài viên, các quy định về quản
lý và xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, các quy định về thủ
tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp… chưa thực sự hiệu quả do các quy định luật
này vẫn còn một vài hạn chế cần hoàn thiện.


2
Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật phá sản hiện hành và
đánh giá khả năng áp dụng vào thực tiễn của các quy định này đã trở thành một yêu
cầu cần thiết. Từ những đánh giá đó, chúng ta sẽ rút ra ưu nhược điểm và đề ra các biện
pháp cần thiết để Luật Phá sản 2014 sớm được áp dụng có hiệu quả vào thực tế.
Đây cũng là lý do tiên quyết để tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về
phá sản doanh nghiệp và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về
phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật phá sản có vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là một bộ phận
cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam mà nó còn góp phần điều chỉnh, cân bằng
nền kinh tế. Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phá sản cũng như
pháp luật phá sản như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng các quy định
của Luật phá sản về thủ tục phá sản” của TS. Nguyễn Văn Dũng năm 2004; Cuốn
“Pháp luật phá sản của Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ, xuất bản năm
2005; “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật
kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư pháp năm 2009; “Phá sản doanh nghiệp- Một
số vấn đề lý luận về thực tiễn” của Nguyễn Tấn Hơn năm 2005; “Thực trạng pháp
luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam”

nghiệp và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật phá sản doanh nghiệp; rút
ra những hạn chế trong các quy định pháp luật và trong quá trình áp dụng các quy
định này.
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện
có hiệu quả pháp luật về phá sản doanh nghiệp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
Luật phá sản năm 2014 trong mối quan hệ so sánh với các quy định của luật phá sản
thời kỳ trước và thực tiễn áp dụng các quy định này trong thực tế.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích những nội dung
cơ bản về phá sản doanh nghiệp của Luật phá sản năm 2014 và các văn bản pháp luật
liên quan, đồng thời luận văn chỉ đề cập đến thực trạng áp dụng pháp luật mà không
đề cập đến toàn bộ quá trình thực hiện pháp luật phá sản và chỉ giới hạn trong thời
gian từ khi Luật Phá sản năm 2014 có hiệu lực cho đến ngày 31/05/2017.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, các phương pháp được vận dụng để giải
quyết các vấn đề trong luận văn gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để triển khai nghiên
cứu các quy định của pháp luật phá sản doanh nghiệp.
- Phương pháp xã hội học, thống kê để thu thập số liệu về tình hình áp dụng
pháp luật phá sản doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu để đánh giá, nghiên cứu mô hình pháp luật
phá sản của Việt Nam với pháp luật phá sản các nước trên thế giới, từ đó học hỏi


4
các kinh nghiệm trong việc lập pháp của các quốc gia tiên tiến. Đồng thời phương
pháp so sánh được sử dụng để làm nổi bật sự khác biệt giữa luật phá sản doanh
nghiệp ở các thời kỳ, góp phần đánh giá, rút kinh nghiệm và tìm hướng xây dựng
pháp luật phá sản ngày một hoàn thiện hơn.

mất khả năng thanh toán nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia các đại hội thương
gia và chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường1. Cho đến nay,
“Banca Rotta” được sử dụng như một thuật ngữ về phá sản ở nhiều quốc gia (trong
tiếng Anh là “Bankrupcy”, trong tiếng Pháp là “Banqueroute”…).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phá sản là tình trạng một công ti, xí
nghiệp gặp khó khăn về tài chính hay bị thua lỗ, hoặc khi thanh lí xí nghiệp không
bảo đảm thanh toán đủ tổng số các khoản nợ đến hạn2.
Thuật ngữ phá sản đã được du nhập vào Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Trước đó, trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, phá sản bị coi là một hiện tượng
xấu, thể hiện sự trì trệ, yếu kém của nền kinh tế và thường bị chối bỏ. Các cơ quan
cấp trên thường sẽ bù lỗ bằng ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp thua lỗ
hoặc đình chỉ hoạt động của doanh nghiệp thua lỗ. Cho đến khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường, phá sản mới được nhìn nhận dưới một con mắt khác.
Luật công ty năm 1990 đã bước đầu đề cập đến khái niệm “doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản”. Theo đó, tại Điều 24 Luật Công ty năm 1990: “Công ty gặp
khó khăn thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số các
tài sản của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty
lâm vào tình trạng phá sản”. Tuy nhiên khái niệm này chưa thể hiện được đầy đủ
bản chất của phá sản. Bởi lẽ có nhiều doanh nghiệp mặc dù tổng số tài sản hiện có
không đủ thanh toán tổng số nợ nhưng không bị coi là lâm vào tình trạng phá sản do
chủ nợ xóa nợ, hoãn nợ, mua nợ…
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã quy định cụ thể hơn về doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 2: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh
1

