LUẬN văn THẠC sĩ bảo đảm công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ quân sự ở thành phố hà nội hiện nay - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Công bằng xã hội là một giá trị xã hội, phản ánh khát vọng, mục tiêu
đấu tranh của con người và xã hội loài người. Bảo đảm CBXH là động lực
quan trọng để thúc đẩy tiến bộ và phát triển xã hội. Từ khi xã hội có giai cấp,
bảo đảm CBXH luôn phản ánh quan điểm, lập trường và lợi ích của giai cấp
cầm quyền. Trong xã hội XHCN, việc bảo đảm CBXH phản ánh bản chất ưu
việt của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Công bằng xã hội là một trong những mục tiêu phấn đấu của Đảng và
nhân dân ta. Trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta khẳng định: “Đổi mới mang
tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt
để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì
mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [27, tr.16].
Bảo đảm CBXH phải được thể hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng an ninh và
BVTQ, trong đó có bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS. Việc nghiên cứu,
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp bảo đảm
CBXH trong thực hiện NVQS, góp phần tạo ra động lực xã hội to lớn để mọi
công dân tham gia vào sự nghiệp BVTQ một cách tích cực, tự giác, nâng cao
sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước đang là một đòi hỏi cấp thiết
trong tình hình hiện nay.
Hà Nội là Thủ đô của đất nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội; đồng thời có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh. Bảo đảm CBXH
trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ
góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh của Thủ đô và đất
nước, mà còn mang ý nghĩa đầu tàu, dẫn dắt để cả nước học tập, noi theo. Trong
những năm qua, việc bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà
Nội đã đạt được những thành tựu quan trọng: Các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ
quan quân sự và các đơn vị đã đề cao trách nhiệm, xác định rõ nội dung,

được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, đề cập trên nhiều
phương diện, góc độ tiếp cận khác nhau. Các sản phẩm khoa học đã công bố liên
quan đến đề tài có thể khái quát theo những nhóm công trình tiêu biểu sau:
4


* Nhóm các công trình nghiên cứu về công bằng xã hội và bảo đảm
công bằng xã hội trên các lĩnh vực
Trong cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” của tác giả
Nguyễn Minh Hoàn [32] đã đề cập đến hai khái niệm cơ bản: CBXH và tiến bộ
xã hội. Hai khái niệm này được tác giả khảo sát trong lịch sử nhân loại từ thời
cổ đại đến nay. Tác giả đã nêu ra một số vấn đề thực hiện công bằng ở nước ta
hiện nay như: Thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng phân hóa giàu
nghèo và bất bình đẳng hiện nay; vấn đề công bằng về cơ hội; vấn đề thực hiện
công bằng trong phân phối tư liệu sản xuất, trong giải quyết những vấn đề xã
hội gắn với thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội
và đoàn kết xã hội” [84] đã có nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến các
vấn đề lý luận, thực tiễn về CBXH và thực hiện CBXH; đưa ra quan niệm về
CBXH, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội; quan hệ giữa CBXH và trách
nhiệm xã hội với đoàn kết xã hội; từ đó đề xuất giải pháp giải quyết có hiệu
quả mối quan hệ đó.
Trong sách tham khảo “Những vấn đề kinh tế - xã hội trong cương lĩnh
(Bổ sung, phát triển năm 2011” [54] đã tập hợp các bài tham luận Hội thảo
khoa học “Những vấn đề kinh tế - xã hội trong bổ sung, phát triển Cương lĩnh
năm 1991 trình Đại hội XI”, các tác giả đã đi sâu phân tích nhiều vấn đề xã
hội như: Công bằng xã hội, chính sách xã hội, giáo dục, nguồn nhân lực, thực
hiện xóa đói giảm nghèo, gắn kết giữa phát triển kinh tế với an sinh xã hội...
Khái quát thực trạng, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết
những vấn đề trên, đảm bảo cho sự phát triển xã hội bền vững.

Cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai
đoạn “thần kỳ” và Việt Nam giai đoạn “đổi mới”” của tác giả Lê Văn Sang và
Kim Ngọc [66] đã phân tích những thành tựu về sự phát triển kinh tế, giải
quyết các vấn đề xã hội và nguyên nhân của những thành công đó. Trên sơ sở
kinh nghiệm của Nhật Bản, các tác giả đã khảo sát thực trạng tăng trưởng kinh
tế và CBXH ở nước ta sau 10 năm đổi mới, đánh giá các biện pháp, chương
trình quốc gia thực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH. Đồng thời, luận giải
một số giải pháp giải quyết tranh chấp lao động, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần cho lao động.
6


Một số bài viết đăng trên các tạp chí như: “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác
giả Lê Hữu Tầng [67]; “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Phạm Xuân Nam [50]; “Công bằng
xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác
giả Nguyễn Duy Quý [65]; “Công bằng xã hội ở Việt Nam: nhận diện và giải
pháp thực hiện” của tác giả Đỗ Huy [33]; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Trần Quế [58]; “Tăng trưởng kinh tế đi đôi
với công bằng xã hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa” của Phạm Tất Dong [20]; “Công bằng xã hội trong giáo dục hiện
nay” của tác giả Lê Quốc Anh [2]; “Vai trò của Nhà nước trong điều tiết phân
phối thu nhập” của tác giả Tô Đức Hạnh [31]…, các tác giả đã phân tích quan
niệm về CBXH, về bảo đảm CBXH trên các lĩnh vực, làm nổi bật quan niệm
về CBXH và thực hiện CBXH trên nhiều khía cạnh khác nhau, trình bày quan
hệ CBXH với bình đẳng xã hội, quan hệ giữa CBXH với tăng trưởng kinh tế;
các tác giả đã chỉ ra những nguyên tắc thực hiện CBXH.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ
bảo vệ Tổ quốc của công dân

niên trong thực hiện NVQS, tác giả đã xác định ba yêu cầu và đề xuất bốn
giải pháp cơ bản xây dựng ý thức công dân trong thực hiện nghĩa vụ BVTQ
cho thanh niên huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội hiện nay.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về bảo đảm công bằng xã hội đối
với quân đội
Trong luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
“Lợi ích của quân nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Đinh Quang Tuấn [74] đã đề xuất một số giải
pháp nhằm giải quyết lợi ích của quân nhân bảo đảm CBXH trước những tác
động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, giải pháp về
“Đổi mới và thực hiện tốt chính sách xã hội đối với quân đội” được tác giả
luận giải có tính thuyết phục và góp phần nhất định vào thực tiễn giải quyết
lợi ích của quân nhân những năm qua.
Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng: “Nghiên cứu chính sách xã hội
đối với quân đội và gia đình quân nhân trong tình hình mới”[6], công trình đã
8


đề cập đến nhiều vấn đề như: vai trò của chính sách xã hội đối với quân đội
và gia đình quân nhân; khái quát những bổ sung, sửa đổi, tình hình thực hiện
chính sách xã hội đối với quân nhân và gia đình quân nhân cả những thành
tựu và hạn chế. Trước những tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong
nước, nhất là bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ban đề tài đã đề
xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội đối với quân đội và gia đình
quân nhân trong tình hình mới (đến năm 2020).
Trong Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng hậu phương quân đội trong tình
hình mới” do Trần Văn Minh làm chủ nhiệm [49] đã làm rõ khái niệm “Hậu
phương quân đội” và “Xây dựng hậu phương quân đội”, góp phần phát triển
lý luận về hậu phương quân đội và xây dựng hậu phương Quân đội nhân dân

nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống,
chuyên sâu về bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội hiện
nay. Vấn đề này cần được nghiên cứu làm rõ dựa trên cơ sở khoa học,; vì vậy, đề
tài không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm CBXH
trong thực hiện NVQS ở Thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất một số yêu cầu
và giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố
Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về CBXH trong thực
hiện NVQS và bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội
hiện nay.
Thứ hai, đánh giá thực trạng bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở
thành phố Hà Nội hiện nay.
Thứ ba, đề xuất một số yêu cầu và giải pháp cơ bản bảo đảm CBXH
trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội hiện nay.
10


* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS, tập trung vào
vấn đề tuyển quân, giao quân, tiếp nhận và giải quyết chế độ cho quân nhân
xuất ngũ của các địa phương, cơ quan, đơn vị ở thành phố Hà Nội.
Địa bàn khảo sát tập trung ở một số quận, huyện của thành phố Hà Nội:
quận Cầu Giấy; quận Hà Đông; quận Thanh Xuân; huyện Ba Vì; thị xã Sơn

khảo trong giảng dạy, tuyên truyền, giáo dục về công tác quân sự địa phương,
pháp luật về quốc phòng, quân sự trong các cơ sở giáo dục - đào tạo và cơ quan
quân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm Mở đầu, 2 chương (4 tiết); Kết luận; Danh mục tài liệu tham
khảo và Phụ lục.
`

12


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO ĐẢM
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

1.1. Một số vấn đề lý luận về bảo đảm công bằng xã hội trong thực
hiện nghĩa vụ quân sự ở thành phố Hà Nội
1.1.1. Công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam
* Công bằng xã hội
Trong lịch sử, ý thức của con người về sự công bằng bắt đầu xuất hiện từ
khi xã hội có sự bất công, đó là khi hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Quan niệm của con người về CBXH luôn phụ thuộc vào thái độ, lập trường giai
cấp, đồng thời chịu sự chi phối mang tính quyết định của điều kiện, hoàn cảnh
lịch sử. Mỗi giai cấp, tầng lớp khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác
nhau lại có quan niệm riêng về CBXH. Do đó, khi nghiên cứu về khái niệm
CBXH, nhất thiết phải đứng trên một lập trường giai cấp xác định.
Trước Mác, đã có nhiều quan niệm khác nhau về CBXH, song do sự chi
phối của lập trường, lợi ích giai cấp và sự hạn chế của hoàn cảnh lịch sử, quan
niệm về CBXH của các nhà tư tưởng chưa chỉ rõ được vai trò, bản chất giai

vậy, CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CBXH là một đặc trưng cơ bản, là mục
tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH và xây dựng CNXH là
phương thức và điều kiện tất yếu để thực hiện CBXH. Công bằng xã hội chỉ
có thể đạt được dưới chế độ XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Người viết: “Chỉ
có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân
biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả
đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hòa bình và hạnh
phúc” [42, tr.461]. Theo Hồ Chí Minh, nguyên tắc phân phối trong thực hiện
CBXH dưới CNXH chính là phân phối theo lao động. Tuy nhiên, thực hiện
hình thức phân phối này đồng thời phải quan tâm đến những hoàn cảnh đặc
thù, các giai cấp, tầng lớp cụ thể, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.
Dựa trên nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động là chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
CBXH vừa có sự thống nhất, vừa có sự phát triển sáng tạo cho phù hợp với
14


điều kiện cụ thể trong quá trình lãnh đạo đất nước đi lên CNXH. Đảng ta khẳng
định: công bằng xã hội ở nước ta là một trong những đặc trưng của xã hội
XHCN; CBXH trong phát triển theo định hướng XHCN không chỉ là điều tiết
phân phối lại thu nhập của các giai tầng trong xã hội cho hợp lý mà quan trọng
hơn là phải tạo điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng
đồng; CBXH phải tính đến hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm sự phát triển không
đều giữa các nhóm người, các vùng, các dân tộc khác nhau.
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát mục tiêu, đối
tượng nghiên cứu của đề tài, có thể quan niệm: Công bằng xã hội là một giá
trị xã hội, phản ánh sự ngang bằng nhau giữa người với người trong mối
quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ, trách nhiệm
và quyền lợi, giữa lao động và trả công, giữa vi phạm và sự trừng phạt theo
nguyên tắc cống hiến ngang ngau thì hưởng thụ ngang nhau.

