GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ BÌNH KIẾN, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN NHẬT QUANG

GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ BÌNH KIẾN,
THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN NHẬT QUANG

GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ BÌNH KIẾN,
THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Bình

HÀ NỘI, NĂM 2017


Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng luận văn là một công trình nghiên cứu
với khả năng của bản thân, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của quí thầy, cô, các nhà khoa
học và ý kiến đóng góp chân tình của các bạn đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả

Trần Nhật Quang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................1


2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................2
4. Giả thuyết khoa học...............................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................2
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................3
8. Cấu trúc của luận văn............................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA
CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ................................................................................5
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề.............................................................................5
1.1.1. Ở nước ngoài...................................................................................................5
1.1.2. Ở Việt Nam.......................................................................................................7
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài........................................................................10
1.2.1 Khái niệm giáo dục.........................................................................................10
1.2.2 Khái niệm nếp sống.........................................................................................11
1.2.3 Khái niệm văn hóa..........................................................................................11

2.4.4. Công tác truyền thông, tuyên tuyền nếp sống văn hóa...................................58
2.4.5. Văn hóa ứng xử nơi công cộng......................................................................62
2.4.6 Về quá trình triển khai thực hiện cuộc vận động” Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư” tại xã Bình Kiến...................................................63
2.5. Đánh giá thực trạng..........................................................................................69
2.5.1 Đánh giá chung..............................................................................................69
2.5.2 Nguyên nhân thực trạng..................................................................................71
Kết luận chương 2...................................................................................................72
CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HOÁ..............................................73
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp...........................................................................73
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.................................................................73
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống (Tính đối tượng, văn hóa, vùng miền giáo
dục nếp sống văn hóa cho người dân).....................................................................74
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn (Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn
thể nâng cao chất lượng, nội dung giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân)......76
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi.................................................................77
3.2. Các biện pháp giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở xã Bình
Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên..................................................................77


3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ và cộng đồng dân cư về vị trí, vai trò và tầm
quan trọng của công tác giáo dục nếp sống văn hoá...............................................77
3.2.2. Xây dựng hệ thống các chính sách tạo cơ sở cho công tác giáo dục nếp sống
văn hoá cho cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến........................................................79
3.2.3. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục nếp sống văn hoá cho
người dân cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến...........................................................80
3.2.4. Đào tạo nguồn nhân lực cho công tác giáo dục nếp sống văn hoá cho cộng
đồng dân cư.............................................................................................................81
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp.......................................................................83

1. Lý do chọn đề tài
Việc thực hiện Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết TW 5
khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Cụ thể, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư” gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 27/CT-TW về xây dựng nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và công tác “Xây dựng nông thôn mới”
được triển khai vài năm gần đây.
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nền kinh tế thị trường đang có ảnh
hưởng sâu sắc cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã
hội nước ta, tới hệ thống các giá trị và quy phạm đạo đức, văn hoá, nếp sống ở
cộng động dân cư. Đã có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống, văn
hoá tốt đẹp bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi. Trong bối cảnh đó, vấn đề
giáo dục nếp sống văn hoá cho người dân, đặc biệt là người dân ở nông thôn
đang trở nên bức bách và hết sức cần thiết.
Hiện nay xã Bình Kiến đang triển khai thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội
chung của thành phố quyết tâm đưa xã Bình Kiến lên đơn vị quản lý hành
chính cấp phường. Vì vậy tốc độ đô thị hóa ở đây diễn ra mạnh mẽ, đất sản
xuất dần bị thu hẹp, việc chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các
ngành nghề khác chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế và thực trạng đó ở xã
Bình Kiến diễn ra ngày càng mạnh mẽ... Kéo theo đó là sự thay đổi trong nếp
sống từ nếp ăn, ở, mặc, giao tiếp cho đến các sinh hoạt văn hoá, tư duy, hệ giá
trị, chuẩn mực, các phong tục tập quán như tang ma, cưới xin, giỗ chạp, hệ
thống niềm tin và tôn giáo. Đã có một số tác giả nghiên cứu nếp sống văn
hóa, giáo dục văn hóa truyền thống…Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên
cứu nếp sống văn hóa trong phạm vi nhỏ của một xã vùng ven thành phố như
ở xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Xuất phát từ các lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giáo dục
nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư góp phần xây dựng nông thôn mới

