MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ HUY ĐỘNG
VỐN CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG
1.1.
1.2.
1.3.
3
9
Quan niệm về vốn và huy động vốn cho xây dựng
nông thôn mới ở Hải Phòng
9
Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn cho xây dựng
nông thôn mới ở thành phố Hải Phòng
21
Kinh nghiệm huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở một
số tỉnh, thành phố và bài học rút ra cho Thành phố Hải Phòng
24
Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
33
THỜI GIAN QUA
2.1.
PHỤ LỤC
98
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông thôn Hải Phòng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố, là lực lượng to lớn góp phần phát triển
kinh tế- xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái ở
nông thôn. Sau hơn 10 năm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn của Trung ương và Thành ủy, nhất là từ khi thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020, nông thôn Hải Phòng, đã có những bước chuyển mới, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng của nông nghiệp. Sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản phát
triển. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền
vững với nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao; đảm bảo an ninh lương thực
trước mắt và lâu dài, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân thành phố; phục
vụ du lịch, xuất khẩu và đảm bảo yêu cầu cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.
Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư được nâng cao; xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hóa; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được
bảo vệ. Hệ thống chính trị nông thôn được củng cố và tăng cường, an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững…
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và
yêu cầu đặt ra. Phát triển nông thôn còn thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội nhiều nơi trong thành phố còn chưa đồng bộ; quy mô sản xuất nông
nghiệp còn nhỏ, chưa hình thành khu vực chuyên môn hóa chế biến nông sản;
hạn chế trong việc áp dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất;
môi trường khu vực nông thôn nhiều nơi rơi vào tình trạng ô nhiễm ở mức
các giải pháp nhằm phân bổ và sử dụng các nguồn lực trên một cách có hiệu
quả cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ta.
4
Sách: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS-TS
Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê năm 2003. Công trình cung cấp hệ thống tư
liệu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau gần 20 năm đổi mới. Trên cơ sở
phân tích quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới, tác giả
đưa ra những giải pháp có tính thuyết phục cao cho nông nghiệp, nông thôn
nước ta trong thời gian tới với một số vấn đề cụ thể như: Đầu tư, nâng cao khả
năng cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, hạn chế phân hóa giàu nghèo.
Nguyễn Văn Lai, “Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn
trong nước phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam” - Luận án tiến sĩ kinh tế,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1996. Trên cơ sở
phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn, nhất là những yếu kém, bất
cập trong thời gian gần 10 năm đổi mới, tác giả luận án đã đề xuất các giải
pháp như: ổn định kinh tế vĩ mô; chú trọng phát triển kinh tế thị trường và
mở rộng thị trường vốn; hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế… cho phát
triển kinh tế - xã hội.
Đinh Văn Phượng, “Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh
tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000. Từ phân tích đặc điểm
kinh tế – xã hội kém phát triển của miền núi phía Bắc, tác giả luận án khẳng
định vai trò quan trọng của vốn, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng vốn
đầu tư đối với phát triển kinh tế của vùng trong thời gian từ 1986 – 1998; đề
xuất phương hướng và giải pháp cơ bản huy động và sử dụng có hiệu quả vốn
đầu tư cho phát triển kinh tế ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Nguyễn Lương Thành, “Tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ
tài chính, gồm: Vốn ngân sách nhà nước; vốn tính dụng; vốn huy động từ sự
đóng góp của nhân dân và vốn tài trợ từ các tổ chức, các doanh nghiệp trong
và ngoài nước.
- Về không gian: Huy động vốn cho phát triển nông thôn mới trên địa
bàn thành phố ở Hải Phòng.
7
- Về thời gian: Các số liệu được khảo sát từ năm 2011 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các
Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hải Phòng về vốn để xây
dựng nông thôn mới của thành phố, đồng thời tham khảo và kế thừa kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã công bố.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của
kinh tế chính trị Mác – Lênin là phương pháp trừu tượng hóa khoa học và các
phương pháp: kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xác định chủ
trương, biện pháp huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học
và giảng dạy kinh tế - chính trị Mác – Lênin ở các học viện, trường đại học
trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
vàng bạc là hoạt động ngoại thương.