phương diện hoàn toàn xác định: Phương diện giữa cống hiến và hưởng thụ
theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Trong đó,
cống hiến và hưởng thụ là những khái niệm cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao
hàm trong đó cả mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động và sự
trả công, giữa công trạng và sự tưởng thưởng, giữa vi phạm và sự trừng phạt…
Như vậy, CBXH chính là một dạng, một biểu hiện cụ thể của bình đẳng
xã hội và thực hiện CBXH chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội.
Công bằng xã hội không đồng nhất với bình đẳng xã hội; trong khi thực hiện
được CBXH, có thể vẫn chưa thực hiện được bình đẳng xã hội. Bình đẳng có
khía cạnh công bằng (như sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân; bình
đẳng trong hưởng thụ ở những người có lao động, đóng góp ngang nhau),
nhưng cũng có khía cạnh không công bằng như sự phân phối bình quân. Bình
quân là bình đẳng ở trình độ sơ khai theo kiểu cào bằng, nhưng hoàn toàn
không công bằng, bởi vì những người có cống hiến, đóng góp khác nhau lại
được phân phối như nhau. Trong công bằng vừa có bình đẳng, vừa có bất bình
đẳng, cái mà xã hội thừa nhận là công bằng thì nhất thiết không phải là sự bình
đẳng và sự bất bình đẳng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bất công.
* Thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam
Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa vụ là “việc mà pháp luật hay đạo đức bắt
buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác” [85, tr.705]. Tính bắt buộc
16


là đặc trưng nổi bật của nghĩa vụ, được thể hiện ở sự trừng phạt nếu người
hay tổ chức không làm, không tuân theo. Sự trừng phạt đó có thể là chịu trách
nhiệm trước pháp luật nếu đó là nghĩa vụ pháp luật; là sự lên án của dư luận
và sự day dứt của lương tâm nếu đó là nghĩa vụ đạo đức; là sự tẩy chay, phản
đối của tập thể nếu đó là nghĩa vụ với tổ chức...
Quân sự, theo Từ điển Bách khoa quân sự, là: 1) lĩnh vực hoạt động đặc
biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội, củng

9, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật số 78/2015/QH13 (Luật Nghĩa vụ quân
sự 2015) thay thế cho Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 sửa đổi, bổ sung năm
1990, 1994, 2005. Đây là Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành của nước ta.
NVQS là nghĩa vụ đặc biệt, gắn với gian khổ, hy sinh xương máu. Đây là
đặc trưng phổ biến của việc thực hiện NVQS. Hoạt động quân sự là một dạng
lao động đặc biệt của đời sống xã hội, gắn với đấu tranh vũ trang, với chiến
tranh và quân đội. Nét đặc biệt của hoạt động quân sự là tính chất phức tạp
của nội dung, tính biến động rất lớn về nhiệm vụ và diễn ra trong không gian
rộng lớn và thời gian khẩn trương. Mục tiêu của hoạt động quân sự là sử dụng
phương tiện vũ trang tiêu diệt kẻ thù. Vì vậy, đây là lĩnh vực hoạt động đòi
hỏi cao về thể lực, bản lĩnh, tâm lý, trí tuệ, đặc biệt là gắn với gian khổ, thậm
chí là hy sinh xương máu. Bên cạnh đó, hoạt động quân sự diễn ra trong
những điều kiện nghiêm ngặt của điều lệnh, kỷ luật quân sự, của những quy
định chặt chẽ trong quan hệ chỉ huy và phục tùng. Đây là những thử thách rất
lớn đặt ra đối với người thực hiện NVQS.
Việc thực hiện NVQS ở nước ta có sự thống nhất cao giữa tính bắt buộc
và tính tự nguyện. Tính bắt buộc thể hiện ở hệ thống các quy định của pháp luật
về việc thực hiện NVQS mà mọi công dân đều phải tuân theo. Còn tính tự
nguyện thể hiện ở sự sẵn sàng, niềm vui, niềm hạnh phúc, tự hào của mỗi người
khi được đứng trong hàng ngũ của Quân đội nhân dân thực hiện nhiệm vụ
BVTQ. Tính tự nguyện được hình thành trên cơ sở của văn hóa và đạo đức. Sự
thống nhất giữa tính bắt buộc và tính tự nguyện thể hiện ở chỗ, những quy định
của pháp luật cũng thống nhất (nhưng không đồng nhất) với những quy chuẩn
văn hóa và đạo đức; ngược lại, văn hóa và đạo đức coi việc tuân thủ theo pháp
luật là một trong những yêu cầu hàng đầu. Sự thống nhất giữa tính bắt buộc và
tính tự nguyện trong thực hiện NVQS ở nước ta là một đặc trưng riêng có, xuất
phát từ truyền thống văn hóa, đạo đức, từ bản chất, mục tiêu chiến đấu của quân
đội cách mạng do Đảng ta sáng lập, tổ chức và rèn luyện.
18


