Tiểu luận phát triển chương trình giáo dục - Pdf 51

Lời mở đầu
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn
Phương Huyền, cô đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện để em có thể hoàn thành tiểu luận này một cách tốt nhất.
Với nền kiến thức hạn chế, tiểu luận không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được những lời khuyên và góp ý để tiểu luận ngày
một hoàn thiên hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

1


Câu 1: anh chị hãy phân tích chu trình phát triển
chương trình và đánh giá những thuận lợi và khó
khăn cho trường phổ thông khi thực hiện chu trình.
1.Mở đầu
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã mang lại những thành tựu vĩ
đại, trong đó đáng kể nhất là sự xuất hiện máy tính hiện đại cùng hệ thống
Internet. Những thành tựu ấy đã tạo điều kiện để từng bước hình thành một
nền kinh tế mới: kinh tế tri thức. Muốn phát triển nền kinh tế tri thức thì
cần thông qua giáo dục đào tạo, vì chỉ thông qua giáo dục đào tạo mới có
thể tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực mà trước
hết là nguồn lực của con người cho sự phát triển kinh tế xã hội, giúp người
lao động nâng cao trình độ học vấn ứng dụng và sáng tạo khoa học công
nghệ tốt hơn. Và để xây dựng được một chương trình giáo dục thì khâu
phát triển chương trình nhà trường đang là một khâu rất được quan tâm và
chú trọng. Phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn năng lực đã và đang
hiện hữu như là một xu thế toàn cầu và tất yếu trong nhà trường ở mọi cấp
học. Để hiểu sâu hơn về phát tiển chương trình, trong bài tiểu luận này em
xin phân tích chu trình phát triển chương trình theo và đánh giá những
thuận lợi và khó khăn cho nhà trường trong việc thực hiện chu trình với

dục là một quá trình liên tục thì nó sẽ bao gồm các bước thực hiện sau
1. Phân tích nhu cầu (Need analysis)
2. Xác định mục đích và mục tiêu (Defning aims and objectives)
3. Thiết kế (Curriculum design)
4. Thực thi (Implementation)
5. Đánh giá (Evaluation)

II. Xác định mục
đích và mục tiêu

Các bước phát triển

I. Phân tích
nhu cầu

III. Thiết kế

chương trình giáo dục

V. Đánh giá

IV. Thực thi

3


Năm bước trên được bố trí thành một vòng tròn khép kín. Cách sắp xếp
như vậy nhằm thể hiện đây là một quá trình liên tục hoàn thiện và không
ngừng phát triển chương trình đào tạo, khâu này ảnh hưởng trực tiếp đến
khâu kia. Chúng ta không thể tách rời một khâu mà không xem xét đến sự

lại hoàn thiện hoặc xây dựng lại mục tiêu đào tạo. Rồi dựa trên mục tiêu
4


đào tạo mới, tình hình mới lại thiết kế lại hoặc hoàn chỉnh hơn chương
trình đào tạo cũ.. Chu trình phát triển chương trình là một quá trình tuyến
tính và luôn có tính chất phản hồi để cải thiện thường xuyên. Cứ như vậy
chương trình đào tạo sẽ liên tục được hoàn thiện và phát triển không ngừng
cùng với quá trình đào tạo

2.1. Phân tích nhu cầu (Need analysis)
Bước đầu tiên trong chu trình phát triển chương trình đào tạo là phân
tích nhu cầu. Phân tích nhu cầu là xem xét tất cả các yếu tố có thể ảnh
hưởng đến việc đưa ra các quyết định về mục tiêu, cấu trúc và nội dung
của
chương trình đào tạo. Phân tích nhu cầu là xác định và phân tích mọi điều
kiện, mọi yếu tố có thể ảnh hưởng đến quá trình đào tạo, qua đó giúp cho
những người xây dựng chương trình xác định được những cái cần đưa vào
chương trình đào tạo. Đó là các yêu cầu đào tạo, các đặc điểm của học viên
và môi trường đào tạo, nội dung kiến thức, mục tiêu đào tạo và mọi khía
cạnh khác cần thiết cho việc xây dựng và thực thi chương trình đào tạo.
Thông thường, trước khi xây dựng một chương trình đào tạo người ta
cần phải thu thập thông tin liên quan đến nguồn nhân lực tham gia vào quá
trình dạy và học cũng như các điều kiện vật lực và môi trường đào tạo. Về
học viên, người xây dựng chương trình cần thu thập các thông tin liên quan
đến họ qua các lĩnh vực như: trình độ học viên, nhu cầu đào tạo, động cơ