Trường phái trọng nông tiếp cận tới khái niệm vốn dưới hình thức sản
xuất nông nghiệp. Coi trọng đất đai và cho rằng “Chính đất đai đẻ ra của cải,
9
là cha mẹ của của cải”. Nguồn gốc thuần túy của sự giàu có của mỗi quốc gia
là từ sản xuất nông nghiệp hay các dạng phát triển đất đai khác, đề cao vai trò
của sản xuất nông nghiệp và nông dân. Cho rằng tiền chỉ là vật trung gian,
làm phương tiện lưu thông, làm môi giới giữa người bán và người mua, chống
việc tích trữ tiền.
David Ricacdo (1772 - 1823) đã có quan niệm cụ thể, khoa học hơn về vốn:
“Tư bản là một bộ phận của cải trong nước, được dùng vào việc sản xuất bao gồm
thức ăn, đồ mặc, các công cụ, nguyên liệu, vật liệu, máy móc… để lao động”.
Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ
cho quá trình sản suất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh
nghiệp (máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…).
Dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được C.Mác khái quát hóa thành
phạm trù tư bản. C.Mác cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng
dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này có một tầm khái quát
lớn và bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá
trị được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà
cửa, nguyên vật liệu, tiền công... Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư và nó
tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tại Khoản 10 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: “Vốn nhà nước là
vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh,
vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước”.
Tại Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: “Vốn nhà nước bao gồm vốn
ngân sách Nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của
dài hạn (từ 5 năm trở lên).
- Dựa vào quan hệ sở hữu: Vốn được phân làm hai loại là vốn chủ sở
hữu (vốn tự có của các doanh nghiệp) và vốn vay.
- Dựa vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế: Bao gồm vốn thực (tư
bản thật) và vốn ảo (tư bản giả như cổ phiếu, trái phiếu...)...
11
Mỗi loại vốn có một vai trò vị trí khác nhau trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Vì vậy, các chủ thể phải tuỳ thuộc vào thời điểm lịch sử và mục
đích huy động vốn mà xác định các hình thức huy động cho phù hợp; khắc phục
tình trạng hoặc quá đề cao hình thức này mà xem nhẹ các hình thức khác.
* Vai trò của vốn cho xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng
Trước hết, phải khẳng định rằng vốn là cơ sở tiền đề để lập kế hoạch, xây
dựng và thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới. Bởi vì, vốn không chỉ tồn tại dưới
dạng là tiền có giá trị mà vốn còn tồn tại dưới dạng đất đai, tài nguyên, nguyên
nhiên vật liệu mà những yếu tố này là cơ sở để xây dựng và thực hiện các tiêu
chí nông thôn mới. 19 tiêu chí xây dựng và thực hiện nông thôn mới như: giao
thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, nhà ở dân cư… có thực hiện được hay
không nhất thiết phải có vốn.
Vốn là điều kiện để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại vào quá
trình phát triển nông thôn mới. Muốn đầu tư xây dựng và phát triển 19 tiêu chí
về nông thôn mới, cần phải có quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế, xây dựng
kế hoạch, lập chiến lược phát triển, quy hoạch chi tiết cụ thể đối với từng địa
phương, đơn vị từ đó có thể lựa chọn áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại như: hệ
thống máy móc về xây dựng giao thông, thủy lợi; hệ thống sản xuất và bảo quản
nông sản; hệ thống xử lý rác thải đảm bảo an toàn môi trường… Việc nghiên
cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ là động lực, là khâu đột phá
quan trọng trong việc tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình nuôi
trồng tạo ra những vùng sản xuất nông sản an toàn, công nghệ cao, năng suất,
- 8 tiêu chí
+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất
- 4 tiêu chí
+ Nhóm 4: Văn hoá – Xã hội – Môi trường
- 4 tiêu chí
+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị
- 2 tiêu chí
* Quan niệm về huy động vốn
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “huy động là điều động,
tập trung số đông các yếu tố vào để thực hiện một mục tiêu nào đó” .
Theo đó, huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng là hoạt
động tích cực, chủ động của chính quyền các cấp ở địa phương trong việc điều
động, tập trung, thu hút các nguồn vốn trong xã hội theo đúng quy định của
pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn của thành phố Hải Phòng.
13
Quan niệm này chỉ ra:
Mục đích huy động vốn: để xây dựng 19 tiêu chí của nông thôn mới, theo
Chương trình mục tiêu quốc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố
Hải Phòng.