19


Công bằng xã hội trong thực hiện NVQS thể hiện ở sự bình đẳng giữa các
công dân trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ, trách
nhiệm và quyền lợi khi tham gia phục vụ trong quân đội. Mọi công dân tham gia
phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đều được thụ hưởng các chế độ,
chính sách do nhà nước quy định tương xứng với sự đóng góp, cống hiến của
bản thân. Tính công bằng thể hiện ở chỗ, cùng một mức độ đóng góp, cống hiến,
cùng một công trạng thì đều được thụ hưởng quyền lợi, sự tưởng thưởng ngang
bằng nhau. Sự ngang bằng nhau đó phải được xem xét ở từng thời điểm lịch sử
cụ thể, dựa trên những quy định của chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành.
Công bằng xã hội trong thực hiện NVQS thể hiện ở sự bình đẳng giữa
các công dân trong mối quan hệ giữa vi phạm và sự trừng phạt trong việc thực
hiện NVQS. Công bằng giữa các công dân chính là mọi biểu hiện vi phạm các
quy định của pháp luật về thực hiện NVQS đều được xử lý tương xứng với lỗi
phạm và ngang bằng nhau trong cùng lỗi phạm.
Khi xem xét CBXH trong thực hiện NVQS cần thấy rằng, đó không chỉ
là sự bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân trong thực hiện NVQS, mà
còn là đòi hỏi về sự hoàn thiện của chính sách, pháp luật trong việc giải quyết
mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, vi phạm và sự trừng phạt khi tham
gia thực hiện NVQS. Nếu chính sách, pháp luật về vấn đề này chưa hoàn thiện,
chưa bảo đảm công bằng thì sự bình đẳng trước pháp luật lại chính là nguyên
nhân của sự bất công.
1.1.2. Quan niệm và vai trò bảo đảm công bằng xã hội trong thực
hiện nghĩa vụ quân sự ở thành phố Hà Nội hiện nay
* Khái quát về thực hiện nghĩa vụ quân sự ở thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Hồng, phía
Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam tiếp giáp với
các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc

sự năm 2015. Công dân Hà Nội khi tham gia thực hiện NVQS tại ngũ bên cạnh
việc phục vụ trong các cơ quan, đơn vị của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội còn có
thể phục vụ trong các cơ quan, đơn vị khác trong toàn quân.
Quá trình tổ chức thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội chịu sự tác động,
chi phối bởi một số đặc điểm sau:

