LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bầy tỏ lòng biết ơn
tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Tâm lý Giáo dục,
Phòng sau Đại học - Trường Đại học Tây Bắc, các thầy cô giáo giảng dạy lớp
Thạc sĩ Giáo dục và Phát triển cộng đồng Khoá 1 - Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận văn.
Xin được bầy tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng chí cán bộ, công
chức, viên chức Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mộc Châu, các đồng chí
hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, các ban ngành, đoàn thể, các hội, các
tổ chức xã hội trong huyện, tới vợ và bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích
lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tác giả xin được gửi đến PGS. TS. Nguyễn Thị Huệ - Người
trực tiếp hướng dẫn khoa học - lòng biết ơn sâu sắc vì đã dành cho tác giả
những lời chỉ bảo tận tình, quý báu trong quá trình triển khai nghiên cứu luận
văn. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, nhưng không tránh khỏi có những thiếu
sót trong luận văn. Kính mong nhận được sự chỉ bảo chân tình của các thầy
cô, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quốc Hòa
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Quy mô trường lớp bậc học mầm non, năm học 2015-2016...............................39
Bảng 2.2. Quy mô , chất lượng giáo dục cấp tiểu học năm học 2015-2016........................40
Bảng 2.3. Một số thông tin chủ yếu về giáo dục THCS.......................................................44
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT
: Bộ Giáo dục và Đào tạo
BT THCS
: Bổ túc trung học cơ sở
CNHHĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSVC
: Cơ sở vật chất
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KT - XH
: Kinh tế, xã hội
MN
THCN
: Trung học chuyên nghiệp
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
TTGDTX
: Trung tâm giáo dục thường xuyên
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHHGD
: Xã hội hóa giáo dục
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Việc chăm sóc, giáo dục thế
hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, lãnh đạo các cấp
tôi chọn đề tài: “PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRONG DUY
TRÌ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA”
để làm luận văn tốt nghiệp, với mong muốn góp phần phát triển giáo dục ở
địa phương, trong đó có công tác PCGD THCS.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các biện
pháp phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội để duy trì PCGD THCS trên địa
bàn huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Sự phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong duy trì PCGD THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp huy động, phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong
duy trì PCGD THCS trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các
biện pháp huy động, phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong duy trì
PCGD THCS trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Công tác lãnh đạo,
chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, công tác vận động nhân dân, đoàn
viên, hội viên của MTTQ và các đoàn thể, các lực lượng xã hội, trong đó trung
tâm là Phòng GD&ĐT, các trường THCS để thực hiện duy trì PCGD THCS.
4.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu lãnh đạo
huyện, lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Phòng GD&ĐT Mộc Châu,
lãnh đạo các trường THCS, cán bộ chủ chốt các đoàn thể, các tổ chức chính
2
trị, giáo viên, phụ huynh học sinh và một số cán bộ xã, thị trấn trên địa bàn
8. Cấu trúc của luận văn
Gồm phần mở đầu; kết luận, khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục
và ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội
trong duy trì phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng phối hợp các lực lượng trong duy trì phổ cập
giáo dục trung học cơ sở ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Chương 3: Biện pháp phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong duy
trì phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG
CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRONG DUY TRÌ PHỔ CẬP GIÁO DỤC
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội nhằm phát huy sức mạnh của
toàn dân trong quá trình giáo dục, đó là một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta. Đặc biệt trong công tác phổ cập giáo dục, việc phối hợp các lực
lượng lại càng có ý nghĩa quan trọng, nhất là duy trì và phát triển bền vững
những thành quả đã đạt được. Việc phối hợp các lực lượng xã hội sẽ phát huy
sức mạnh tổng hợp của nhân dân vào công tác giáo dục thế hệ trẻ, trong đó
phổ cập giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng. Vấn đề phối hợp các lực lượng
xã hội đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu về
vấn đề phối hợp các lực lượng xã hội trong duy trì phổ cập giáo dục là một
vấn đề khá mới mẻ. Trong phạm vi chương này, tác giả xin khái quát một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề này như sau:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Ngày nay, giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển
- Ở Hoa Kỳ:
Chính phủ Hoa Kỳ đã thực hiện một cuộc cách mạng về chuẩn hoá giáo
dục (Standanrds revolution). Để làm được điều này, một trong những giải
pháp quan trọng là Nhà nước thực hiện chủ trương đa dạng hoá. Hình thức
trường học công-tư phát triển mạnh ở Mỹ. Đây là loại trường có thể do một
nhóm giáo viên, phụ huynh, nhóm cộng đồng, doanh nghiệp, trường đại học,
viện bảo tàng... thành lập. Cơ chế hoạt động của các trường học loại này tự do
hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả đào tạo cao hơn. Ở Hoa Kỳ còn có cao đẳng
cộng đồng, theo định nghĩa của họ, cao đẳng cộng đồng là một cơ sở đào tạo
có tính chất địa phương, nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội đặc
6
trưng của địa phương và góp phần hướng nghiệp cho các khu vực xung
quanh. Các loại trường này tồn tại và phát triển được là nhờ mối quan hệ với
địa phương.