thái độ học tập, cách thức học, các điều kiện học tập.v.v... Tương tự như
vậy
các nhà xây dựng chính sách hoặc chương trình đào tạo các cấp cũng phải

năng lực của người học thì những thông tin của người học đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc thiết kế chương trình.
Một chương trình học được thực hiện thành công, có hiệu quả khi
người thiết kế có đầy đủ thông tin về người học. Kiến thức trước khi bắt
đầu môn học Việc tìm hiểu, phân tích kiến thức nền của người học đủ để
tiếp thu môn học mới là rất cần thiết trước khi dạy môn học cũng như thiết
kế một môn học mới. Bắt đầu một môn học bằng những kiến thức quá xa
lạ, hoặc bằng những kiến thức mà đa số người học đã biết đều gây hậu quả
xấu như nhau, hoặc hoang mang, lo sợ hoặc thất vọng, chán nản. Nếu có
đầy đủ các thông tin về kiến thức đầu vào của người học, giáo viên sẽ có
chiến lược phù hợp trong việc thiết kế chương trình môn học, hoặc sẽ có kế
hoạch dạy học môn học phù hợp nhất với một đối tượng cụ thể.
Thái độ của người học đối với một môn học cụ thể có thể ảnh hưởng
tới kết quả học tập của họ. Do vậy, nhất thiết phải xem xét thái độ của
người học khi thiết kế một khoá học để có các biện pháp thay đổi thái độ
tiêu cực, tác động đến sự hứng thú, nhiệt tình của học viên với môn học.
Bổ sung các tài liệu mới, bổ ích, giáo viên nhiệt tình với học viên, với môn

6


học là những biện pháp có tác động tốt, giúp học viên phát triển thái độ
tích cực đối với môn học.
Những mong đợi của người học đối với môn học. Người thiết kế cần
Tìm hiểu những mong đợi của học viên đối với môn học, sẽ giúp giáo viên
hoặc người thiết kế điều chỉnh nội dung môn học nếu có thể, hoặc sẽ có
những biện pháp phù hợp để điều chỉnh những mong đợi của họ.
Kinh nghiệm học tập của những người học đã trải qua một vài năm
công tác có thể đem đến lớp học những kinh nghiệm đa dạng về thực tế
cuộc sống khi áp dụng các kiến thức, kĩ năng học được trong nhà trường

tiên đào tạo đặc thù của cơ sở đó. Trong trường hợp này, những đặc điểm
riêng của nhà trường sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với việc xác định mục
đích, mục tiêu của một chương trình giáo dục, chính sách tuyển học v.v.

2.2.Xác định mục đích và mục tiêu ( Defning aims and
objectives )
Mục tiêu của chương trình giáo dục nói chung, của từng nhóm môn
học, của mỗi môn học là sự diễn giải của mục đích chương trình giáo dục,
sự diễn giải này có mức độ cụ thể hóa khác nhau. Đối với nhóm môn học,
từng môn học có mục tiêu chung (general objectives) còn đối với từng
chương, từng bài cụ thể chúng ta có mục tiêu cụ thể (đặc thù – specific objectives). Đặc trưng của loại mục tiêu này là có thể định lượng được,
quan sát được và đánh giá đo lường được qua quá trình thay đổi hành vi
của người học trong các lĩnh vực nhận thức, kỹ năng, tình cảm/ thái độ.
Mục tiêu đào tạo : Là các tiêu chí sản phẩm đào tạo phải đạt được. Nói
một cách khác, mục tiêu đào tạo là sự diễn đạt cụ thể những cái mà sinh
viên
có khả năng thực hiện được sau khi hoàn tất một môn học hay khoá học.
Tùy theo cách tiếp cận trong xây dựng chương trình đào tạo và cách
xây dựng mục tiêu đào tạo cũng sẽ khác nhau. Dựa trên các nguyên tắc đó
lựa chọn nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy, phương tiện phục vụ
đào tạo cũng như cách thức kiểm tra đánh giá kết quả dạy và học. Các
nguyên tắc này không chỉ cần thiết cho người xây dựng chương trình đào
tạo các cấp mà cho cả mọi người tham gia vào quá trình đào tạo như những
người quản lý, giảng viên và cả học viên trong các hoạt động đào tạo.