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu 4/4 thôn trên địa bàn xã
Bình Kiến, thanh phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Giới hạn về đối tượng thực nghiện: Đề tài thực nghiệm các biện pháp
giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân trong cộng đồng dân cư góp phần
xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
2


- Chủ thể thực hiện giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư là
chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các Hội đoàn thể
và toàn thể nhân dân trên địa bàn xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú
Yên.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các văn bản pháp luật, các quy định của nhà nước trong lĩnh
vực văn hoá, tiêu chuẩn gia đình văn hoá, thôn, khu phố văn hoá, tiêu chí xây
dựng nông thôn mới, giáo dục nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân để xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng các bảng hỏi( phiếu hỏi) nhằm thu thập thông tin của cán bộ,
người dân để có đánh giá về thực trạng nếp sống văn hoá, nhận thức vai trò,
vị trí của giáo dục nếp sống văn hoá cho người dân ở cộng đồng dân cư tại địa
bàn đang nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
7.3. Phương pháp quan sát
Trực tiếp nghiên cứu quan sát thực trạng nếp sống văn hoá, các hoạt
động giáo dục nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu để
thu thập thông tin.
7.4. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng toán thống kê để thu thập, xử lý số liệu nghiên cứu thực trạng

1.1.1. Ở nước ngoài
Phải khẳng định rằng, toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa về văn
hóa nói riêng trong bối cảnh hiện nay đã khác xa so với trước kia cả về nội
dung, ý nghĩa, quy mô và tốc độ. Sự phát triển vượt bậc của khoa học - công
nghệ, các phương tiện giao thông và thông tin hiện đại mới cho phép con
người vượt qua các giới hạn không gian và thời gian, tạo điều kiện cho giao
lưu văn hóa phát triển trên phạm vi toàn thế giới.
Đồng thời, các lực lượng phá hoại xuất hiện và hoạt động trên quy mô
toàn cầu, kết quả của những xung đột giữa các dân tộc, các sắc tộc, các tôn
giáo, mà nguyên nhân sâu xa là sự xung đột về kinh tế, chính trị được che đậy
dưới hình thức của sự xung đột về tôn giáo, cũng phải được nhìn nhận như
một mặt khác của toàn cầu hóa về văn hoá. Đây là vấn đề sâu sắc nhất, bức
thiết nhất trong xu thế toàn cầu hóa.
Trong những thập kỷ gần đây, UNESCO và các tổ chức tiến bộ đã cùng
đặt lại vấn đề văn hóa và giao lưu văn hoá, khẳng định lại vị trí của văn hóa
so với kinh tế và chính trị trong sự phát triển chung của nhân loại và của mỗi
dân tộc, xu thế toàn cầu hóa về văn hóa đang góp phần làm cho các nước trên
thế giới xích lại gần nhau. Do đó, các nhà chính trị phải chấp nhận những
nguyên tắc đối thoại chung trên phạm vi toàn cầu. Đó là những tiêu chuẩn
trong sản xuất về sử dụng lao động trẻ em, lao động tù nhân hay những tiêu
chuẩn về môi trường - vấn đề hiện nay đã trở thành vấn đề đạo đức.
N. Rô-xnô (N. Rosneau), Giáo sư Khoa Quan hệ quốc tế Trường Đại
học Tổng hợp Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn (The George Washington University)
nhận xét: “...Trong khi người ta vẫn chưa hình dung về những đổi thay ấy đến
nơi đến chốn, thì hơi thở của chúng đã bao trùm khắp nơi, giăng mắc khắp