Chủ thể huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hải
nguồn vốn này phụ nhiều vào cơ chế thu hút đầu tư, lãi suất, thu hồi, thời hạn cho vay…
Thứ ba là vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế
khác: 20%
Đây là nguồn vốn được hình thành từ quá trình đầu tư của các doanh
nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế trên địa bàn. Nguồn vốn đầu tư này
phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cơ chế chính sách thu hút đầu tư, khả năng của các
doanh nghiệp, mức thuế của nhà nước,
Thứ tư là vốn từ các khoản đóng góp của cộng đồng dân cư và các nguồn
hợp pháp khác: 10%
Các khoản đóng góp của cộng đồng dân cư là nguồn tự tích lũy và tự có
trong nhân dân (bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động). Nguồn vốn này
phần lớn phụ vào thu nhập của nhân dân, thực chất đó là khoản tiền dôi ra sau
khi đã trừ đi chi tiêu sinh hoạt tối thiểu của hộ gia đình. Để huy động được
nguồn vốn này, nhân dân phải được bàn bạc dân chủ, đảm bảo đúng Pháp lệnh
34 và Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16/4/1999 của Chính phủ về quy chế
huy động vốn, quản lý sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân.
Theo đó, thành phố quy định rõ các cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư
xây dựng hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn
2013-2015, định hướng đến năm 2020; tỷ lệ đóng góp của ngân sách xã và
nhân dân vào các công trình, dự án cụ thể như sau:
15
Khu vực I
Các khoản đóng góp
Tổng Ngân
sách
mức
10%
20%
60%
10%
30%
100%
40%
10%
50%
30%
10%
60%
100%
42%
20%
100%
100%
Khả
năng
NS và
XHH
100%
Khả
năng
NS và
XHH
70%
70%
200
trđ/
thôn
10%
10%
20%
20%
10%
10%
30%
30%
Thôn
10%
30%
Còn
lại
phố
Xây dựng đường giao thông đến
trung tâm xã
Xây dựng đường giao thông thôn,
xóm
Xây dựng đường giao thông nội
đồng
Xây dựng kênh mương nội đồng
Xây dựng công trình thoát nước
thải khu dân cư
Xây dựng trường học đạt chuẩn
Xây dựng trạm y tế xã
Xây dựng công trình thể thao
nông thôn
Xây dựng nhà văn hóa xã
Xây dựng Nhà văn hóa thôn
Khu vực II
-
Chương trình là cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo tham mưu, đề xuất, đôn
đốc, hướng dẫn cơ sở triển khai thực hiện. Theo đó, cấp huyện cũng thành lập Ban
Chỉ đạo do đồng chí Bí thư huyện ủy hoặc Chủ tịch UBND huyện làm trưởng
ban, trưởng các phòng, ban, ngành, đoàn thể là thành viên; cấp xã thành lập Ban
Chỉ đạo và Ban Quản lý chương trình; cấp thôn thành lập Ban Phát triển thôn.
+ Thực hành huy động vốn qua các hình thức: Trên cơ sở pháp luật quy
định các nguồn vốn sử dụng cho xây dựng nông thôn mới, hiện nay thành phố
Hải Phòng thực hiện một số hình thức huy động cụ thể như sau:
Huy động vốn từ nguồn ngân sách nhà nước: Bao gồm vốn ngân sách
Trung ương hỗ trợ trực tiếp cho chương trình được Trung ương lập dự toán và
cân đối phân bổ theo từng năm hoặc từng tiêu chí cụ thể. Vốn ngân sách địa
phương bao gồm vốn hỗ trợ trực tiếp cho chương trình từ nguồn chi sự nghiệp
17
trong dự toán ngân sách hàng năm của thành phố, huyện, xã và vốn lồng ghép từ
các chương trình, dự án khác.
Huy động vốn theo hình thức tín dụng: bao gồm vốn tín dụng đầu tư và
vốn tín dụng thương mại, là hình thức vay vốn trên cơ sở các quy định hiện
hành về tín dụng. Vốn tín dụng đầu tư phát triển được sử dụng vào thực hiện
Chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông
thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông
thôn. Các DN đầu tư ở khu vực nông thôn có dự án thuộc danh mục các dự án
vay vốn tín dụng đầu tư hoặc có hợp đồng xuất, nhập khẩu các mặt hàng
thuộc danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu sẽ thuộc đối tượng
hưởng chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo Nghị định
75/2011/ NĐ-CP ngày 30/8/2011 sẽ được hỗ trợ lãi suất.
