THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC TRONG CÁC
TRƯỜNG THPT HUYỆN BẢO
LÂM – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Khái quát về tình hình tự nhiên, KT – XH, văn hóa,
giáo dục huyện Bảo Lâm – tỉnh Lâm Đồng
- Vị trí địa lý, tình hình KT – XH, văn hóa
Huyện Bảo Lâm được thành lập từ năm 1994 trên cơ sở chia
tách từ huyện Bảo Lộc (cũ) thành 2 đơn vị hành chính là:
thành phố Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Vị trí của huyện nằm
ở phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng; phía Đông giáp huyện Di
Linh; phía Tây giáp huyện Đa Huoai, Đạ Tẻ và Cát Tiên;
phía Nam giáp huyện Hàm Thuận Bắc và Tánh Linh tỉnh
Bình Thuận; phía Bắc giáp với huyện Đăk G’Long và Đăk
R’Lấp tỉnh Đắc Nông. Trung tâm huyện là thị trấn Lộc
Thắng cách quốc lộ 20 khoảng 14 km và cách trung tâm
thành phố Bảo Lộc 16 km về phía Nam. Bảo Lâm có tổng
diện tích đất tự nhiên là 146.342 ha, bao bọc 3 mặt Đông,
Tây, Bắc thành phố Bảo Lộc.
Bảo Lâm là vùng đất khá bằng phẳng, dân cư thưa thớt, dân
số toàn huyện là 117.399 nhân khẩu với 28.634 hộ, mật độ
dân số khoảng 77 người/km2 (Niên giám thống kê huyện Bảo
Lâm năm 2014).
Hiện nay trên địa bàn huyện có hơn 20 đồng bào dân tộc
sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ 30% dân số
nằm trên địa bàn KT – XH đặc biệt khó khăn. Tất cả 04
trường THPT này đều là trường công lập và tuyển sinh hầu
hết số HS trên địa bàn huyện Bảo Lâm.
Từ năm học 2006 – 2007, tất cả các trường THPT trên toàn
huyện đều thực hiện chương trình phân ban theo chương
trình THPT phân ban trên cả nước nhưng với thực tế đội
ngũ GV, CSVC – TBDH, trình độ HS… thì tất cả các
trường đều chỉ dạy học hai ban: Ban Khoa học tự nhiên và
Ban Cơ bản, trong đó chủ yếu là Ban Cơ bản.
Quy mô trường lớp – HS của các trường được thể hiện qua
bảng số liệu sau:
- Quy mô trường lớp các trường THPT huyện Bảo Lâm
(Năm học 2016 – 2017)
Trường
Số lớp
Số
Số
HS
HS/lớp
THPT Bảo Lâm
41
106
3543
32,9
Căn cứ bảng số liệu trên cho thấy: các trường có quy mô
trường lớp – HS ở mức độ vừa phải, sĩ số HS/lớp khá đồng
đều, giao động từ 30,5 đến 35,5 HS/lớp thuận tiện cho việc
đổi mới PPDH. Dự báo trong một vài năm học tới, quy mô
trường lớp – HS các trường trên địa bàn huyện Bảo Lâm vẫn
giữ ở mức ổn định nếu căn cứ vào đặc điểm dân cư và số
người trong độ tuổi đến trường ở bậc học THPT.
- Chất lượng hai mặt giáo dục HS
- Chất lượng giáo dục các trường THPT huyện Bảo Lâm
Học lực %
Trường
THPT
Giỏ
Kh
i
á
15,
9
5
6
30,
53,
11,
7
1
4
Bảo Lâm
THPT
4,2
Lộc An
THPT
6,5
30,
3, 1,0
5
5
63,
33,
6
7
2
75,
21,
3,
3
0
7
trường trong huyện những năm gần đây được cải thiện đáng
kể. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của giáo dục Lâm Đồng
thì vẫn còn thấp, tỷ lệ xếp loại học lực Yếu khá cao, đặc biệt
vẫn còn tình trạng HS xếp loại học lực Kém. Thực tế khách
quan là bởi địa phương còn nhiều khó khăn về kinh tế, chất
lượng đầu vào của học sinh quá thấp (tuyển sinh gần như
100%), tỷ lệ HS người đồng bào dân tộc thiểu số cao (từ 15
đến 20%), việc đổi mới giáo dục, đặc biệt là đổi mới PPDH
chưa đạt kết quả như mong muốn. Những khó khăn không
nhỏ này sẽ là thách thức đối với những người lãnh đạo cũng
như tập thể GV trong đổi mới PPDH.