Nguyễn Tuấn Hơn (1995), Phá sản doanh nghiệp, một số vấn đề thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, tr.9.
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2003),Từ điển bách khoa Việt Nam 3,
NXB. Từ điển bách khoa.
2

nghiệp không còn sử dụng thuật ngữ “lâm vào tình trạng phá sản” mà thay vào đó là
thuật ngữ “mất khả năng thanh toán”. Theo đó, Luật phá sản năm 2014 xác định
tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp dựa trên tiêu chí định lượng:
“Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày
3

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB
Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.411.


7
đến hạn thanh toán”. Bên cạnh đó, lần đầu tiên Luật phá sản năm 2014 đã đưa ra
định nghĩa mang tính pháp lý về phá sản tại khoản 2 Điều 4: “Phá sản là tình trạng
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra
quyết định tuyên bố phá sản”. Luật phá sản năm 2014 đã hoàn thiện quy định về
pháp luật phá sản khi đưa ra được khái niệm pháp lý về phá sản và tình trạng mất
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.4
Như vậy, về mặt pháp lý, khái niệm “phá sản” có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất, phá sản là tình trạng doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán và
bị cơ quan Nhà nước ra quyết định tuyên bố phá sản. Hậu quả của quyết định này là
việc chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, phá sản là thủ tục pháp lý để doanh nghiệp giải quyết tình trạng mất
khả năng thanh toán nợ đến hạn của mình. Thủ tục này được quy định bởi Luật phá
sản và pháp luật liên quan, được tiến hành khi doanh nghiệp đó có những dấu hiệu
lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, quá trình thực hiện có thể đem đến kết
quả doanh nghiệp được phục hồi hoặc doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, ngừng
hoạt động…
1.2. Một số vấn đề chung về pháp luật phá sản doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp

pháp luật phá sản mới chính thức điều chỉnh quan hệ này.
Chủ thể của quan hệ tài sản này là chủ nợ và con nợ. Chủ nợ là cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao
gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm.
Còn con nợ chính là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn.
Khách thể của quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là tài sản của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản nợ.
Nội dung của quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ chính là các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ tài sản này.
b) Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các đương sự
Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các đương sự
được phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp.
Chủ thể của quan hệ tố tụng này bao gồm: các đương sự (chủ nợ, con nợ và
những người có liên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần, thành viên
công ty hợp danh…), cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết yêu cầu
phá sản doanh nghiệp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành
án dân sự) và quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Khách thể của quan hệ tố tụng này chính là quá trình giải quyết yêu cầu phá
sản doanh nghiệp.
Nội dung của quan hệ tố tụng này là các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các
đương sự trước Nhà nước hoặc là các hành vi tố tụng của các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Như vậy, pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội: (i) Quan hệ
tài sản giữa chủ nợ và con nợ, (ii) Quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm


9
quyền và các đương sự. Mặc dù hai nhóm quan hệ này có những tính chất khác
nhau nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ mật thiết với nhau (quan hệ tài sản là cơ
sở để hình thành quan hệ tố tụng và quan hệ tố tụng nhằm bảo vệ quan hệ tài sản).


Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam tập I, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.
446, 447.