2.3. Thiết kế chương trình giáo dục (Curriculum design)
2.3.1. Lựa chọn và sắp xếp nội dung chương trình
Nội dung chương trình là tập hợp các sự kiện, khái niệm, nguyên lý,
nguyên tắc, lý thuyết,... về các lĩnh vực khoa học liên quan đến mục tiêu,
chuẩn đầu ra của chương trình. Phạm vi và độ sâu của các nội dung này

o Toàn bộ
o Niên đại
o Theo chiều dọc
o Theo chiều ngang

2.3.2. Xác định các hình thức tổ chức dạy - học
Có 2 hình thức tổ chức dạy học cơ bản

9


 Hình thức tổ chức dạy học có mặt giáo viên có thể có các hình thức,
như: lớp đông, làm việc nhóm, xemina, tại phòng thí nghiệm, phòng
bộ môn, đi dã ngoại…..
 Hình thức tổ chức dạy học không có mặt giáo viên có thể có các hình
thức như: tự học trước khi lên lớp (ở nhà) và tự học sau khi lên lớp
(về nhà).
Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có các phương pháp dạy học và
hình thức kiểm tra đánh giá tương ứng. Căn cứ mục tiêu, nội dung, đối
tượng dạy học, điều kiện dạy học… giáo viên có thể lựa chọn hình thức tổ
chức dạy học phù hợp nhằm phát huy tối đa sự chủ động, tích cực của học
sinh, với tư cách là một chủ thể của quá trình dạy học.
Hình thức tổ chức dạy học cũng là cơ sở để lựa chọn các phương tiện,
công nghệ, công cụ dạy học, giúp quá trình dạy học thêm đa dạng, lí thú
hơn với học sinh.

2.3.3.Chọn các phương pháp phù hợp
Có nhiều phương pháp dạy học khác nhau
 Phân loại theo hình thức hoạt động của các chủ thể trong quá trình
dạy học: phương pháp thông báo, phương pháp giải thích, diễn

bảo học sinh có thể tiếp cận với máy tính cùng phần mềm tương ứng.
 Luôn sáng tạo linh hoạt, không quá cầu kì.
 Đừng quên những công nghệ thấp nhưng hiệu quả cao (tài liệu phát
tay, đồ dùng dạy học tự tạo v.v.).





2.3.5. Thiết kế công cụ và quy trình đánh giá kết quả học
tập.
Bước 1:. Xác định những mục tiêu chi tiết ứng với từng đơn vị nội dung
của môn học.

Bước 2: Lựa chọn các hình thức kiểm tra đánh giá.
Thông thường, khi áp dụng học chế tín chỉ, trong quá trình học một
môn học, giảng viên áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá liên tục như
sau:
11








Bài tập cá nhân/tuần: 10%
Bài tập nhóm/tháng: 10%
Bài tập lớn/học kì: 20%

 Chương trình môn học - Đề cương môn học - Kế hoạch bài dạy
12











Các tài liệu học tập có liên quan kể cả các tài liệu của thầy.
Kết quả học tập của sinh viên các khoá sau khi học xong môn học.
Ý kiến phản hồi của sinh viên sau khi học xong môn học.
Ý kiến của đồng nghiệp sau dự giờ.
Ý kiến đánh giá của cựu sinh viên (nếu có).
Ý kiến đánh giá của giảng viên sau khi dạy xong môn học.
Mẫu các loại bài kiểm tra (tuần, tháng v.v.)
Một số bài thi, kiểm tra của sinh viên.