5


các nước, xuyên thấu vào từng bước đi của đời sống, thẩm lậu vào mọi giai



Bên cạnh những nguy cơ và thách thức, toàn cầu hóa cũng đem lại
nhiều cơ hội cho sự phát triển văn hóa các dân tộc. Trước hết là các dân tộc có
điều kiện nhìn nhận lại chính mình khi so sánh, đối chiếu với văn hóa nhân
loại. Một nền văn hóa chỉ có thể tự tri đầy đủ và sâu sắc sau các cuộc tiếp xúc
văn hóa. Các lĩnh vực của đời sống văn hóa được đối sánh với văn hóa nước
ngoài sẽ bộc lộ cái hay và cái dở để từ đó các chủ thể văn hóa dân tộc tiến
hành học hỏi và tiếp biến văn hóa. Với cách nhìn này, người ta cho rằng toàn
cầu hóa mở ra cơ hội mới cho sự học hỏi, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,
để văn hóa các dân tộc có thể đạt tới tính toàn cầu và hiện diện trên bản đồ
văn hóa thế giới. Cố nhiên, sự dự phóng những thành tựu của văn hóa dân tộc
lên tầm toàn cầu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp biến văn hóa của các chủ
thể văn hóa dân tộc.
1.1.2. Ở Việt Nam
Sau hai mươi năm đổi mới và hội nhập, văn hoá Việt Nam đã có những
biến đổi sâu sắc theo hướng nâng cao, trở nên phong phú hơn, cởi mở hơn.
Đó là kết quả đường lối mở cửa của Đảng và Nhà nước. Điều này rất phù hợp
với xu thế chung của thế giới ngày nay là giao lưu và hội nhập. Làm được như
vậy trước hết là vì chúng ta đã đổi mới tư duy. Trong đời sống văn hoá, đổi
mới tư duy được thể hiện trên nhiều mặt như: đổi mới văn hoá về khía cạnh
chính trị - pháp lý; tiếp thu các giá trị văn hoá thế giới; đổi mới trong quan
niệm sống và lối sống; phục hồi và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống;
đổi mới trong tự do sáng tác.
Trong quá trình phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay có
nhiều thay đổi, có sự giao lưu giữa các nền văn hóa trên thế giới, xu thế hội
nhập toàn cầu mà Việt Nam cũng không năm ngoài xu thế phát triển hội nhập
phát triển. Trong nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về văn hóa cụm từ
“đời sống”, “nếp sống văn hóa” được sử dụng nhiều. Đây là cụm từ mới được
sử dụng ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Trong tác phẩm “

bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành
và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch
nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của
con người. Như vậy, giáo dục là một bộ phận của quá trình xã hội hình thành
cá nhân con người, bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức
9


của xã hội, do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn gọi là nhà giáo
dục, nhà sư phạm đảm nhận. Nơi tổ chức hoạt động giáo dục một cách có hệ
thống có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường. Với nghĩa rộng như trên, giáo
dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức,
giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động do nhà trường phụ
trách trước xã hội.
Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa
rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư
tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi
và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo
nghĩa này giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể
dục, giáo dục lao động.
Giáo dục cộng đồng theo UNESCO thì giáo dục cộng đồng được xem
như là một tư tưởng, một cách làm mới mẻ nhằm xây dựng mối quan hệ bền
vững, gắn bó giữa giáo dục với các quá trình xã hội, với đời sống và lợi ích
của cộng đồng. Đó là cách thức tốt và có hiệu quả nhằm tạo ra những điều
kiện, cơ hội để thực hiện sự công bằng xã hội, tạo lập nền tảng cho sự phát
triển và sự ổn định của xã hội. Giáo dục cộng đồng được hiểu là giáo dục cho
tất cả mọi người, là áp dụng cho mọi người trong xã hội. Nếu thực hiện thành

niệm văn hóa mà Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
xác định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy tự phát triển kinh tế - xã hội" [7, 10]
Như vậy, trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu theo chúng tôi; văn hóa là
toàn bộ sản phẩm của loài người được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua
lại giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội, là quá
trình thích nghi, học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người được
lặp đi lặp lại có tổ chức của các thành viên trong xã hội, được truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
1.2.4 Khái niệm về cộng đồng dân cư
Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn phát triển cộng đồng đưa ra khái niệm
“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống
chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào
đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy”
11