10
phát sinh, Tòa án phải can thiệp rất nhiều thì mới giải quyết được vụ việc phá sản.
Vì vậy, pháp luật phá sản nước ta được xây dựng với vị trí của Tòa án như một
nhân vật trung tâm, có vai trò quyết định.
Thứ tư, nội dung của pháp luật phá sản chịu sự tác động của xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa là một xu thế đang diễn ra
mạnh mẽ. Do đó, việc xây dựng pháp luật phá sản không chỉ cần phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế xã hội trong nước mà còn phải hướng tới và phù hợp với xu
thế hội nhập kinh tế toàn cầu.
1.2.2.2. Nội dung pháp luật phá sản
Nội dung của pháp luật phá sản nói chung là tổng thể các quy phạm pháp luật
bao gồm đạo luật (Luật Phá sản); các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định,
Quyết định, Nghị quyết, Thông tư) và các văn bản pháp luật liên quan (Luật dân sự,
Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại,…). Nó điều chỉnh trình tự mở thủ tục phá
sản, thủ tục phục hồi doanh nghiệp, thủ tục tuyên bố phá sản, thu hồi tài sản và
thanh toán theo một thứ tự nhất định cho các chủ nợ.
Pháp luật phá sản là một hệ thống mở, luôn xoay chuyển, vận động cho phù
hợp với các đặc điểm, yêu cầu của nền kinh tế ở mỗi quốc gia. Tương tự luật phá
sản của các nước trên thế giới, nội dung pháp luật phá sản Việt Nam tập trung ghi
nhận những vấn đề quan trọng như: đối tượng áp dụng pháp luật phá sản, lí do phá
sản, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản, thủ tục giải quyết yêu cầu
phá sản.
- Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản: Theo Điều 2 Luật phá sản năm 2014,
đối tượng áp dụng của Luật này là: “Doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

Một doanh nghiệp khi khủng hoảng tài chính, phải đóng cửa sẽ khiến nhà
đầu tư có nguy cơ không thu hồi được nợ. Về lý luận cũng như thực tiễn, trong các
đối tượng có liên quan đến tình trạng phá sản của doanh nghiệp, chủ nợ là những
người có quyền lợi bị ảnh hưởng trực tiếp và có nguy cơ bị thiệt hại lớn nhất. Pháp
luật phá sản được xây dựng trước hết là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ nợ. Việc ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ trong pháp
luật phá sản đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, giúp các doanh nghiệp mạnh
dạn hơn khi tham gia vào thị trường kinh doanh.
Pháp luật phá sản của Việt Nam đã rất coi trọng việc bảo vệ quyền lợi cho
các chủ nợ, thể hiện qua các quy định pháp luật như quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản, quyền tham gia Hội nghị chủ nợ, quyền thông qua phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định sau
khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp con nợ phải tiến hành
mọi hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát kiểm tra của Thẩm phán và quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hay con nợ bị cấm, bị hạn chế một số
6

Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), tlđd chú thích 5, tr. 448- 450.


12
hoạt động nhất định. Những quy định này là để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp
mắc nợ, từ đó đảm bảo tài sản thanh toán nợ cho các chủ nợ. Với các thủ tục pháp
lý được quy định trong luật phá sản, quyền lợi của tất cả các chủ nợ sẽ được đặt lên
bàn cân, được xem xét một cách bình đẳng và công bằng nhất.
1.2.3.2. Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ
Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ thể hiện ở những quy
định như: ấn định thời điểm ngừng trả nợ và ngừng tính lãi đối với các khoản nợ;
tạo điều kiện để con nợ thượng lượng với chủ nợ nhằm xóa nợ, giảm nợ, mua nợ;
ngăn chặn những hành vi bất hợp pháp xâm hại quyền lợi của con nợ từ phía chủ

thủ tục để giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản. Bằng việc giải quyết thỏa đáng lợi ích của các chủ thể
có liên quan, hạn chế những bất đồng, mâu thuẫn giữa họ, pháp luật phá sản góp
phần bảo vệ trật tự, kỷ cương trong nền kinh tế và toàn xã hội.
1.2.3.5.

