CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM và HƯỚNG PHÁT TRIỂN SAU 2015 - Pdf 51

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
VIỆT NAM VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN SAU 2015
Thứ bẩy ngày 1 tháng 12 năm 2012 5:58 PM

PGS.TS Đỗ Ngọc Thống

Ngữ văn là cách gọi tên môn học hiện hành của Việt Nam (từ THCS
đến THPT) và Trung Quốc (cả ba cấp). Thực ra trên thế giới và cả ở
Việt Nam, từ trước đến nay, tên môn học này khá phức tạp, có nhiều
cách gọi khác nhau[1].
Chúng tôi lấy tên Ngữ văn vì cho rằng nó có thể bao
quát chung cho cả ngữ và văn; hơn nữa đây cũng chỉ
là quy ước mang tính tương đối. Điều quan trọng là
cấu trúc bên trong, nội hàm của thuật ngữ chứ không
phải là tên gọi. Trong thực tế từ trước tới nay, dù các
văn bản chương trình có nhiều cách gọi như Văn học,
Ngữ văn hay Văn học và Tiếng Việt… thì nó vẫn
thường được gọi tắt là môn Văn. Và cho dù tên gọi thế nào thì cấu
trúc nội dung của môn học này vẫn là 3 phần: tiếng Việt, văn học và
làm văn. Trong đó tiếng Việt là phần cung cấp những kiến thức công
cụ nền tảng để hình thành và phát triển năng lực đọc văn (tiếp nhận
văn bản) và năng lực làm văn (tạo lập văn bản).
Để xác lập định hướng phát triển chương trình môn học này cho nhà
trường phổ thông sau những năm 2015, một mặt cần xem xét lịch sử
phát triển của môn học này, chỉ ra các yếu tố ổn định nên tiếp tục kế
thừa; mặt khác cần xuất phát từ những yêu cầu của đất nước trong
giai đoạn mới, trong đó có yêu cầu hiện đại hóavà hội nhập quốc tế.
Từ cách tiếp cận như thế, bài viết này thử nêu lên định hướng phát
triển CT môn Ngữ văn trong nhà trường PT Việt Nam sau 2015.
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ MÔN NGỮ VĂN HIỆN HÀNH
1. Mục tiêu môn học

- Đề cao mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ngữ văn, mà
trước hết là năng lực giao tiếp với việc sử dụng thành thạo 4 kỹ năng
cơ bản: đọc, viết, nghe, nói. Sau đó mới là các kỹ năng khác… Cũng
cần chú ý đến mục tiêu giúp HS hình thành và phát triển các năng
lực chung.
- Việc lựa chọn kiến thức (văn học, tiếng Việt…) tất nhiên cần cơ bản,
hiện đạinhưng phải hướng tới phục vụ cho yêu cầu phát triển năng
lực, tránh kinh viện, không thiết thực và không quá chú trọng tính hệ
thống (hệ thống lịch sử văn học, hệ thống ngôn ngữ…)
- Vừa chú ý mục tiêu GD theo yêu cầu của xã hội; vừa quan tâm đến
nhu cầu, sở thích của cá nhân người học và người dạy để xác định
nội dung chương trình học tập (GV và HS mong đợi dạy và học
những gì?)


2. Về cấu trúc nội dung chương trình môn Ngữ văn
Cấu trúc chương trình Ngữ văn hiện hành được thực hiện theo
nguyên tắc tích hợp. Với môn Tiếng Việt ở Tiểu học, chương trình tập
trung vào hai thành phần: kiến thức và kỹ năng, trong đó kiến thức
gồm tiếng Việt và văn học; kỹ năng gồm đọc, viết, nghe, nói. Đến
THCS và THPT chương trình lại được cấu trúc theo ba phần:Tiếng
Việt, Tập làm văn và Văn học. Mỗi phần có các nội dung riêng, theo
hệ thống của mỗi phân môn khá độc lập… Cho nên nhiều nội dung
rất khó tích hợp.
Nhìn chung cấu trúc của CT và nhất là SGK Ngữ văn hiện hành vẫn
chủ yếu lấy trục nội dung (tiểu học theo hệ thống chủ đề, còn Trung
học lấy lịch sử văn học). Thêm vào đó do làm CT tách rời các cấp nên
cấu trúc CT các cấp thiếu tính thống nhất; một số đơn vị kiến thức lặp
lại, một số nội dung không cần thiết phải học cả 3 cấp, hoặc lặp lại
mà không phát triển, nâng cao…Văn bản đọc hiểu còn nhiều, một số