Vốn tín dụng thương mại được thực hiện thông qua chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP
ngày 12/4/2010. Theo đó nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng đối với
Nhà nước thông qua chính sách về đất đai như miễn, giảm tiền sử dụng đất,
miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; được hỗ trợ thuê đất,
mặt nước của hộ gia đình, cá nhân; được miễn, giảm tiền sử dụng đất khi
chuyển mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra còn được hỗ
trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, trong đó hỗ trợ chi
phí quảng cáo đến 70%, được hỗ trợ dịch vụ tư vấn, hỗ trợ áp dụng khoa học
và công nghệ, hỗ trợ cước phí vận tải…
Huy động vốn từ cộng đồng cư dân là hình thức huy động đóng góp từ
cộng đồng dân cư, phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của người dân khu
vực nông thôn. Theo đó, chính quyền địa phương không quy định bắt buộc
nhân dân đóng góp, chỉ vận động bàng các hình thực thích hợp để nhân dân tự
nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương.
Người dân có sự chủ động trong việc huy động đóng góp nguồn lực và tham
gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới thông qua việc bàn bạc mức tự
nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án. Có thể huy động từ cộng đồng bao
19
gồm tiền mặt, hiện vật như: đất đai, hoa màu và các tài sản gắn liền với đất…
ngày công lao động và các hình thức xã hội hóa khác.
Ngoài ra, nguồn vốn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi cũng được ưu tiên
sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Điều này được khẳng định tại
điểm 4, điều 7, Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013.
* Phương thức huy động vốn:
Có nhiều phương thức để thực hiện việc huy động vốn cho xây dựng
nông thôn mới, bởi mỗi nguồn vốn có vị trí, vai trò, đặc điểm riêng khác
nhau, tùy theo từng thời điểm, từng mục đích sử dụng có thể chọn phương
thức huy động cho phù hợp và hiệu quả nhất. Hiện nay, trên địa bàn thành
phố Hải Phòng thực hiện một số phương thức huy động vốn cơ bản như sau:
Phương thức huy động theo chỉ tiêu, kế hoạch phân bổ: Đây là phương
có chuyển biến tích cực, tạo bước chuyển biến quan trọng và có đột phá, đặt
ra cho Hải Phòng nhiều cơ hội thu hút đầu tư từ nhiều nơi, đặc biệt là việc
triển khai thực hiện hai dự án lớn của thành phố là Cảng hàng không Cát Bi
và cầu Tân Vũ- Lạch Huyện hứa hẹn sẽ phát triển giao thương mạnh mẽ. Với
điều kiện cơ hội thuận thuận lợi như vậy song nguồn ngân sách của thành phố
phải phân bổ cho nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác, do đó không thể hỗ trợ
100% để đầu tư thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, vì vậy cần có
sự kết hợp nguồn vốn dân góp (tiền, đất đai, ngày công...). Tuy nhiên, mức
đóng góp của người dân phụ thuộc nhiều vào thu nhập và trình độ nhận thức
của họ, nên mức đóng góp của nhân dân ở mỗi địa phương có sự khác nhau.
Qua khảo sát cho thấy, trình độ dân trí của người dân ảnh hưởng lớn đến nhận
thức của họ về Chương trình xây dựng nông thôn mới, ở những nơi trình độ
dân trí cao, sớm tiếp cận với các cơ chế, chính sách của Nhà nước thì huy
động nhân dân đóng góp được nhanh chóng và dễ dàng hơn, ngược lại với
những địa phương có trình độ dân trí còn hạn chế việc huy động sức dân gặp
rất nhiều khó khăn, thậm chí không huy động được.
21
Hai là, huy động vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp, cơ chế chính sách huy
động vốn hiện nay.