- Ở Trung Quốc: Quốc vụ viện Trung Quốc đã thực hiện việc cải cách
và phát triển giáo dục.
Mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập giáo dục nghĩa vụ (bắt buộc) lớp
9 trong toàn quốc; từng bước phổ cập giáo dục cao trung ở thành thị và các
khu vực kinh tế phát triển; tiếp cận trình độ khoa học kỹ thuật hàng đầu thế
giới, cơ bản xây dựng hệ thống học tập suốt đời... Để thực hiện các mục tiêu
trên, Trung Quốc đã đề ra các biện pháp:
(1) Công trình giáo dục chất lượng liên thế kỷ.
(2) Công trình nhân tài sáng tạo cấp cao.
(3) Công trình giáo dục hiện đại lâu dài.
(4) Công trình sản nghiệp hoá các kỹ thuật mới cao cấp.
Các biện pháp trên sẽ thực thi trên nền tảng hình thành mạng lưới giáo
dục mở, nghĩa là huy động tối đa sự tham gia của các lực lượng xã hội đối với
2010-2020”, Luận văn đã tập trung nghiên cứu một số giải pháp quản lý chất
lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá,
giai đoạn 2010-2020. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng PCGD THCS trên
địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(3)- Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục ở
huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa”, trên cơ sở kế thừa, hệ thống hoá các kết
quả nghiên cứu về lý luận, Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác
quản lý xã hội hóa giáo dục nhằm duy trì PCGD THCS. Luận văn đã chú
trọng phân tích về công tác quản lý, các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp quản
lý xã hội hóa giáo dục nói chung và của địa bàn nghiên cứu nói riêng. Qua
8
nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã xác lập được các giải pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng xã hội hóa giáo dục trên địa bàn.
* Những nghiên cứu về phối hợp các lực lượng trong
phổ cập giáo dục
(1) - Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp đẩy nhanh tiến độ PCGD
THCS trên địa bàn tỉnh Sơn La”, đã đề ra các giải pháp tuyên truyền vận
động quần chúng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương,
tăng cường sự quản lý của các trường THCS và sự tham gia của các tổ chức
chính trị xã hội trong duy trì PCGD THCS trên địa bàn.
(2)- Luận văn thạc sĩ: “Hệ biện pháp tăng cường chất lượng phổ cập
giáo dục trung học cơ sở vùng sâu, vùng xa của tỉnh Kon Tum”, Luận văn đã
đề cập đến hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề phổ cập giáo dục, phổ cập
THCS; nghiên cứu thực trạng của công tác phổ cập THCS tỉnh Kon Tum
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đánh giá những thành tựu, những tồn tại, bất
cập của công tác PCGD THCS ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh;
hội hóa giáo dục nhằm duy trì phổ cập giáo dục THCS tại huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên” của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Hùng, huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng công tác
duy trì PCGD THCS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp XHHGD của phòng
giáo dục và đào tạo nhằm duy trì PCGD THCS trên địa bàn; (2) Luận văn
thạc sĩ “Một số kinh nghiệm thực hiện mục tiêu PCGD THCS tại tỉnh Tuyên
Quang” của tác giả Trần Thị Lý, nêu các bài học kinh nghiệm về công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên truyền vận động các tổ chức triển khai thực
hiện PCGD THCS; (3)Luận văn thạc sĩ “Những giải pháp phối hợp các tổ
chức xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh
Phúc trong giai đoạn hiện nay”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn,
10
Luận văn đã đề xuất các biện pháp phối hợp giữa phòng GD&ĐT với các tổ
chức xã hội để giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng chính
trị, xã hội trong duy trì PCGD THCS trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã đi
vào giải quyết nhiều vấn đề, trong đó chủ yếu là huy động các nguồn lực xã
hội. Các nghiên cứu trên chưa phân tích sâu sắc và có hệ thống về phối hợp
các lực lượng chính trị, xã hội trong duy trì PCGD THCS. Vì vậy, nghiên cứu
của chúng tôi được thực hiện ở một huyện miền núi lại càng có ý nghĩa.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Phổ cập giáo dục
1) Phổ cập theo Từ điển tiếng Việt, phổ cập là “làm cho trở thành rộng
khắp, đến với quần chúng rộng rãi” [35; tr.785].