Tự điển Đại học Oxford “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng
một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống
nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng
loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể
cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về
một số khía cạnh nào đó”.
Có thể phân ra 2 loại cộng đồng:
Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địa
bàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã hội và có thể có mối quan hệ
ràng buộc với nhau. Họ cùng được áp dụng chính sách chung.
Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc
không gần nhau nhưng có lợi ích chung. Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề
nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức. Như vậy, cộng đồng có thể

nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, nhiều
thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Kết cấu hạ tầng
nông thôn như: điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi còn nhiều yếu kém;
sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng nông sản còn thấp, bảo
quản chế biến chưa gắn với thị trường tiêu thụ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn với cơ cấu lao động, ứng dụng khoa học công nghệ còn chậm. Thu nhập
của nông dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp
tác xã còn nhiều yếu kém; đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều
nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một; môi trường và an ninh
nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc...
Nước ta đang phấn đấu trở thành nước công nghiệp, một nước công
nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó. Vì
vậy, phải tiến hành xây dựng xã nông thôn mới nhằm tạo động lực mạnh mẽ
thúc đẩy toàn diện về mọi mặt của đời sống ở nông thôn, rút ngắn khoảng
cách về kinh tế- xã hội giữa thành thị và nông thôn, tránh nguy cơ ngày càng
tụt hậu xa hơn với các quốc gia khác.
1.3.1 Mục tiêu
Phát triển kinh tế- xã hội- văn hóa ở các vùng nông thôn ở nước ta hiện
nay là hết sức cần thiết, cần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng thành

13


thị và nông thôn nhằm đưa đất nước phát triển toàn diện trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, tránh tụt hậu về mọi mặt.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát triển nông
nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân.
Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương
7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây
dựng nông thôn mới, xác định đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn nông

nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020:
+ Nhóm 1: Quy hoạch

- 1 tiêu chí

+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội

- 8 tiêu chí

+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 4: Văn hoá - Xã hội - Môi trường

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị

- 2 tiêu chí

Việc giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư có quan hệ mật
thiết với các tiêu chí trong nhóm 4 (Văn hoá - Xã hội - Môi trường).
Tiêu chí văn hóa là xây dựng các thiết chế văn hóa, tạo dựng môi
trường văn hóa, đời sống xã hội ổn định, quan hệ, ứng xử có văn hóa trong
bảo vệ môi trường sống sạch, đẹp của cộng đồng. Yêu cầu của nông thôn mới
là có kinh tế phát triển, đi lại thuận tiện, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, sinh hoạt
văn hóa phong phú, sôi nổi, có nhiều hạ tầng hoạt động vui chơi, giải trí.
Người lao động, nhất là thanh niên có cơ hội làm việc, yêu quý và gắn bó quê
hương. Xây dựng văn hóa cho nông thôn mới chính là kế thừa và phát huy

bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
b) Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số người
dân tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng;
c) Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá và
hành nghề mê tín dị đoan;
d) Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; không có
người sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại;
đ) Có 70% trở lên hộ gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”,
trong đó ít nhất 50% gia đình văn hóa được công nhận 3 năm trở lên;
e) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ
cập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài;

16


g) Không có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc
thực phẩm đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm
chủng đầy đủ và phụ nữ có thai được khám định kỳ;
h) Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình;
i) Có nhiều hoạt động đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trình
công cộng; bảo tồn các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền
thống ở địa phương.
3. Môi trường cảnh quan sạch đẹp:
a) Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải về nơi
xử lý tập trung theo quy định;
b) Tỷ lệ hộ gia đình có 3 công trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm,
hố xí) đạt chuẩn, cao hơn mức bình quân chung; các cơ sở sản xuất, kinh
doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status