21


Một là, thành phố Hà Nội có mật độ dân số đông, song phân bố không
đồng đều giữa các địa phương, khu vực
Theo Niên giám thống kê, dân số Hà Nội năm 2016 là 7.328,4 nghìn
người. Trong đó dân cư sống ở thành thị là 3.928,6 nghìn người, ở nông thôn
là 3.399,8 nghìn người. Mật độ dân cư trung bình của Hà Nội năm 2016 là
2.182 người/km2 (trong khi mật độ trung bình của cả nước là 280 người/km 2).
Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều, mật độ dân số tập trung tại các quận
khá cao (mật độ dân số trung bình của 12 quận là 11.220 người/km 2, trong đó
cao nhất là quận Đống Đa 42.171 người/km2, thấp nhất là quận Long Biên
4.840 người/km2), cao gấp 4,9 lần so mật độ dân số trung bình toàn thành phố.
Trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng
Hòa mật độ dưới 1.000 người/km² [73].
Với mật độ dân số đông, thành phố Hà Nội có một nguồn nhân lực dồi
dào để tuyển chọn công dân tham gia thực hiện NVQS. Nguồn tuyển chọn dồi
dào chính là cơ sở để thành phố có điều kiện xét tuyển, lựa chọn được những
thanh niên ưu tú nhất, đáp ứng đủ các tiêu chí về lý lịch, ý thức chính trị, sức
khỏe, trình độ văn hóa để tham gia phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt
Nam. Tuy nhiên, sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương, khu
vực khiến cho nguồn tuyển chọn của mỗi địa phương lại khác nhau. Do đó,
UBND thành phố và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội cần căn cứ vào đặc điểm cụ
thể của từng quận (huyện), phường (xã) để giao chỉ tiêu tuyển quân cho phù

thanh niên muốn được phục vụ lâu dài trong quân đội, và coi việc thực hiện
NVQS là cơ hội để tiếp cận với các chế độ, chính sách, nhất là về chính sách
dạy nghề và hỗ trợ việc làm. Sự khác biệt đó đặt ra vấn đề phải có sự đa dạng,
linh hoạt trong lựa chọn các hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền, vận
động thực hiện NVQS cho phù hợp.
Ba là, cư dân ở thành phố Hà Nội trình độ dân trí cao hơn mặt bằng
chung của cả nước, là nơi hội tụ đội ngũ trí thức đông đảo trên nhiều lĩnh vực
Là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, có tốc độ đô thị
hóa nhanh, nên trình độ dân trí của thủ đô Hà Nội cao hơn mặt bằng chung của
cả nước. Số học sinh phổ thông tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2016 của Hà
Nội là 190.934 người ; số sinh viên đại học và cao đẳng năm 2016 của Hà Nội
là 610.872 người. Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện có 57 trường đại học; 29
23


Học viện; 31 trường cao đẳng[73]. Chính vì vậy, thành phố Hà Nội cũng đồng
thời tập trung một đội ngũ trí thức đông đảo trên nhiều lĩnh vực.
Với mặt bằng trình độ dân trí cao, cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng tương
đối hoàn thiện, hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng phát triển đa
dạng, thành phố Hà Nội có rất nhiều thuận lợi trong việc triển khai các hình
thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, trong đó có chính sách,
pháp luật về NVQS. Trình độ văn hóa cao giúp cho cư dân của Hà Nội vừa có
khả năng tiếp cận, quán triệt hệ thống chính sách, pháp luật về NVQS nhanh
hơn, sâu sắc hơn, vừa có khả năng tham gia phản biện hệ thống chính sách,
pháp luật. Bên cạnh đó, đội ngũ trí thức đông đảo, có trình độ cao của Hà Nội
là lực lượng quan trọng tham gia góp ý, xây dựng, phản biện hệ thống chính
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về NVQS.
Bốn là, thành phố Hà Nội có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh;
nhân dân Hà Nội có truyền thống yêu nước nồng nàn, sâu sắc, có ý thức trách