2) Phổ cập giáo dục theo Từ điển Giáo dục học, phổ cập giáo dục là “số
năm học bắt buộc về mặt pháp lý cho công dân ở độ tuổi quy định; số năm
học này là toàn bộ thời gian đối với những người được học chính quy ở nhà
điều kiện học tập THCS cho đối tượng 11- 18 tuổi; nâng dần quy mô THCS
để tỷ lệ đối tượng trong độ tuổi đi học tăng dần; đảm bảo hầu hết thanh thiếu
niên ở độ tuổi 11-17 đang học THCS, 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục THCS; đảm bảo để mọi học
sinh được phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản, có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp; kết
hợp với phân luồng sau THCS; được chuẩn bị học tiếp THPT; THCN; học
nghề hoặc có năng lực cần thiết để có thể tiếp thu những tiến bộ khoa học
công nghệ khi đi vào cuộc sống.
* Yêu cầu phổ cập giáo dục trung học cơ sở:
- Thực hiện PCGD THCS trong phạm vi cả nước là một công tác trọng
tâm của ngành giáo dục; là công tác mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, do đó
công tác PCGD THCS phải được cụ thể hóa thành chủ trương, nghị quyết của
12
các cấp ủy Đảng, HĐND địa phương. Ngành giáo dục và đào tạo phải tích
cực tham mưu chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các chủ trương đó.
- Thực hiện PCGD THCS phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả trên cơ
sở nâng cao chất lượng dạy và học.
- Công tác PCGD THCS phải được tổ chức, chỉ đạo thường xuyên trên
cơ sở kế hoạch hằng năm của địa phương đã được phê duyệt của các cấp
chính quyền; phải huy động được các tổ chức quần chúng xã hội, tổ chức kinh
tế và các lực lượng xã hội tham gia, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện.
* Đối tượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở áp dụng cho tất cả các
đối tượng thanh thiếu niên độ tuổi 11 đến 18 cư trú tại địa phương.
* Các hình thức học tập để đạt trình độ phổ cập giáo dục trung học
cơ sở:
- Đối tượng phổ cập có điều kiện học tại trường THCS theo chương
pháp duy trì, củng cố thì những kết quả đạt được sẽ mất đi.
1.2.4. Lực lượng chính trị, xã hội
Lực lượng chính trị - xã hội ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa là tập
hợp những người có chung mục tiêu về chính trị, có cùng đặc điểm xã hội,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng xây dựng Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Các lực lượng chính trị - xã hội có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư
tưởng, động viên và phát huy tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp
phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp
pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội;
giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân
dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và đổi mới xã hội,
thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
1.2.5. Phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong duy trì phổ cập
giáo dục trung học cơ sở
a) Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức
14
hỗ trợ cho nhau trong công việc chung nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu
chung nào đó.
b) Phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài trường hay huy động cộng
đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục là quá trình vận động (động
viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức mọi thành viên trong cộng đồng tham
gia vào việc xây dựng và phát triển nhà trường, từ việc xây dựng cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, chăm lo đời sống giáo viên,
tạo môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội, đến
việc tham gia giáo dục học sinh.
1.3. Lý luận về phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội trong duy
trì phổ cập giáo dục trung học cơ sở
do dân, vì dân. Khi giáo dục không còn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của
nhà trường, thì vai trò và sự tham gia của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể,
các tổ chức quần chúng và các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh
không khí dân chủ trong giáo dục, tạo thêm động lực để nâng cao chất lượng
giáo dục trong các nhà trường, những tiêu cực, tồn tại trong giáo dục cũng
được hạn chế, môi trường giáo dục trở nên trong sạch và lành mạnh hơn.