hiện được tư tưởng này trong biên soạn SGK; công tác đào tạo, bồi
dưỡng GV về phương pháp mới chưa cập nhật, kiểm tra đánh giá
chưa đổi mới, chưa đồng bộ…
4. Về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Với chương trình Ngữ văn sau 2000, công tác kiểm tra đánh giá đã
có những chuyển biến tích cực; chẳng hạn định hướng ra đề mở,
tăng cường nghị luận xã hội, kết hợp hình thức tự luận với trắc
nghiệm…Tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá Ngữ văn hiện hành vẫn
còn hạn chế. Hạn chế lớn nhất là chưa đánh giá đúng được sự vận
dụng kiến thức một cách sáng tạo; đề thi Ngữ văn chủ yếu vẫn là
kiểm tra kiến thức, trí nhớ, tái hiện, làm theo, chép lại…học tác phẩm
nào thi đúng tác phẩm đó; chỉ được kiểm tra vào đúng những gì GV
đã dạy, trừ một số đề về nghị luận xã hội.
Chương trình Ngữ văn sau 2015 cần thay đổi theo hướng: khuyến
khích sự sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức đã học cả nội dung
lẫn phương pháp để giải quyết một nhiệm vụ tương tự, trong một
tình huống mới.
5. Hệ quả và thách thức
Trong những năm gần đây, số lượng HS đăng ký học và thi ban Xã
hội nhân văn ngày càng ít đi. Không những thế chất lượng cũng ngày
càng giảm. Các số liệu thống kê cho thấy, môn Ngữ Văn đang bị
tuyệt đại đa số HS phổ thông chối bỏ. Năm 2009, chỉ có 1,82% học
sinh trung học theo học ban Xã hội - Nhân văn. Những HS học ban
này (thi khối C) không phải toàn là những HS giỏi. Họ theo học ban
này, chẳng qua vì không đủ lực theo học các ban khác, chứ chẳng
phải vì say mê văn học. Có rất nhiều HS học ban khoa học tự nhiên


(thi khối A và D) rất giỏi văn. Như thế gần 100% học sinh THPT chỉ
cần học văn để thi đỗ tốt nghiệp mà thôi.

Hiện nay ở nhiều nước, “tuổi thọ” của một CT chỉ còn 5-7 năm[5], có
khi chỉ 2-3 năm như trường hợp CT của Hàn Quốc vừa nêu.
Có thể nói bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra rất nhanh, đang làm
phẳng thế giới, tạo ra môi trường học tập khác hẳn truyền thống và


ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp học tập của thế hệ HS thời hiện
đại.
Thế giới phẳng sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi
người. Khi đó, chỉ cần có Internet thì HS Lai Châu, Mường Tè, Mù
Căng Chải hay tận mũi Cà Mau, cực Nam Tổ quốc đều có được những
thông tin như nhau, các cơ hội học tập như nhau. Sẽ không có sự
phân biệt giữa quốc gia này và quốc gia khác về thông tin và sự hiểu
biết nguồn tri thức chung của nhân loại. Đúng như Doc Searld đã
nhận xét: “Trong một thế giới phẳng có vô vàn cơ hội học hỏi cho dù
không có sự trợ giúp của nhà trường, chính phủ, giáo hội hay các
doanh nghiệp. Phần lớn những điều bạn cần biết đã được đăng tải
trên mạng Internet. Dĩ nhiên không phải nơi nào cũng có Internet.
Song Internet có ở tất cả những nơi phẳng và những nơi đó đang
ngày càng mở rộng về quy mô.”[6].
b) Về đối tượng người học: có một sự khác biệt khá lớn về đối
tượng người học đã được tạo ra và không thể không chú ý. Người
học bây giờ là những HS phát triển khá đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh
thần. Về cơ bản vấn đề ăn và mặc không còn là sự trăn trở, thậm chí
bị de dọa như trước. Ước mong “ăn no, mặc ấm” về căn bản đã đạt
được. Một bộ phận khá lớn HS, thanh, thiếu niên đã hướng tới mức
sống “ăn ngon- mặc đẹp”, một bộ phận nhỏ khác, chủ yếu ở các đô
thị lớn, có điều kiện hơn, đã hướng tới mức “ăn lạ, mặc mốt”... Do
điều kiện vật chất trên nên sức khỏe của HS cũng đã được cải thiện
nhiều. Đại bộ phận phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao;

