Giá trị pháp lý của văn bản công chứng - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ ĐỨC HIỂN

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ ĐỨC HIỂN

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số


tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU

Chương 1:

1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG, VĂN

7

BẢN CÔNG CHỨNG

1.1.

Nguồn gốc, khái niệm và đặc điểm của công chứng

7

1.1.1. Nguồn gốc và các hệ thống công chứng trên thế giới

7

VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG

2.1.

Một số vấn đề chung về giá trị pháp lý của văn bản công chứng

38

2.1.1. Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng

38

2.1.2. Về giá trị thi hành của văn bản công chứng

43

2.2.

46

Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về giá trị
pháp lý của văn bản công chứng

2.2.1. Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong các văn bản

46

pháp luật ở giai đoạn trước khi Luật Công chứng được ban hành
2.2.2. Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong Luật Công


pháp lý của văn bản công chứng
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY

73

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA
VĂN BẢN CÔNG CHỨNG

3.1.

Định hướng chung

73

3.2.

Về các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giá trị văn bản công chứng

78

3.2.1. Nâng cao nhận thức về công chứng

78

3.2.2. Về hoàn thiện quy định của Luật Công chứng về giá trị văn

80

bản công chứng
3.2.3. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm giá trị thi hành của

Trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch dân sự, kinh tế, thương
mại luôn có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tính phức tạp. Cùng với đó,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, nguy cơ xảy ra tranh chấp trong các giao
dịch này cũng ngày một gia tăng. Khi đã xảy ra tranh chấp, một loạt các vấn
đề phát sinh mà hậu quả của nó chính là việc làm mất thời gian, chi phí, gây
tổn hại đến uy tín, danh dự của tổ chức cá nhân tham gia giao kết, đồng thời
gây mất ổn định trong xã hội. Chính vì thế, nhu cầu hình thành và phát triển
một thiết chế pháp luật tích cực để có thể phòng ngừa, ngăn chặn tranh chấp
phát sinh trong giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại như đã nêu trên là một
đòi hỏi khách quan.
Ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước theo hệ thống dân luật,
từ lâu đã tồn tại một thiết chế pháp luật cho phép phòng ngừa các tranh chấp
một cách tích cực, chủ động và hiệu quả. Đó là thiết chế công chứng. Với
chức năng tham gia vào quá trình thỏa thuận, giao kết các hợp đồng, giao
dịch, công chứng viên có trách nhiệm giúp các bên tham gia giao kết thể hiện
ý chí của mình một cách vô tư, khách quan, đúng pháp luật, giải quyết các
xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể này, qua đó loại bỏ những nguyên
nhân gây ra tranh chấp.
Việc tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng của công chứng viên
như đã nêu trên có thể được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau
nhưng kết quả cuối cùng của quá trình đó được thể hiện dưới một hình thức
chung nhất là những hợp đồng, giao dịch đã được công chứng hay còn gọi là
văn bản công chứng.
Tùy theo truyền thống pháp lý và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia,
văn bản công chứng được thể hiện theo những kết cấu và nội dung khác nhau;

6


được pháp luật thừa nhận với những giá trị pháp lý cũng tương đối đa dạng.


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

đề về hiệu lực thi hành). Bên cạnh đó, một số quy định còn chưa rõ hoặc có
nội dung chồng chéo, thậm chí vô hiệu hóa nhau dẫn đến tình trạng nhiều cơ
quan, tổ chức và cá nhân chưa nhận thức đúng, đầy đủ và thực sự tôn trọng.
Chính điều này cũng làm ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của công chứng trong
đời sống xã hội nhất là trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách
hành chính phục vụ việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Do đó,
việc nghiên cứu về giá trị pháp lý của văn bản công chứng để từ đó làm cơ sở
tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng như những
quy định của các quy định của pháp luật có liên quan là một nhu cầu cấp thiết.
Thực tiễn công tác tại Bộ Tư pháp - cơ quan chịu trách nhiệm giúp Chính phủ
quản lý nhà nước về công chứng cũng là lý do giúp tác giả lựa chọn đề tài
"Giá trị pháp lý của văn bản công chứng" làm đề tài nghiên cứu của luận
văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Với tư cách là một thiết chế bổ trợ tư pháp, tuy có thời gian hình thành
và phát triển chưa dài song với vai trò và những đóng góp quan trọng của
công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thời gian qua
đã có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về thiết chế này như: "Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt
Nam", đề tài cấp Bộ, mã số 92-98-224, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý,
1993; "Một số vấn đề về công chứng giao dịch tài sản ở Việt Nam", Luận văn