- Cũng từ thống kê về Hạnh kiểm của các trường THPT
huyện Bảo Lâm cho thấy: khả năng quản lý về giáo dục đạo
đức HS của CBQL, đội ngũ GV và các lực lượng khác là rất
tốt. Bởi vì tỷ lệ HS xếp loại hạnh kiểm Tốt, Khá rất cao. Công
tác giáo dục đạo đức tốt cũng là một phần quan trọng giúp cho
hoạt động dạy và học được thuận lợi, đồng nghĩa với việc
thuận lợi cho quá trình đổi mới PPDH.
- Đội ngũ CBQL và GV
- Đội ngũ CBQL (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) các
trường THPT huyện Bảo Lâm
Trình
độ lý
Trình độ
sĩ
sĩ
0
ng họ sĩ 0 – 50
p
c
4
0
Bảo
4
4
0
4
0
0
4
0
4
0
0
4
0
2 0 0 4
0
2
2
0
2
0
0
13
0
4 0 1 11 1
cộng
Tỷ lệ
%
100, 0 100, 0
0
0
0 100, 0 30, 0 7, 84, 7,7
0
7
7 6
Từ bảng số liệu về đội ngũ CBQL cho thấy:
-100% CBQL đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo, đều đã
qua các lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, tập
trung chủ yếu về công tác quản lý trường học bậc THPT,
100% CBQL đều được bồi dưỡng Trung cấp lý luận chính trị,
do đó về cơ bản đã đạt được yêu cầu công tác. Tuy nhiên, mới
chỉ có 04 CBQL đạt trình độ Thạc sĩ QLGD và 3 CBQL đang
g
Bảo
Lâm
Lộc
Trình độ
Trìn Trìn
chuyên
h độ h độ
môn
Đạt Trên
chu
chu
ẩn
ẩn
Tin
Ngo
học
77
44
27
35
25
0
52
50
2
45
30
15
26
11
0
27
0
18
15
9
12
5
1
57
1
228
218
95,6
10
4,4
những yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới PPDH theo
ĐHPTNL học sinh. Theo đó người GV tất yếu phải biết sử
dụng máy tính và các TBDH hiện đại.
+ Đội ngũ GV có độ tuổi trung bình khá trẻ: số người
dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 28,8%, từ 30 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ
46,0%. Với tỷ lệ 74,5% GV từ dưới 30 đến 40 thì đa phần đội
ngũ GV các trường ở vào độ tuổi sung sức, chín chắn. Lợi thế
của đội ngũ GV trẻ là khả năng thích ứng, tiếp cận nhanh với
CNTT – TT, các thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại. Đồng
thời đội ngũ GV trẻ cũng sẽ có thời gian trau dồi lý luận dạy
học hiện đại, nâng cao vốn ngoại ngữ, tin học – những
phương tiện cốt yếu cho quá trình đổi mới PPDH.
+ Cơ cấu GV ở các bộ môn và tỷ lệ GV/lớp về cơ bản là
tương đối hợp lý và đủ so với quy định, đảm bảo yêu cầu dạy
học đối với mỗi nhà trường.
-
Khó khăn:
+ Vấn đề học tập nâng cao chuyên môn của GV chưa
được chú trọng đúng mức, chỉ có 4,4% GV vượt chuẩn. Do đó
thiếu đội ngũ GV có tay nghề vượt trội để đào tạo HS chuyên
sâu, mũi nhọn, đồng thời thiếu đội ngũ này sẽ ảnh hưởng khá
lớn đến việc phát huy chất lượng các môn học.
+ Một bộ phận GV chưa có trình độ tin học, ngoại ngữ
hoặc nếu có rồi cũng rất “lơ mơ”, đặc biệt là trình độ ngoại
ngữ. Điều này cũng cản trở lớn trong việc đổi mới PPDH.
26
0
25
6
Lộc
20
0
15
4
Lộc
22
0
20
4
Lộc
ngoại khóa, chuyên đề...
- Các trang thiết bị hiện đại như máy chiếu đa năng,
tivi... cũng đã được các trường ra sức đầu tư. Tuy nhiên do
nguồn tài chính hạn hẹp nên số lượng cũng còn khiêm tốn.
Phòng học bộ môn thiếu hoặc chưa đủ tiêu chuẩn. Thực tế
chưa đạt yêu cầu trong dạy học hiện nay.