hiện được, chắc chắn giữ gìn được, chắc chắn có đầy đủ những gì cần
thiết’’[85, tr.54]. Theo đó, bảo đảm là sự cam kết về trách nhiệm và quá trình
thực hiện cam kết đó của các chủ thể đối với một đối tượng, một công việc,
hoạt động nhất định về kết quả đạt được của công việc, hoạt động đó; hoặc về
các điều kiện nhằm giúp cho công việc, hoạt động đó được thuận lợi.
Từ cách tiếp cận về CBXH trong thực hiện NVQS nói chung và những
khái quát về việc thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội nói riêng, có thể quan
niệm: Bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội là tổng hòa
những tác động chủ quan của các chủ thể nhằm giúp cho mọi công dân của Hà
Nội đều được ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm
và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa thưởng và phạt khi phục vụ tại
ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội theo quy định của Nhà nước.
Mục tiêu bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội hiện
nay là làm cho sự công bằng giữa các công dân trong thực hiện NVQS được
thực hiện đúng theo đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước và mong muốn của nhân dân; qua đó tạo sự đồng thuận giữa các tầng
lớp nhân dân, giữa nhân dân với hệ thống chính trị; thể hiện sự tiến bộ trong
cách thức xây dựng lực lượng vũ trang, thực hiện nhiệm vụ BVTQ, cách thức
25


quản lý xã hội của một Nhà nước theo chế độ XHCN; nâng cao ý thức và tạo
động lực cho người dân trong việc thực hiện NVQS, bảo vệ Tổ quốc.
Chủ thể bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội là
hệ thống chính trị của thành phố, Đảng ủy quân sự địa phương; các cơ quan
quân sự địa phương; Hội đồng NVQS các cấp; lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị
quân đội; các đoàn thể chính trị - xã hội; các gia đình và mọi công dân của
thành phố Hà Nội. Như vậy, chủ thể bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS
của thành phố Hà Nội rất phong phú, đa dạng. Mọi tổ chức, cá nhân có liên
quan đến việc tổ chức và thực hiện NVQS đều có trách nhiệm đối với việc

khi hoàn thành NVQS (hưởng quyền lợi như nhau với những cống hiến ngang
bằng nhau), đều bị xử phạt khi vi phạm các quy định về NVQS (mức phạt
ngang nhau với cùng một mức độ vi phạm).
Các tầng lớp nhân dân của thành phố Hà Nội vừa là đối tượng được
bảo đảm, vừa là chủ thể tích cực, chủ động của quá trình bảo đảm CBXH
trong thực hiện NVQS. Họ vừa là người chấp hành, tổ chức thực hiện, vừa
tham gia giám sát, phản biện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS.
Trong đó, những công dân đang trong độ tuổi thực hiện NVQS chính là đối
tượng và chủ thể trực tiếp nhất. Quá trình bảo đảm CBXH trong thực hiện
NVQS ở thành phố Hà Nội hiện nay sẽ không thể có hiệu quả cao nếu
không phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tích cực, tự giác của các tầng lớp
nhân dân, đặc biệt là thanh niên.
Nội dung bảo đảm CBXH trong thực hiện NVQS ở thành phố Hà Nội
là toàn diện trên tất cả các mặt, các khâu, các bước của quy trình thực hiện
NVQS, bao gồm:
Một là, bảo đảm công bằng trong đăng ký NVQS và quản lý công dân
trong độ tuổi thực hiện NVQS. Đó là đảm bảo cho mọi công dân khi đến tuổi
thực hiện NVQS (công dân nam từ đủ 17 tuổi trở lên, công dân nữ từ đủ 18 tuổi
trở lên có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân Việt
Nam) đều phải (và được) đăng ký NVQS và chịu sự quản lý của các cấp có thẩm
quyền; đảm bảo cho mọi công dân đều được đối xử ngang bằng nhau trong việc
thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký; trong việc miễn đăng ký NVQS; trong việc
đăng ký NVQS bổ sung, khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập, tạm
27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status