quan điểm tư tưởng tiến bộ của các công trình nghiên cứu trên, luận văn "Giá
trị pháp lý của văn bản công chứng" bên cạnh việc phân tích về mặt lý luận
về công chứng, văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng,
luận văn đề cập sâu về thực trạng quy định của pháp luật của loại văn bản
này, về kinh nghiệm của một số nước trong việc hình thành cơ chế, phương
thức bảo đảm giá trị của loại văn bản này trên thực tế và những điểm tương
đồng, khác biệt với hệ thống công chứng của Việt Nam, qua đó mong muốn
cung cấp thêm một cách nhìn toàn diện hơn về giá trị pháp lý của văn bản
công chứng trong xu thế phát triển của loại hình dịch vụ công này và kiến

9


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm đối với
giá trị của văn bản công chứng.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn bản công chứng và giá trị
pháp lý của văn bản công chứng, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ
yếu như: xác định rõ khái niệm công chứng, văn bản công chứng; hình thức,
yêu cầu về bố cục và những nội dung cơ bản của văn bản công chứng; làm rõ
nội hàm giá trị chứng cứ không phải chứng minh và hiệu lực thi hành của văn
bản công chứng; đề xuất quan điểm, định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các

luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng.

11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ CÔNG CHỨNG, VĂN BẢN CÔNG CHỨNG

1.1. NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG CHỨNG

1.1.1. Nguồn gốc và các hệ thống công chứng trên thế giới
a) Nguồn gốc công chứng
Nguồn gốc của hoạt động công chứng được tìm thấy trong văn hóa La
mã cổ đại, bắt đầu từ hoạt động của các Tabellion [66]. Xuất hiện vào khoảng
giữa thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, Tabellion là tập hợp một
nhóm người luôn góp mặt trong những công việc kinh doanh thông qua việc
soạn thảo văn bản giúp các chủ thể tham gia giao dịch thể hiện ý chí của mình
đúng hình thức và phát sinh hiệu lực. Qua thời gian, hoạt động của những
Tabellion dần trở nên phổ biến và phát triển thành nghề. Nhờ những kiến thức
và kỹ năng của mình, những người làm nghề này dần đóng một vai trò quan
trọng trong cả những giao dịch công và tư, đồng thời được đế chế La Mã

tính xã hội sâu sắc. Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ
quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc
cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính
chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội,
cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối
tượng quản lý của Nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều
kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức
năng xã hội của Nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công).
b) Các hệ thống công chứng trên thế giới
- Hệ thống công chứng Latinh
Hệ thống công chứng Latinh được xây dựng trên cơ sở hệ thống luật
thành văn (dân luật), nơi mà các đạo luật là nguồn cơ bản của pháp luật, vai

13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

trò của thẩm phán là đảm bảo sự áp dụng pháp luật; án lệ chỉ có vai trò phụ
trợ cho đạo luật, giải thích hoặc góp phần hoàn thiện luật. Các nước trong hệ
thống pháp luật công chứng Latinh điển hình là: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa

viên giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ
trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp.
Trách nhiệm của Công chứng viên là giúp cho các chủ thể tham gia hợp đồng
giao dịch lựa chọn và định đoạt tài sản của mình một cách hợp lý nhất, đồng
thời có nghĩa vụ tư vấn cho các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch một cách
vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợp đồng có
thể đặt ra để bảo vệ quyền lợi của các bên. Với nghĩa vụ này, Công chứng
viên không chỉ là người chứng nhận ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng,
mà còn có nghĩa vụ giúp các bên thể hiện ý chí trong hợp đồng, lựa chọn các
thể thức giao kết hợp đồng phù hợp, tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng,
vào pháp luật áp dụng cho loại hợp đồng đó và thông tin cho các bên biết về
những hệ quả pháp lý mà hợp đồng đặt ra. Công chứng viên có nhiệm vụ hòa
giải sự bất đồng quan điểm của các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch trong
quá trình lập hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong giao kết hợp đồng, tôn
trọng quyền lợi chính đáng của các chủ thể. Do vậy, công chứng viên thực sự
giữ vai trò trọng tài và trung gian hòa giải giữa các chủ thể tham gia hợp đồng
giao dịch, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giúp cho các bên tìm được
tiếng nói chung, sớm đạt được sự thống nhất, tránh xảy ra tranh chấp hợp
đồng sau này. Như vậy, theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện
của khách hàng, công chứng viên đem lại cho các hợp đồng, giao dịch một
tính đích thực, có giá trị như văn bản của các cơ quan công quyền khác cấp,
đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch được công chứng sự an toàn pháp lý
trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhất những tranh chấp dân
sự, làm giảm bớt gánh nặng về xét xử cho cơ quan tòa án. Công chứng viên
không chỉ là người tinh thông về pháp luật mà còn phải có đạo đức tốt, thể
hiện ở chỗ họ không những cần có lòng trung thực mà còn cần phải có thái độ
công minh, vô tư, sự tôn trọng triệt để các bí mật được biết, lòng can đảm để
dám chịu trách nhiệm khi đặt bút ký và đóng dấu vào hợp đồng.
Tuy nhiên, do yêu cầu phải thận trọng, chính xác, trung thực nên hệ
thống pháp luật công chứng Latinh đã đặt ra rất nhiều thủ tục và trình tự chặt