Nếu người GV không chịu vươn lên, chắc chắn sẽ tụt hậu so với HS.
Rất nhiều cản trở do tuổi tác: trí nhớ khó khăn hơn, kỹ năng chậm
hơn, tiếp cận với cái mới, với công nghệ hiện đại khó hơn...Trong
trường hợp này, người thầy cần tìm cách vượt HS để trở thành bậc
thầy ở nhiều bình diện, nhất là về phương pháp, cách nghĩ, cách tiếp
cận và xử lý vấn đề. Đối với việc dạy học Ngữ văn; HS có thể nhiều
thông tin hơn người thầy, nhưng cách đọc, cách tiếp nhận, giải mã
thế giới nghệ thuật, khám phá văn học...người thầy cần là bậc thầy
của HS.
Bối cảnh đã nêu trên là rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc xác
định một chiến lược dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng.
Cụ thể là:
a) Người GV cần biết tự thay đổi liên tục để thích nghi với những biến
động của xã hội. Tự học và học suốt đời là một yêu cầu thực sự đối
với mọi người, nhất là trí thức, những người thầy đứng trên bục
giảng.
b) Dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng cần tập trung
hình thành cho HS phương pháp học và học phương pháp học. PPDH
phải tạo cho HS tính hiếu kỳ, tò mò (curiosity) và sự đam
mê (passion) để tự họ đi tìm và tự lý giải, qua đó mà hình thành
năng lực. Không nhồi nhét kiến thức, không bắt nhớ máy móc, cần
biết quên cái cụ thể, chi tiết; chỉ nhớ cách làm, cách xử lý vấn đề...


giúp HS tự học, tự khám phá, kích thích sáng tạo. Hãy truyền cho HS
niềm yêu thích, say mê văn chương, mong muốn tìm tòi, tìm hiểu cái
hay, cái đẹp của thế giới nghệ thuật; rồi sau đó mới là những yêu cầu
khác.
c) Nhà trường PT trong giai đoạn tới không chỉ chú ý khả năng tư duy
lo-gic, biện chứng... mà cần lưu ý hình thành “khả năng suy tưởng,

phát triển cả thể chất và tinh thần, được phát triển toàn diện các
mặt giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động, hướng
nghiệp, từ đó dần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Vì vậy cần thực hiện cân đối dạy chữ, dạy người và định
hướng nghề nghiệp để “nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc
biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách
mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác
phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”[8].
3. Nội dung giáo dục được xây dựng theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
a) Lựa chọn nội dung giáo dục là những tri thức cơ bản của nhân loại,
những thành tựu khoa học công nghệ và những giá trị lịch sử, tinh
hoa văn hóa dân tộc phải đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa gắn kết
với thực tiễn nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nội dung được thiết kế theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực
hành và ứng dụng vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn để tạo
điều kiện phát triển các năng lực chung, năng lực riêng biệt cho HS;
dung lượng học tập phải phù hợp với thời lượng học tập.
b) Chú trọng giáo dục những giá trị nhân bản, phổ quát của dân tộc
và nhân loại cho học sinh thông qua việc tăng cường các hoạt động
giáo dục và hoạt động xã hội. Cải tiến nội dung giáo dục đạo
đức, giáo dục công dân, giáo dục thể chất vàgiáo dục thẩm mỹ theo
hướng coi trọng tính trung thực, tự chủ, ý thức trách nhiệm và phát
huy nội lực cá nhân học sinh.
4. Chương trình, sách giáo khoa được cấu trúc như một chỉnh
thể, linh hoạt và thống nhất trong đa dạng
a) Chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo vừa tiếp nối chương
trình giáo dụcmầm non, vừa tạo nền tảng cho sự phát triển chương
trình giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đồng thời đảm bảo
liên thông giữa các cấp học, lớp học, giữa các môn học và trong mỗi