Hồ sơ môn học sẽ được cập nhật sau mỗi khoá học và đổi mới sau mỗi
năm ít nhất là 15 - 20 %.
Như vậy, sau khi thực thi chương trình giáo dục, người học có thể
mong đợi học làm được gì khi kết thúc môn học, có những tiêu chí để xác
định rõ ràng thành công hay thất bại và nhận thức rõ hơn về trách nhiệm
của bản thân.
Đề cương môn học sẽ cung cấp toàn bộ các thông tin cần thiết để người
học tự tổ chức quá trình học tập, nghiên cứu của mình, tự chịu trách nhiệm








Tính trình tự (sequenced).
Tính gắn kết (Coherent).
Tính thích hợp (phù hợp) (Relevant).
Tính cân đối (Balanced).
Tính cập nhật (Current).
Tính hiệu quả (Effective).

Đánh giá chương trình giáo dục dựa vào những nguồn
thông tin sau:
 Học sinh, sinh viên: Đánh giá việc học tập của bản thân, xác định giá
trị và hiệu quả của từng bộ phận cấu thành của chương trình giáo
dục.
 Giáo viên: Thông qua việc ghi chép kết quả học tập của sinh viên đối
với những phần khác nhau của chương trình giáo dục, thông qua việc
so sánh kết quả đó với các lớp khác, giáo viên có thể có những đóng
góp quan trọng trong quá trình đánh giá chương trình giáo dục
 Cán bộ đánh giá chuyên trách: Đánh giá qua quan sát cung cấp dữ
liệu về việc chương trình giáo dục đang hoạt động thế nào trong
trường.
 Tư vấn (đánh giá ngoài).

Các mô hình đánh giá chương trình giáo dục
 E.B.Taylor (mô hình đánh giá theo mục tiêu): Mô hình xem mục

3.2. Vai trò của nhà trường trong chương trình giáo dục
phổ thông mới
Chương trình được xây dựng theo hướng mở (chỉ quy định những nội
dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc; giao quyền chủ động và trách nhiệm cho
địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung
giáo dục và triển khai kế hoach giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và
điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục; giáo viên phải phát huy
được tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình).

3.2.1. Thuận lợi và khó khăn của giáo viên
Thuận lợi
15


Nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên đi học hỏi kinh nghiệm ở
các
trường bạn, phòng giáo dục luôn tổ chức Hội giảng, trao đổi chuyên môn
và các cuộc tập huấn khác của cấp trên.
Nhà trường được cấp trên đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất.
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được xây dựng trên cơ sở
khoa học về phát triển chương trình giáo dục, tiếp cận các xu thế quốc tế
hiện đại và tiến bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Chương
trình giáo dục phổ thông tổng thể tạo ra một khung định hướng cần thiết
cho việc phát triển chương trình các môn học và thực hiện cải cách căn bản
và toàn diện giáo dục phổ thông theo tinh thần của nghị quyết 29-NQ/TW
và nghị quyết 88/2014/QH13, nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển
kinh tế và xã hội trong điều kiện mới. Chương trình giáo dục phổ thông
mới đã tiếp cận được xu hướng phát triển của thế giới, giúp học sinh có
được những kỹ năng và cách nhìn đúng đắn, toàn diện.


Tuy nhiên hoạt động trải nghiệm lại chia theo từng môn học không theo
chủ đề của từng khối như chương trình giáo dục tổng thể, do đó giáo viên
lo ngại không biết là giáo viên bộ môn dạy hay một giáo viên được đào đạo
ra dạy.

3.2. Thuận lợi và khó khăn về mặt quản lí của nhà trường
Thuận lợi
Nhà trường nhận được quyền tự chủ cao hơn. Trước đây nhà trường sử
dụng chương trình quốc gia làm chương trình chung từ đó triển khai thực
hiện thì bây giờ mỗi nhà trường sẽ phải căn cứ vào tình hình thực tế của
ngôi trường mình mà phát triển chương trình nhà trường giúp phục vụ nhu
cầu học tập của học sinh.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới có sự phân quyền, tăng
cường sự chủ động, sáng tạo của cơ sở, giáo viên, Tổ chuyên môn, nhà
trường trong việc xây dựng kế hoạch dạy học; chủ động tổ chức thực hiện
chương trình và kế hoạch dạy học trên cơ sở chương trình quốc gia
Ngành giáo dục đã giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch
giáo dục, phát huy vai trò sáng tạo của nhà trường và giáo viên. Cụ thể,
nhà trường tổ chức cho giáo viên rà soát lại nội dung chương trình, sách
giáo khoa, điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản. Nghĩa là,
tinh giản kiến thức ở lớp trên nếu lớp dưới đã được học đầy đủ hoặc bổ
sung thêm để đầy đủ.
Nhà trường nhận được sự hỗ trợ từ nhiều nguồn ngân sách địa phương
và có sự ủng hộ của cha mẹ học sinh.