chấp. Ở các nước này mà điển hình là: Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ (trừ Bang Louisane), Canada (trừ Bang Quebec), Ấn Độ, Singapore,
Thái Lan, Đài Loan... không thừa nhận thể chế công chứng chuyên nghiệp. Chức
năng công chứng ở các nước theo hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon được thực hiện bởi các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của
Giáo hội, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực
hiện một số việc công chứng ở nước ngoài... những người này thực hiện hoạt
động công chứng theo phương thức kiêm nhiệm. Đó là những công chứng
viên không chuyên biệt. Trước khi được kiêm nhiệm hoạt động công chứng,
họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội
Luật sư hoặc là hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội. Trong hệ thống

16


pháp luật công chứng Anglo-Sacxon, những người hành nghề công chứng
không chịu sự can thiệp nhiều của quyền lực hành pháp của Nhà nước. Những
nước theo hệ thống công chứng này không hình thành bộ máy để quản lý,
theo dõi hoạt động công chứng cũng như những người hành nghề công chứng.
Những người hành nghề công chứng ở đây hoạt động tự do, sự quản lý của
nhà nước chỉ thể hiện ở việc cấp chứng chỉ hành nghề, và đổi chứng chỉ hành
nghề hàng năm cho những người hành nghề công chứng. Phạm vi hoạt động
của công chứng chủ yếu là xác nhận các sự kiện, các lời tuyên thệ hay chữ ký
của các bên trong các hợp đồng, giao dịch.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống công chứng Anglo-Sacxon là việc công
chứng chỉ mang tính hình thức (vì vậy hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng hình thức), nghĩa là
khi tiến hành hoạt động công chứng, người hành nghề công chứng chỉ ghi
nhận lại và chứng nhận sự kiện pháp lý đã xảy ra, họ chỉ chú trọng đến việc
nhận diện đúng chủ thể tham gia giao dịch, ghi lại đúng thời gian, địa điểm
tiến hành giao kết hợp đồng, ghi lại chính xác thỏa thuận của các bên và ý chí
của từng bên... chứ họ không cần quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp

dịch này mà không cần quan tâm đến nội dung, đến tính hợp pháp của nó
(công chứng hình thức) không có ý nghĩa trong việc hạn chế tranh chấp, tạo
hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch và làm cho vai trò của hoạt động
công chứng trở thành mờ nhạt, vị trí của người hành nghề công chứng bị xem
nhẹ vì nó gợi cho người ta cảm giác rằng công chứng là hoạt động tương đối
giản đơn, ai cũng có thể hành nghề được.
- Hệ thống công chứng Collectiviste
Hệ thống công chứng Collectiviste (hay còn gọi là hệ thống công
chứng bao cấp) là mô hình công chứng được tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động
chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của Nhà nước thông qua việc cấp ngân sách.
Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp trong bộ máy
hành pháp của Chính phủ. Công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ đều là
công chức nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước và được
hưởng mọi chế độ chính sách như những công chức khác. Công chứng viên
được bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cá
nhân, tổ chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng
ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vai trò của công chứng viên ở
các nước này phần nào bị hạn chế, chủ yếu phục vụ mục đích quản lý nhà
nước và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa bởi pháp luật không thừa nhận quyền
sở hữu tư nhân đối với một số tài sản, đặc biệt là đối với đất đai.
Điển hình của hệ thống Collectiviste là công chứng của các nước xã hội
chủ nghĩa cũ. Hệ thống công chứng này phát triển mạnh nhất vào những năm
từ 1970 đến 1990, gồm công chứng của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

18


xô viết, Cộng hòa Ba lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, Hunggari, Rumani,
Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam... Hệ thống công chứng Collectiviste có một số
điểm đặc trưng cơ bản như:

Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

+ Văn bản công chứng là chứng cứ viết, đem lại an toàn về mặt pháp
lý cho các giao dịch, giao lưu, làm tăng tính ràng buộc và có giá trị thi hành
giữa các bên tham gia các giao dịch, giao lưu đó;
+ Tránh nhiệm dân sự của công chứng viên rất hạn chế đối với những
thiệt hại do họ gây ra khi thực hiện công chứng. Không có cơ chế đảm bảo
trách nhiệm nghề nghiệp
Hiện nay, các nước theo hệ thống công chứng bao cấp đang có những
cải cách về thể chế nhằm phù hợp với nền kinh tế thị trường, hướng theo mô
hình công chứng Latinh.
1.1.2. Khái niệm công chứng
a) Quan niệm về công chứng ở một số nước
Notarie - tiếng Pháp, Notary - tiếng Anh, Notariat - tiếng Đức, Hottapiat tiếng Nga, đều có gốc La tinh là Notarius, có nghĩa là Viết, ghi chép. Theo
Pierre-Francois Real, một trong những nhà biên soạn Luật Ventôse năm 1804
làm cơ sở cho việc thiết lập nghề công chứng ở nhiều quốc gia khác ngoài
Cộng hòa Pháp như Bỉ, Đức, Áchentina, Áo, Bukina Faso, Chi lê, Colombia,
Bờ biển Ngà, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ý, Lucxembua, Ma rốc, Mêhicô, Hà
Lan, Cộng Hòa Diminica, Rumani, Sênêgal và Thụy sĩ thì:
Những người tư vấn cho các bên đương sự một cách vô tư,
giúp họ hiểu được phạm vị nghĩa vụ hợp đồng mà họ đã giao kết,
soạn thảo các hợp đồng này một cách rõ ràng, làm chứng cho chúng
có tính xác thực và có giá trị như một phán quyết chung thẩm, đóng
vai trò bộ nhớ của đương sự và lưu giữ tuyệt đối hồ sơ của họ, hạn
chế tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên một cách ngay tình:

Ở hệ thống công chứng Collectiviste, ban đầu công chứng chưa được
coi là một nghề. Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste,
hầu hết các nước đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đều có sự đổi mới
trong quan niệm về công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công
chứng Latinh và hệ thống Anglo - Saxon, đó là xác định công chứng là một
nghề tự do đặt dưới sự quản lý của Nhà nước và đang từng bước tiến hành cải

21


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng
tự do. Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày 14/02/1991 về công chứng
quy định:
Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những văn bản mà
trong đó, các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích; Ở Trung
Quốc, theo Điều 2 Luật Công chứng quy định "Công chứng là hành
vi được thực hiện bởi một công chứng viên theo yêu cầu của khách
hàng để xác nhận tính xác thực và hợp pháp của hành vi, sự kiện hay
tài liệu có tính pháp lý theo theo thủ tục pháp luật quy định [64].
So sánh những quy định nêu trên cho thấy, nội dung chi tiết về chức
năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước
có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng đều có những

Tòa án sơ thẩm như ở Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng và các tỉnh Nam Bộ
có Chánh lục sự kiêm công chứng viên. Thời kỳ này, một hợp đồng giữa hai
bên là người Việt Nam có thể làm dưới hình thức: (i) Do hai bên đương sự
thỏa thuận và ký (được gọi là tư chứng thư); (ii) Do chính quyền thị thực tức
là do trưởng phố ở các thành thị và lý trưởng ở nông thôn thị thực hoặc do
Công chứng viên lập (công chứng thư).
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp đã ra Nghị định bổ nhiệm ông Vũ Quý Vĩ làm Công chứng tại Hà Nội.
Sau đó thuật ngữ "Công chứng" được sử dụng trong Nghị định 143-HĐBT
ngày 20/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp.
Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng
nhà nước ở Việt Nam - công chứng nhà nước được xác định:
Là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công
dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý
nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các
văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên,

23


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ

phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa [30, Điều 1].
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng được xác định:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp
đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng
ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [10].
So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị
định này đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định số
45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự
phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp
lý của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy
định "chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ" ở cả hai Nghị định
này còn quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác
nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng.
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới
được tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị
định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm
chung của thế giới về công chứng. Theo Nghị định này:
Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác
thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập
trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác
(sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo
quy định của Nghị định này [11, khoản 1 Điều 2].
Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số
75/2000/NĐ-CP đã xác định khái niệm chứng thực "là việc Ủy ban nhân dân
cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status