hình thành và phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt
cho học sinh.
b) Đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp
học, trong và ngoài nhà trường; cân đối giữa dạy học và hoạt động giáo dục,
giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc và dạy
học tự chọn,… để đảm bảo vừa phát triển các năng lực cá nhân, vừa nâng
cao chất lượng giáo dục cho mọi học sinh.

Chú trọng các hình thức tổ chức giáo dục như tập dượt nghiên cứu
khoa học, giao lưu và trao đổi học thuật, sinh hoạt câu lạc bộ “thắp
sáng tài năng”,… cho đối tượng học sinh năng khiếu để phát triển
những năng khiếu đặc biệt đó và góp phần phát hiện, bồi dưỡng tài


năng tương lai. Ở những nơi có điều kiện, tổ chức dạy học và hoạt
động GD theo lớp học hoà nhập cho đối tượng HS thiệt thòi để đảm
bảo quyền được đi học và học tập có chất lượng cho mọi trẻ em.
c) Tăng cường, nâng cao hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc
biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi
mới phương pháp dạy học. Tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận các
nguồn học liệu mở, khai thác thông tin trong môi trường công nghệ
thông tin và truyền thông phong phú, đa dạng để xây dựng các chủ
đề học tập theo sở thích, phát triển năng lực tự học theo tốc độ, cách
học cá nhân.
6. Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá
năng lực
a) Đánh giá kết quả giáo dục nhằm: cung cấp thông tin chính xác,
khách quan để điều chỉnh hoạt động dạy và học nâng cao dần năng
lực cho học sinh; xác định năng lực của HS dựa theo chuẩn cấp học,
chuẩn môn học thống nhất trên toàn quốc.

biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa hoặc một số quyển sách giáo
khoa theo chương trình quốc gia. Bộ GD&ĐT sẽ xem xét, phê duyệt
cho phép thử nghiệm và thẩm định, phát hành để sử dụng trong
giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
b) Phát triển nhiều loại tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình, hỗ
trợ dạy và học để đáp ứng sự đa dạng vùng miền, nhu cầu các đối
tượng học sinh. Đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân tộc
thiểu số, học sinh sống ở các vùng khó khăn.
c) Địa phương được quyền xây dựng các tài liệu hỗ trợ dạy và học
phù hợp với đặc điểm người học và đặc thù riêng địa phương. Các tài
liệu này cần được thẩm định bởi Hội đồng thẩm định cấp địa phương
và được Bộ GD&ĐT phê duyệt.
III. ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG SAU 2015
1. Cơ sở đề xuất




Lịch sử phát triển chương trình tiếng Việt Ngữ văn của Việt
Nam.
Những ưu điểm và nhược điểm của CT hiện hành
Định hướng đổi mới căn bản toàn diện GD và phát triển
CTGDPT sau 2015 ( gồm Chiến lược GD 2010-2020; Đề án đổi mới
căn bản toàn diện, Đề án đổi mới CT và SGK sau 2015)




Xu thế quốc tế về môn học/ lĩnh vực tiếng mẹ đẻ - văn học trong

lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, …Các kiến thức về tiếng Việt và
văn học được hình thành và phát triển thông qua thực hành kỹ năng,
tích hợp qua đọc, nghe, nói viết và phần tự chọn phân hóa ở cuối
THCS, đặc biệt là THPT.
b) Mỗi kỹ năng lớn được phân ra nhiều kỹ năng bộ phận và các trình
độ khác nhau, ngày càng yêu cầu cao hơn, đa dạng và phức tạp hơn.
Có thể chia làm 6 bậc trình độ cho mỗi kỹ năng :
Trình độ
Lớp