17


Hệ thống cơ sở vật chất dang dần được hoàn thiện giúp phục vụ hiệu
quả

phát triển giáo dục của nước nhà. Trong bối cảnh thực hiện chương trình
mới, chu trình đặt ra nhiều vấn đề khó khăn và thách thức không chỉ đối
với nhà trường nói chung mà còn với những người giáo viên nói riêng. Với
18


tư cách là một giáo viên tương lai, em luôn ý thức được tầm quan trọng của
việc phát triển chương trình và sẽ luôn cố gắng tìm hiểu và góp một phần
sức mình để quá trình phát triển chương trình diễn ra thành công hiệu quả
nhất, xây dựng nền giáo dục Việt Nam ngày một hoàn thiện.

19


Câu 2: anh/ chị hãy phân tích vai trò của giáo viên
trong việc thiết kế và thực hiện chương trình nhà
trường theo hướng tiếp cận năng lực
1.Mở đầu
trong thời đại ngày nay, giáo dục luôn được xem là động lực cơ bản thúc
đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, người giáo viên đặc biệt được coi trọng.
Trong bối cảnh thực hiện chương trình mới theo định hướng tiếp cận năng
lực, nhân tô giáo viên là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự thành công của
chương trình. Vai trò và chức năng của người giáo viên có nhiều thayđổi
quan trọng. Để tìm hiểu sâu hơn về sự thay đổi này, trong bài tiểu luận em
xin phân tích vai trò của người giáo viên trong việc thiết kế và thực hiện
chương trình giáo dục phổ thông mới

2.Phân tích
Để phân tích được vai trò của giáo viên trong việc thiết kế và thực thi
chương trình, trước hết ta cần tìm hiểu một số vấn đề về chương trình giáo

lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô
tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency). Kết quả học tập mong
muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt
được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra
các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo
định hướng kết quả đầu ra.

Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung
với chương trình định hướng năng lực
Các thành tố
Nội
dạy

dung

Chương trình định Chương trình định
hướng nội dung
hướng năng lực

giảng Việc lực chọn nội dung
dựa vào các khoa học
chuyên môn, không gắn
với các tình huống thực
tiễn, nội dung được quy
định chi tiết trong
chương trình

Phương pháp dạy Giáo viên là người
học
truyền thụ tri thức, là

hoạt động xã hội, ngoại
khóa, nghiên cứu khoa
học, trải ngiệm sáng
tạo; ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy
học
Điều kiện dạy học Chủ yếu khai thác các Phối hợp khai thác các
điều kiện trong phạm vi điều kiện trong trường
nhà trường
Đánh giá kết quả Tiêu chí đánh giá được Tiêu chí đánh giá dựa
của học sinh
xây dựng chủ yếu dựa vào năng lực đầu ra, có
trên sự ghi nhớ và tái tính đến sự tiến bộ trong
hiện nội dung đã học
quá trình học tập, chú
trọng khả năng vận
dụng trong các tình
huống thực tiễn
Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là
tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn
mạnh năng lực vận dụng của HS. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên
lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ
hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra chất lượng giáo
dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực
hiện.