Pháp luật phá sản giúp cơ cấu lại nền kinh tế

Việc tuyên bố phá sản các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ có tác dụng thiết thực
trong việc cảnh báo, răn đe các nhà đầu tư phải thận trọng trong việc lựa chọn
ngành nghề, hình thức, quy mô đầu tư cũng như tổ chức các hoạt động kinh doanh
của mình, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả. Thêm vào đó, pháp luật
phá sản là công cụ xoá bỏ các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tạo môi trường kinh
doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư hoạt động. Như vậy, pháp luật phá sản góp
phần cơ cấu lại nền kinh tế, tạo ra môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh - một yếu
tố không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.7
1.2.4. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản
doanh nghiệp
1.2.4.1. Pháp luật phá sản doanh nghiệp trước khi Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993 ra đời
Các chế định liên quan đến phá sản đã hiện hữu trong cổ luật Việt Nam, đặc
biệt là thời Lê (thế kỉ 15) và thời Nguyễn (thế kỉ 19). Tuy nhiên các chế định này
được quy định một cách rời rạc, lẻ tẻ, chưa tạo được một hệ thống hoàn chỉnh về
pháp luật phá sản. Pháp luật phá sản của Việt Nam chỉ thực sự được hình thành
dưới thời kì Pháp thuộc nhưng pháp luật phá sản lúc này áp dụng chủ yếu là ở miền
Nam và trên thực tế cũng rất ít được áp dụng. Thời đó, thuật ngữ “khánh tận” được
dùng thay nghĩa phá sản để chỉ tình trạng mất khả năng thanh toán của thương nhân.
Sau đó, các quy định về khánh tận, thanh toán tư pháp phá sản đã được ghi nhận
trong Bộ luật Thương mại Trung Phần năm 1942 và Bộ luật Thương mại miền Nam
Việt Nam năm 1973.

không đạt được.
1.2.4.3. Luật phá sản năm 2004
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bước đầu tạo được hành lang pháp
lý, giải quyết các vấn đề phá sản doanh nghiệp, bảo vệ trật tự kỷ cương trong lĩnh
vực kinh tế, tuy nhiên do trình độ, hiểu biết còn hạn chế nên luật phá sản giai đoạn
này còn nhiều bất cập. Luật phá sản năm 2004 với nhiều điểm tiến bộ đã được Quốc
hội thông qua ngày 15/06/2004 bao gồm 9 chương và 95 điều, thay thế Luật phá sản
doanh nghiệp năm 1993.
Luật phá sản năm 2004 đã khắc phục được nhiều vướng mắc, hạn chế của
Luật phá sản doanh nghiệp 1993 như: mở rộng đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, đơn giản hóa khái niệm tình trạng phá sản, thay đổi các quy
định về trình tự thủ tục tiến hành giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo hướng đa
dạng hóa, giảm bớt số lượng các cơ quan tham gia tiến hành thủ tục phá sản… Nhìn


15
chung, Luật phá sản năm 2004 đã có những thay đổi lớn, đóng góp nhiều cho sự
thay đổi theo hướng tích cực của pháp luật phá sản đồng thời khẳng định vai trò là
một công cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
1.2.4.4. Luật phá sản năm 2014
Sau gần 10 năm áp dụng, Luật phá sản năm 2004 đã bộc lộ những hạn chế
như: một số quy định của Luật phá sản năm 2004 mâu thuẫn với các văn bản quy
phạm pháp luật khác, chưa tương thích với pháp luật quốc tế; một số quy định
không còn phù hợp với thực tiễn thi hành; một số quy định không đảm bảo được lợi
ích của các chủ thể tham gia vào thủ tục phá sản… Vì vậy, yêu cầu đặt ra lúc này là
cần ban hành một văn bản luật mới khắc phục được những điểm hạn chế của Luật
phá sản năm 2004. Ngày 19 tháng 06 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc Hội khóa
XIII đã chính thức thông qua Luật phá sản năm 2014.
Luật phá sản năm 2014 bao gồm 14 chương, 133 điều cho thấy bước tiến
đáng kể của Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về phá sản. Luật phá sản năm