1

2

3

4

5

6

1-2

3-5

6-7

8-9



Viết 1

3-4-5

Đọc 2

Nghe 2

Nói 2

Viết 2

Tự chọn


6-7

Đọc 3

Nghe 3

Nói 3

Viết 3

8-9

Đọc 4


Viết 6

- Môn tự chọn cơ
bản: văn học

- CĐ tự chọn nâng
cao
- Từ lớp 1- 9 ( hết GD cơ bản) học chung một chương trình với 4 kỹ
năng và phân hóa theo 4 trình độ đầu. Về cơ bản kết thúc các yêu
cầu cơ bản về năng lực ngữ văn. Ngoài ra từ lớp 8-9 có thêm chủ đề
tự chọn về văn học, tiếng Việt và làm văn.
- Lớp 10-12 (sau GD cơ bản) chia ra 2 hướng: cơ bản và chuyên sâu
+ Cơ bản: vẫn học theo trục 4 kỹ năng nhưng ở trình độ cao
hơn (5 và 6)
+ Chuyên sâu: được thực hiện bằng môn tự chọn văn học và
các chủ đề tự chọn nâng cao về tiếng Việt, làm văn và văn học, văn
hóa.
+ Lớp 10 ngoài nội dung học cơ bản theo 4 kỹ năng, các chủ đề
tự chọn mang tính dự hướng chung: văn học; ngôn ngữ, tạo lập văn
bản (phát triển kỹ năng nói và viết)


+ Lớp 11 và 12: ngoài nội dung học cơ bản theo 4 kỹ năng, học
tự chọn môn văn học với các chủ đề nâng cao, gắn nhiều hơn với
định hướng nghề nghiệp và ngành đào tạo của HS ở bậc cao hơn.
2.5. Mô tả nội dung và yêu cầu khái quát của các mạch
chương trình
- Hình thành và rèn luyện, phát triển hài hòa các kỹ năng, nhưng
không cào bằng về thời lượng dạy học trong mỗi giai đoạn/ trình độ.
- Ngữ liệu cho việc học các kỹ năng bao gồm các văn bản văn học và


- Những bài diễn thuyết hoặc - Nắm được bản chất của các văn bản chứ
trình bày, giải thích về các đựng/nói về những điều luật xã hội
định nghĩa, công thức, sự đánh giá sự công bằng, hợp lý.
kiện... có quan hệ với các đối
tượng và hiện tượng khác - Đọc một số văn bản và so sánh, phâ
tích, đánh giá những tiền đề và những
nhau.
thừa nhận, khẳng định.
- Những bài thảo luận về các
- Đọc các bài báo phỏng vấn và đánh g
vấn đề xã hội.
mục đích của cuộc phỏng vấn, những chi
- Những cuộc đối thoại hoặc lược (cách thức phỏng vấn) và quan điể
câu chuyện có sử dụng phỏng vấn.
những phương ngôn một
- Đọc những cuốn sách thông dụng
cách chủ ý.
đánh giá chất lượng cũng như nhữn
- Các tác phẩm đa nghĩa, có nguyên nhân tạo nên sự nổi tiếng c
thể tạo nên nhiều cách những cuốn sách ấy.
hiểu/giải thích khác nhau.
- Tìm ra những ý nghĩa và hiệu quả tí
- Những tác phẩm đi sâu vào cực mà văn học mang đến cho đời sốn
miêu tả đời sống tâm hồn nhân loại
bên trong và những mâu
thuẫn muôn thuở của con - Nắm được phong cách của tác giả sau k
đọc xong một tác phẩm văn học
người.


Cách thứ nhất : Xây dựng các nội dung học tập theo cách truyền
thống mà trọng tâm là giới thiệu văn học theo lịch sử từng bộ phận/
giai đoạn, bao gồm :
+ Văn học Việt Nam: Văn học dân; Văn học trung đại; Văn học hiện
đại. Mỗi giai
đoạn học các nội dung chính như: Khái quát về giai đoạn văn học ;
các thể loại lớn và các tác giả, tác phẩm tiểu biểu cho thể loại ấy;
phương pháp đọc hiểu mỗi thể loại.
+ Văn học nước ngoài : Thơ Đường Trung quốc; Tiểu thuyết Minh
Thanh (Trung quốc); Văn học Nga, Thơ Hai cư , văn học Pháp, Anh,
Tây Ban Nha; văn học Mỹ - la tinh…gắn với các tác giả và tác phẩm
lớn nhìn từ thể loại.