3. Vai trò của giáo viên trong việc thiết kế và thực hiên
chương trình nhà trường
Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới, để phát huy tối đa
ưu điểm của chương trình và thực hiện được các mục tiêu của chương trình

tích cực mà học sinh không còn bị thụ động. Học sinh trở thành các cá
nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá, hiểu biết. Muốn
vậy, điều khó khăn nhất với người giáo viên là: Trong một giờ lên lớp, phải
làm sao cho những học sinh tốt nhất cũng được thoả mãn nhu cầu tri thức,
thấy tri thức là một chân trời mới. Còn những học sinh học yếu nhất cũng
không thấy bị bỏ rơi, họ cũng tham gia được vào quá trình khám phá cái
mới. Điều này là đặc biệt cần thiết, vì học sinh sẽ hào hứng để đi tìm tri
thức chứ không còn bị động, bị nhồi nhét nữa. Để phát huy được tính tích
cực của học sinh thì giáo viên phải tạo được môi trường học tập thân thiện
và những tình huống có vấn đề khuyến khích học sinh tích cực tham gia
vào các hoạt động học tập, tự phát huy năng lực, nguyện vọng của bản
thân, rèn luện thói quen và năng lực tự học, phát huy tiềm năng và những
kiến thực, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển.
Giáo viên hiện nay không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người
hỗ trợ học sinh hướng dẫn tìm chọn và xử lý thông tin. Vị trí của nhà giáo
không phải được xác định bằng sự độc quyền về thông tin và trí thức có
23


tính đẳng cấp, mà bằng trí tuệ và sự từng trải của mình trong quá trình dẫn
dắt học sinh tự học.

3.2. Vai trò của giáo viên trong việc thiết kế chương trình
3.2.1. Vai trò chung
Sau khi tiến hành thiết kế và thực hiện chương trình thì giáo viên sẽ là
người quay trở lại đóng góp những ý kiến của mình cho nhà thiết kế nhằm
tới mục đích hoàn thiện hơn chương trình.
Giáo viên có trách nhiệm đảm bảo rằng những của nhu cầu học tập của
học viên được phục vụ bởi một quá trình học tập phong phú và đa dạng.
Trách nhiệm này liên quan đến giáo viên trong việc quy hoạch lớp học và

 Tích hợp các nội dung trong một môn học, khi đó, vừa gắn kết
đảm bảo tính đồng bộ giữa các nội dung có liên quan trong một
môn học, vừa đặt ra những tình huống đòi hỏi học sinh vận dụng
các kiến thức kỹ nang môn học để giải quyết.
 Lồng ghép các nội dung giáo dục cần thiết nhưng không thành
một môn học (như các nội dung về môi trường, năng lượng, biến
đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản...) vào nội
dung của mỗi môn học tùy theo đặc trưng của từng môn.
Mức độ tích hợp theo các chủ đề, ở đó chứa đựng các nội dung gần
nhau của các môn học, gọi là tích hợp liên môn. Tích hợp xuyên môn là
tích hợp bằng cách thiết kế các môn học tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học,
ví dụ: Lý, Hóa, Sinh thành môn Khoa học tự nhiên và các kiến thức về
khoa học xã hội như Sử, Địa, Đạo đức, Giáo dục công dân thành thành
môn Tìm hiểu xã hội hoặc Khoa học xã hội.
Như vậy, giáo viên vai trò của giáo viên là phải biết phân tích nội dung
môn học để thiết kế các hoạt động, sao cho khi thực hiện học sinh phải vận
dụng kiến thức kỹ năng ở các phạm vi rộng khác nhau, ứng với các mức độ
tích hợp nêu trên, tương thích với các bối cảnh của quá trình dạy học.

3.2.3. Vai trò của giáo viên trong dạy học phân hóa
Đặc điểm của dạy học phân hóa (DHPH) là phát hiện và bù đắp lỗ
hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập. dạy học phân hóa được tổ
chức dưới các hình thức như: Phân hóa theo hứng thú, phân hóa theo sự
nhận thức, phân hóa giờ học theo học lực, phân hóa giờ học theo động cơ,
lợi ích học tập của người học. Vì vậy, dạy học phân hóa phải tạo dựng môi
trường từ lớp dưới để những học sinh. Đối với dạy học phân hóa, giáo viên
cần hiểu rõ đối tượng giáo dục. Từ năng lực hiểu đối tượng giáo dục, giáo
viên cần có một năng lực quan trọng là thiết kế công cụ dạy học. Đó là hệ

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status