Hiện nay, vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới chủ yếu vẫn là từ vốn
ngân sách Nhà nước, việc huy động vốn ở các địa phương, vốn từ dân cư chịu
ảnh hưởng trực tiếp từ các chính sách, cơ chế pháp luật của Nhà nước. Các chính
sách về tín dụng, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông
nghiệp, nông thôn chính là hành lang pháp lý để doanh nghiệp và nhân dân lấy
đó làm căn cứ tiến hành tham gia xây dựng nông thôn mới. Song, các cơ chế
chính sách của Trung ương và của Thành phố ban hành còn bộc lộ một số hạn chế
nhất định như: còn phân tán với nhiều đối tượng được hỗ trợ, trong khi nguồn lực
hạn chế, đặc biệt là nguồn ngân sách thành phố chưa đảm bảo, làm giảm hiệu quả
đoàn thể, sự đồng thuận, phong tục tập quán của nhân dân địa phương
Huy động vốn cho xây dựng và thực hiện nông thôn mới không chỉ từ
nguồn vốn của ngân sách Nhà nước mà còn bằng nhiều hình thức huy động
khác, trong đó có nguồn vốn dân đóng góp (hiến đất, giải phóng mặt bằng,
ngày công lao động…). Việc huy động vốn phụ thuộc rất lớn vào uy tín của
tổ chức chính quyền, đoàn thể chính trị- xã hội, sự đồng thuận của cộng
đồng dân cư và phong tục tập quán ở mỗi địa phương. Thực tiễn cho thấy, ở
địa phương nào coi trọng công tác dân vận của chính quyền, thực hiện tốt
dân chủ ở cơ sở, tích cực tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân thấy được lợi
ích thiết thực từ việc thực hiện nông thôn mới, thì nơi đó nhân dân nhiệt tình
hưởng ứng tham gia tích cực vào quá trình huy động, quản lý và sử dụng
vốn. Mặt khác, địa phương nào không tạo được sự đồng thuận của dân cư,
chính quyền mất uy tín, thì việc huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới
là rất khó khăn. Điểm đáng chú ý là phong tục tập quán của mỗi địa phương
luôn có những nét riêng khác nhau, nên các hình thức tham gia vào huy động
vốn cho xây dựng nông thôn mới cũng khác nhau, chính quyền cơ sở cần
phải linh động áp dụng để không trái quy định pháp luật và đạt được mục
tiêu đặt ra.
23
Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố hiện nay, chính quyền ở một số địa
phương chưa thực sự chủ động ưu tiên nguồn lực từ địa phương cho Chương
trình, việc đầu tư chủ yếu trông chờ từ hỗ trợ ngân sách cấp trên, việc huy động
nguồn lực chưa bám sát phương châm “Huy động nguồn lực từ cộng đồng là
quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ
ngân sách nhà nước là cần thiết”. Thu nhập của người dân nông thôn còn thấp
nên huy động nguồn lực trong dân còn khó khăn dẫn đến tiến độ triển khai
chương trình, xây dựng công trình kéo dài ảnh hưởng đến hiệu quả chung của
chương trình.
việc của các xã... tuy xuống cấp nhưng nếu còn bảo đảm điều kiện tối thiểu
thì sửa chữa, nâng cấp để đạt chuẩn, tiết kiệm tối đa kinh phí. Trong khi
nguồn vốn đầu tư của thành phố có những thời điểm bị chậm, hầu hết các
huyện, thị xã và các xã đã chủ động bố trí nguồn vốn và huy động các nguồn
vốn xã hội hóa khác của doanh nghiệp, hộ gia đình tập trung chỉ đạo và tổ
chức thực hiện. Các huyện Đông Anh, Thanh Trì, Đan Phượng, Hoài Đức,
Phúc Thọ, Thường Tín, Sóc Sơn... là những ví dụ điển hình trong việc linh
động, tạo nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất để có vốn xây dựng nông
thôn mới.
Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình: Thực hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tỉnh Thái Bình có 267 xã thuộc 7 huyện
nằm trong danh sách triển khai Chương trình giai đoạn 2011-2020. Đây là chủ
trương lớn và khó, lộ trình thực hiện lâu dài, phạm vi rộng, liên quan trực tiếp
đến đời sống của nhân dân khu vực nông thôn của thành phố, đòi hỏi vừa làm
vừa phải điều chỉnh, rút kinh nghiệm. Thái Bình đã ban hành Nghị quyết số 02
của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái
Bình giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020 và xác định một trong
những yếu tố quan trọng, góp phần đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành các
tiêu chí xây dựng nông thôn mới đó là việc mở rộng và phát huy đầy đủ, triệt
để quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện xây dựng nông thôn mới với
phương châm “nhân dân là chủ thể, là người trực tiếp thực hiện, trực tiếp
26