- Tổ chức khảo sát thực trạng đổi mới PPDH ở các
trường THPT huyện Bảo Lâm – tỉnh Lâm Đồng
Để làm rõ thực trạng công tác quản lý đổi mới PPDH
theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chúng tôi đã
tiến hành khảo sát thực tế 4 trường THPT tại huyện Bảo Lâm,
tỉnh Lâm Đồng: Trường THPT Bảo Lâm, Trường THPT Lộc
Thành, Trường THPT Lộc An, Trường THPT Lộc Bắc, cụ thể
như sau:
Chúng tôi đã xây dựng và chọn mẫu khảo sát là 4/4
trường THPT của huyện Bảo Lâm. Đây đều là các trường
thuộc hệ công lập.
Kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu, tuy nhiên chủ
yếu vẫn là phát phiếu điều tra 24/24 người gồm: Hiệu trưởng,
Phó hiệu trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn và 105
người là giáo viên của 4 trường.
Thời gian khảo sát: năm học 2016-2017.
Quy trình khảo sát: Thiết kế mẫu, in mẫu, gửi trực tiếp
các mẫu phiếu thăm dò đến Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, các
Tổ trưởng, Nhóm trưởng chuyên môn và giáo viên. Bên cạnh
đó chúng tôi cũng trực tiếp phỏng vấn 4 Hiệu trưởng, 4 Hiệu
%
105
105
100,0
2
Đàm thoại
105
104
99,0
3
Trực quan
105
84
80,0
4
14
13,3
105
0
0
đề
7
Dạy học tình
huống
8
Phương
pháp
khác
Từ bảng điều tra về những PPDH được sử dụng chủ yếu
của GV trong trường phổ thông cho thấy: PPDH truyền thống
vẫn là PP được áp dụng thường xuyên và áp đảo, có 100%
GV đồng ý với việc sử dụng PP thuyết trình, 99,0% sử dụng
PP đàm thoại, 80,0% sử dụng PP trực quan. PP thực hành thì
chỉ được sử dụng trên mức trung bình không nhiều: 61,0%.
đánh giá
lệ %
1
Rất cần thiết
129
84
65,0
2
Cần thiết
129
42
32,5
3
Ít cần thiết
129
Các yếu tố
Số ý
Số ý
Tỷ
kiến
kiến
lệ %
được
đánh
hỏi
1
Mục tiêu và nội dung dạy
học
giá
129
100
70,5
5
Việc kiểm tra, thi cử, đánh
129
78
60,4
129
83
64,3
129
69
53,4
giá
6
Sự quản lý của nhà trường
Nội dung
Số
ý
kiế
n
đư
ợc
Kết quả
Điể Xế
Đồ
Ph
Khô
ng
ân
ng
ý
vân đồn
gý
2,2
6
5
hoạt động của GV
2
Đổi
mới
PPDH
theo ĐHPTNL là
tạo cho HS trở
thành chủ thể hoạt 129 108 21
0
động tự giác, tích
2,8
4
1
cực, độc lập, sáng
tạo trong học tập
HS khả năng tự
đánh giá và điều
129 71
54
4
2,5
2
4
chỉnh hoạt động học
tập
5
Đổi
mới
PPDH
theo ĐHPTNL là
xác lập vai trò tổ
chức, hướng dẫn,
129 104 25
điểm trung bình là 2,62. Điều này chứng tỏ, nhiều GV vẫn chỉ
tập trung truyền đạt kiến thức sao cho xong bài chứ chưa thật
quan tâm đến tâm tư, tình cảm, thái độ của học sinh trong giờ
học. Trong khi việc đổi mới PPDH lại rất cần đến nghệ thuật
truyền cảm hứng cho người học nói chung và học sinh nói
riêng.
+Tạo cho HS “khả năng tự đánh giá và điều chỉnh hoạt
động học tập” chưa được nhiều GV đồng tình với điểm trung
bình 2,52. GV vẫn quen với việc thầy, cô mới là người
được đánh giá và điều chỉnh học sinh trong khi họ không
ý thức được rằng, bản thân người học biết tự nhận xét và đánh
giá về mình đó mới là làm chủ được kiến thức.
- Về xác lập vai trò của GV:
Do hiểu được vai trò của mình trong việc thực hiện đổi
mới PPDH nên phần lớn GV đồng tình với việc họ phải giữ
“vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển trong dạy học”. Cụ
thể, số điểm trung bình khảo sát là 2,81. Đây cũng là điều dễ
hiểu, bởi vì đổi mới PPDH định hướng phát triển năng lực
thì người GV sẽ là người điều khiển, tổ chức, hướng dẫn
còn HS là người tự học.
- Nhận thức về việc vận dụng các PPDH theo ĐHPTNL
Kết quả
Điể
Số ý
T
T
g
TB
đồng
Xế
p
thứ
X
bậc
1,84
4
ý
42