rộng. Ngược lại với những nước kém phát triển, kiến thức pháp luật cũng như cơ
sở vật chất còn hạn chế, chưa đáp ứng được hết nhu cầu giải quyết phá sản thì đối
tượng áp dụng sẽ thu hẹp hơn.
Theo Luật phá sản của các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,
Thuỵ Điển, Nhật Bản… thì phạm vi áp dụng thủ tục phá sản được mở rộng không
chỉ cho các thương nhân là pháp nhân, cá nhân kinh doanh mà còn cho cả cá nhân là
người tiêu dùng. Tuy nhiên thủ tục tiến hành tuyên bố phá sản đối với các doanh
nghiệp có những điểm khác biệt so với thủ tục giải quyết đối với cá nhân tiêu dùng.
Khác với quan điểm của các quốc gia phát triển kể trên, Luật phá sản năm
2014 của Việt Nam vẫn giữ nguyên quan điểm cũ, tức là chỉ áp dụng luật phá sản
đối với doanh nghiệp và hợp tác xã mà không tính đến các chủ thể kinh doanh
khác như cá nhân, hộ gia đình có đăng kí kinh doanh… Luật phá sản năm 2014
không mở rộng đối tượng áp dụng của luật phá sản vì các lý do: (i) Các đối tượng
là cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác... không phải là các đối tượng phải
đăng ký vốn, không thực hiệt tốt chế độ kế toán, gây khó khăn khi thanh lý tài sản;
(ii) Đối với các trường đại học, các trường học ở các cấp khác theo luật giáo dục
thì việc đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể đối với các đối tượng này
do Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, vì khi giải quyết vấn đề
đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể đối với các đối tượng này còn
liên quan đến chính sách đối với học sinh, sinh viên; (iii) Đối với xí nghiệp hiện
nay tồn tại không nhiều và được quy định tại các văn bản dưới luật, trong thời
gian tới cần chuyển đổi mô hình xí nghiệp sang mô hình doanh nghiệp để thống


17
nhất quản lý.8 Với cách tiếp cận như vậy, Luật phá sản năm 2014 vẫn quay về với
các đối tượng áp dụng truyền thống, tức là các doanh nghiệp và hợp tác xã, tương
tự như Luật phá sản năm 2004.
Tuy nhiên, liệu việc thu hẹp đối tượng áp dụng của luật phá sản chỉ đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) có thực sự phù

25/10/2013.


18
chủ nợ. Quy định này thể hiện sự tiếp thu tích cực và phù hợp với kinh nghiệm lập
pháp của một số nước trên thế giới.9
Như vậy, có thể hiểu doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là tình trạng của
doanh nghiệp bị mất cân đối trong cán cân thu chi, doanh nghiệp không thực hiện
hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc ngừng các hoạt động thanh toán
đối với khoản nợ đến hạn trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật
kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có những đặc điểm cơ bản sau:
- Về khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được, đó là bất kỳ
khoản nợ nào: nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp
đồng...
- Về cơ bản, mất khả năng thanh toán được hiểu theo nghĩa hẹp nhất là việc
doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn; tài sản của
doanh nghiệp không đủ để thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, khái niệm này hiểu theo
nghĩa rộng không chỉ là doanh nghiệp không còn tài sản để trả nợ mà cần phải được
hiểu theo góc độ khác: mặc dù doanh nghiệp còn tài sản để trả nợ nhưng đã không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ; doanh nghiệp còn tài sản nhưng
ngừng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các chủ nợ đối với các khoản nợ đến hạn.
- Khoản nợ được coi là mất khả năng thanh toán là khoản nợ mà doanh
nghiệp tạo ra từ hoạt động kinh doanh hợp pháp của mình.
Với định nghĩa rõ ràng và cụ thể của quy định về tình trạng mất khả năng
thanh toán như trên, Luật phá sản năm 2014 đã chứng tỏ được những thay đổi theo
hướng tích cực của mình, phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của thế giới. Ngoài ra,
với định nghĩa này, quyền lợi của chủ nợ sẽ được đảm bảo tối đa bởi để mở yêu cầu
mở thủ tục phá sản, chủ nợ không cần phải chứng minh đã có yêu cầu thanh toán
(văn bản đòi nợ, văn bản khất nợ...), chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời

khoản nợ đó (Khoản 6 Điều 4);
(iii) Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu
doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba (Khoản 4 Điều 4).
Trong các chủ nợ này, Luật phá sản chỉ quy định cho chủ nợ không có bảo
đảm hoặc có bảo đảm một phần được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp khi nhận thấy doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản.
Các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn xin mở thủ tục phá sản
vì khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp liên quan hay
bảo lãnh của bên thứ ba.

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở. Các chủ thể này có quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện
nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh
nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở
lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục


20
phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh
toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.

Thành viên Hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác
xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán

số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 9/2014, tr. 40.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status