+ Lý luận văn học : chủ yếu là tích hợp (thuật ngữ, khái niệm, vấn
đề) vào các bài hướng dẫn cho học sinh đọc hiểu theo thể loại,
nghiên cứu tác giả và đánh giá tác phẩm.
+ Viết luận: luyện tập nghị luận văn học gắn với các nội dung đã học.
+ Tổng kết các kĩ năng về đọc hiểu, kỹ năng viết
Ngoài ra còn nêu lên một số chuyên đề chuyên sâu như:
+ Các chuyên đề về phong cách một số tác gia văn học lớn
+ Chuyên đề về các xu hướng, trào lưu văn học : Thơ Mới và Tự lực
văn đoàn; Văn học thời kỳ đổi mới sau 1975 ;…
+ Chuyên đề đọc hiểu trọn vẹn một số tiểu thuyết, truyện ngắn, tập
thơ; vở kịch… chưa có điều kiện học toàn bộ trong CT cơ bản.
+ Chuyên đề về Thời sự văn học
+ Một số chuyên đề về ngôn ngữ và tiếng Việt
+ Một số chuyên đề về phương pháp viết bài văn
Việc lựa chọn văn bản (đọc hiểu và tạo lập) gắn với việc phân hóa
ngành nghề/ lĩnh vực khác nhau. Ví dụ các văn bản về quảng cáo và

văn bản phải chú ý đến kinh nghiệm của HS và phải chuẩn bị cho giai
đoạn nâng cao.
- Lớp 11: chủ đề 1) Cá nhân trong sự giằng co giữa hiện thực và lý
tưởng cho HS cơ hội tìm kiếm vị trí của mình trong sự giằng co này.
Liên kết với những lý tưởng, mơ ước và tưởng tượng của HS trong
việc phác thảo hiện thực, các văn bản văn học được chọn chủ yếu từ
các giai đoạn cổ điển và lãng mạn vì ở đây thường hay nói đến
những mô hình tương tự ở các thời kỳ trước. Chủ đề 2) Những phụ
nữ viếtgiúp HS nhạy cảm hơn đối với những trải nghiệm xã hội của
phụ nữ, những lý tưởng và hình dung của họ trong các thời kỳ khác
nhau, và biết được những khả năng hiện thực hóa bản thân của phái
nữ ở thời hiện tại. Các văn bản lựa chọn chủ yếu từ giai đoạn chủ
nghĩa hiện thực và giai đoạn chuyển đổi, ngoài ra cũng kết hợp sử
dụng các văn bản đương đại để tái hiện lại tình huống hiện tại.
- Lớp 12: chủ đề 1) Những phác thảo về thế giới cho HS khả năng tìm
hiểu những mô hình ý tưởng lưu truyền, nhưng đồng thời cũng phát
hiện ra những điều đặc biệt và mới mẻ. Văn bản văn học trọng tâm
vào việc đọc tác phẩm Faust I (V. Gớt). Chủ đề 2) Những tác động
qua lại của văn học mở ra con đường dẫn tới những yếu tố đa dạng
về mặt xã hội đang ảnh hưởng và quyết định tới cuộc sống về mặt
văn hóa, văn chương và xã hội. Chỉ ra cho HS những khả năng và
giới hạn của văn học trong khuôn khổ giao tiếp cũng như những tác
động về mặt thẩm mỹ, đạo đức, kinh tế và chính trị của nó đối với xã


hội. Các tác phẩm được lựa chọn chủ yếu từ thế kỷ 20 hoặc văn học
đương đại.
c) Các chủ đề học trong CT môn Nghệ thuật ngôn ngữ tiếng
Anh (English -language arts) bang Califorrnia (Hoa Kỳ). Để học môn
này, bang Cali sử dụng bộ sách của hãng Mc.Dougal Littell mang