- Phối hợp các lực lượng chính trị trong duy trì PCGD THCS còn nhằm
mục đích mở cửa nhà trường với xã hội bên ngoài, tạo sự gắn bó giữa nhà
trường với xã hội, để nhân dân có thể xây dựng, giám sát kiểm tra nhà trường
trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Phối hợp các lực lượng chính trị, xã hội nhằm thực hiện phương châm
giáo dục cho mọi người. Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện
và khả năng đáp ứng của xã hội cho giáo dục, vận động mọi thành viên trong
cộng đồng, không phân biệt thành phần, lứa tuổi, vùng miền, ... tham gia học
tập; học ở trường, học ở gia đình, học ở ngoài xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu:
16
học để biết, học để làm, học để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh của
quốc gia, dân tộc.
- Mặt khác, trong điều kiện nước ta còn nghèo, Đảng và Nhà nước đã
không ngừng tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo nhưng vẫn chưa
đáp ứng tốt những yêu cầu của sự nghiệp giáo dục. Do đó, vừa phải tiếp tục
tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục, vừa phải huy động nhiều nguồn đầu tư
khác từ các lực lượng xã hội, các cá nhân cho giáo dục; thực hiện phương
châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để đầu tư cho giáo dục.
1.3.2. Nội dung phối hợp
Thứ nhất: Huy động cộng đồng tham gia xây dựng môi trường thuận
lợi cho giáo dục. Môi trường được đề cập ở đây là môi trường nhà trường, gia
sạch và lành mạnh các môi trường trên.
Thứ hai: Huy động xã hội tham gia vào quá trình giáo dục. Các lực
lượng chính trị, xã hội có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình
giáo dục. Họ có thể tham gia góp ý kiến vào nội dung và phương pháp giáo
dục, quản lý, đánh giá kết quả giáo dục, giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức
các hoạt động giáo dục cả chính khoá và ngoại khoá. Đồng thời, họ cũng có
thể giúp việc sưu tầm tài liệu giảng dạy, làm đồ dùng dạy học, đặc biệt là các
môn học hướng nghiệp và dạy nghề. Đây là một yêu cầu cao của việc vận
động cộng đồng và là nội dung khó thực hiện nhất. Để thực hiện được nó, đòi
hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ quan quản lý giáo
dục và các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội ở mỗi địa phương.
Thứ ba: Các lực lượng chính trị, xã hội và cá nhân có thể tham gia trực
tiếp vào quá trình giáo dục bằng cách tổ chức các cơ sở giáo dục thuộc các
thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân bên cạnh các cơ sở giáo dục của Nhà
nước. Các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục từ mầm non đến trung học sẽ góp
phần quan trọng vào phát triển giáo dục, làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà
nước, tạo điều kiện cho giáo dục có thể phát triển mạnh mẽ hơn. Ngoài ra, các
18
lực lượng chính trị, xã hội còn có vai trò rất quan trọng trong việc mở lớp xoá
mù chữ, lớp học tình thương, lớp học cho trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ lang
thang đường phố… Đây là các hình thức giáo dục mà Nhà nước chưa có khả
năng đảm nhiệm hết. Khi các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, đa
dạng hoá các loại hình trường lớp và các hình thức học tập sẽ tạo điều kiện
cho mọi người có thể học tập.
Thứ tư: Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục. Hiện nay,
mặc dù Nhà nước đã tăng cường ngân sách đầu tư cho giáo dục nhưng vẫn
chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục. Chính vì vậy, việc chi cho
hoạch phát triển của Nhà nước vào mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
(2) Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng
kế hoạch của các nhà trường trên địa bàn; động viên được sức mạnh tổng hợp
của Nhà trường - Gia đình - Xã hội để chăm lo việc học tập, giáo dục đạo đức,
lao động, hướng nghiệp cho học sinh, xây dựng cơ sở vật chất, tôn tạo cảnh
quan môi trường sư phạm, chăm lo đời sống cán bộ, giáo viên...
(3) Tạo ra động lực kích thích tinh thần lao động của đội ngũ trí thức
ngành GD&ĐT, khuyến khích tính hiếu học, động viên học sinh chăm ngoan,
học giỏi, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển
kinh tế, xã hội địa phương.
Đại hội giáo dục chính là một diễn đàn quan trọng của mọi thành phần,
mọi tầng lớp xã hội bàn về những giải pháp thúc đẩy quá trình phát triển của
giáo dục.
Đại hội giáo dục là kết quả của quá trình thực hiện phương châm:
“Dân biết - Dân bàn - Dân làm - Dân kiểm tra” trong giáo dục, phù hợp với cơ
chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngay trong xây dựng
và phát triển giáo dục. Hội đồng giáo dục là hình thức cũng đã được xuất hiện
ở nhiều địa phương. Hội đồng giáo dục không phải là một cấp quản lý giáo
20