02 nguồn chính: Văn bản văn học và các loại văn bản khác (không
phải văn học).
- Văn bản đọc hiểu cho kỹ năng đọc tuyển lựa theo thể loại văn học
và kiểu văn bản, số lượng không nhiều, ưu tiên chất lượng văn bản.
Các văn bản này chỉ là ngữ liệu để dạy và học trên lớp nhằm hình
thành phương pháp đọc hiểu, năng lực tiếp nhận văn bản; không thi
vào các văn bản này.
- Bên cạnh sách học trên lớp, cần có bộ sách văn tuyển[13] cung cấp
một số lượng lớn các văn bản- tác phẩm tương ứng với mỗi thể loại
đã học để HS đọc ở nhà và là ngữ liệu để ra đề thi, kiểm tra nhằm
đánh gía khách quan năng lực vận dụng sáng tạo của HS trong học
tập Ngữ văn.
- Coi trọng đánh giá năng lực Ngữ văn trên cả 02 bình diện: ý tưởng
sáng tạo vàkhả năng diễn đạt, thể hiện/ trình bày ý tưởng đó một
cách sáng sủa mạch lạc (cả nói và viết).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tiếng Việt
1.
2.
3.

4.

5.
6.
7.
8.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Dự thảo Chiến lược phát triển

5.

6.

7.

8.

ACARA (2010), The English- The Australian Curriculum | Version
3.0 http:// www.curriculum.edu.au
California Department of Education ( 2007): Language Arts
Framework for California Public Schools ( Kindergarten
Through Grade Twelve)
Eurydice (2002), Key Competencies - A developing concept in
general compulsory education
KICE (2006. 2009) : The Korean Languague - Korean National
Curriculum.http://www.kice.re.kr
Ministry of Education Germany (2010): The Gemany
languague http://www.kmk.org/dokumentation/dasbildungswesen-in-der-bundesrepublik-deutschland.html
Ministère de l'Éducation nationale de la République FRANÇAISE
(2008): -Programmes d’enseignement de l’école primaire A.
du 9-6-2008. JO du 17-6-2008 (NOR : MENE0813240A) Programme d'enseignement de français pour les classes de
sixième, de cinquième, de quatrième et de troisième du
collège (RLR : 525-2a)
Ministère de l'Éducation nationale de la République FRANÇAISE
(2010) : Le programme de l’enseignement commun de
français en classe de seconde générale et technologique et en
classe de première des séries générales et le programme de
l’enseignement de littérature en classe de première littéraire ;
- le programme d’enseignement spécifique de littérature

Hatier.
9.

[1] Xem phụ lục 1, cuối báo cáo.
[2] Bộ GD&ĐT (2006), Chương trình GDPT- môn Ngữ văn- NXB GD .
[3] Understanding Korea Education- 2007 Published by the Korean
Educational Development Institute.
[4] KICE- 2006. National Curriculum. http://www.kice.re.kr
[5] NIER- An Internasional Comparative Study of School Curriculum Tokyo, 1999
[6] Doc Searld - Linux Journal, 2005
[7] Nội dung này được cập nhật từ bản dự thảo Đề án Đổi mới CT và
SGK sau 2015của Bộ GD&ĐT.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, trang 216
[9] Cho Jae Hyun và Bùi Mạnh Hùng (2008), SGK Ngữ văn của Hàn
Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam - Tạp chí Ngôn Ngữ và đời
sống, số 2 (158)


[10] Bộ GD bang Hessen: http://www.kultusministerium.hessen.de
[11] Do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ giới thiệu cuốn sách lớp 10
qua 2 lần biên soạn khác nhau
[12] The Language of Literature ( 2002), (2008) - Mc. Dougal Littell –
a Houghton mifflin Company
[13] Ở bang California ( Hoa Kỳ), đi kèm với SGK văn học, là bộ
tuyển tập “Văn học dành cho lứa tuổi từ mẫu giáo lớn đến lớp 12”,
theo đó HS lớp 8 phải đọc 1 triệu từ/ năm, HS lớp 11&12 phải đọc 2
triệu từ/năm bao gồm một số lượng lớn tác phẩm cổ điển và hiện
đại. ( English language arts content standards for California puplic
schools Kindergarten though grade Twelve – California Departement


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status