ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGUYỄN THỊ ÁNH DƢƠNG
HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH TƢ VẤN VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
NGƢỜI CAO TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Hợp Hưng huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGUYỄN THỊ ÁNH DƢƠNG
HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH TƢ VẤN VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
NGƢỜI CAO TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Hợp Hưng huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. MAI THỊ KIM THANH
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp một số bệnh thuờng gặp của NCT xã Hợp Hưng năm
2012.........................................................................................................56
Danh mục các hình:
Hình 1.1. Tháp nhu cầu của Maslow……………………………………….37
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................ 4
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................................. 4
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu ......................................................................... 5
3. Ý nghĩa nghiên cứu ................................................................................................. 18
3.1. Ý nghĩa khoa học................................................................................................... 18
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................................... 18
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................... 19
4.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................. 19
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................ 19
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu ....................................................................... 20
5.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 20
5.2 Khách thể nghiên cứu ............................................................................................ 20
6. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 20
7. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................................. 20
8. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................................. 21
9. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................ 21
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu.............................................................................. 21
9.2 Phương pháp quan sát ........................................................................................... 22
NGUYỆN VIÊN ................................................................................................................ 111
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Già hóa dân số đang là một xu thế mang tính toàn cầu do giảm tỷ lệ sinh,
tăng tuổi thọ bình quân và trở thành một vấn đề xã hội có tác động rất lớn tới tiến
trình phát triển chung của tất cả các nước trên nhiều mặt: Chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa, nghệ thuật … Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp quốc, năm 1950, trên
thế giới có 214 triệu người trên 60 tuổi, năm 1975 có 336 triệu người, năm 2000 là
600 triệu người, dự báo đến năm 2050 sẽ tăng lên 2 tỷ người. Đất nước ta đang
trong thời kì hội nhập và phát triển cùng thế giới, từng bước xây dựng hướng đến
một xã hội văn minh, tiến bộ, bình đẳng, vì con người và sự phát triển của con
người, trong đó không thể không quan tâm đến nhóm người cao tuổi (NCT).
NCT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời, là tầng lớp đã
có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; nhưng họ
cũng là một trong những nhóm đối tượng dể bị tổn thương nhất, do những thay đổi
về tâm sinh lý, sức khỏe, vị thế trong xã hội và gia đình; vì vậy họ rất cần có
những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc NCT. Việc chăm sóc NCT
không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo
sâu sắc thể hiện truyền trống "uống nước nhớ nguồn", "thương người như thể
thương thân" của dân tộc ta.
Thực hiê ̣n những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước nhiề u trung
tâm cơ sở bảo trơ ̣ , trơ ̣ giúp xã hô ̣i , các mô hình chăm sóc , những câu lạc bộ dành
cho NCT đươ ̣c hin
̀ h thành ở nhiều điạ phương trên toàn quốc. Tại tỉnh Nam Định,
cũng đã triển khai được nhiều mô hình trợ giúp cho NCT trong đó có mô hình tư
vấn và chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng. Một trong những điển hình
của mô hình này là mô hình tư vấn và chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng
từng thời kỳ và mỗi quốc gia.
5
- Cuốn “Aging and health: Asian and Pacific Islander American Elders”
(NCT và sức khỏe: NCT Mỹ đến từ Châu Á và Thái Bình Dương) của các tác giả
Melen R . McBride, Nancy Morioka.Douglas và Gwen Veo tái bản lần 2.[29]
Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã nghiên cứu sự đa dạng văn hóa, hệ thống
niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe của những
NCT đến từ các nước khác nhau thuộc khu vực Châu Á và Thái Bình Dương hiện
tại đang sống tại Mỹ. Từ đó, đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lợi, rào cản
trong việc chăm sóc sức khỏe tạo điều kiện để những NCT này có thể thể hiện
được mong muốn, nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất.
- Ở khía cạnh về sức khỏe của NCT, Annette L. Fitzpatrick, Neil R.Powe,
Lawton S.Cooper, Diane G. Ives và John A.Robbins (Đại học Washington, Đại
học Johns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California – Davis và Đại học
Wake Forest) đã có nghiên cứu: “Barriers to Health Care Acces Among the
Elderly an Who Perceives Them”(Những rào cản chăm sóc sức khỏe NCT và nhận
thức về chúng) [30]. Đề tài này được tiến hành từ năm 1993 đến 1994 tại Viện
nghiên cứu sức khỏe tim mạch. Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp
định lượng với 5888 đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên. Mẫu này được chọn
ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: Quận Forsyth,
Sacramento, Washington và Allegheny. Nghiên cứu cho thấy các rào cản chủ yếu
là sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, các rào cản tâm lý và thể chất
khác … Nghiên cứu này khái quát thực trạng chăm sóc khỏe đối với NCT, những
rào cản tác động tới việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc của riêng nước
Mỹ. Chính những điều được chỉ ra từ nghiên cứu này có thể liên hệ tới những rào
cản trong hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT ở Việt Nam. Điều đó đặt ra sự quan
tâm lớn đối với những người làm nghiên cứu nói riêng và những nhà hoạch định
bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn. Mô hình này gợi cho
7
chúng ta những bài học kinh nghiệm khi áp dụng vào Việt Nam trong công tác
chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng.
- Ở Việt Nam, nhiều mô hình dành cho NCT đã ra đời, mỗi loại mô hình
hoạt động và hỗ trợ NCT theo những mục tiêu, cách thức khác nhau. Tất cả tạo
thành một mạng lưới tổng hợp trong công tác trợ giúp NCT ở Việt Nam. Hiện nay,
có thể chia thành 5 loại hoạt động mô hình chính như sau:
+1. Các mô hình Câu lạc bộ của NCT: Hầu như tại tất cả các tỉnh thành
đều có các câu lạc bộ của NCT. Hình thức các câu lạc bộ rất đa dạng, phong phú
và tập trung vào 3 nhóm chính:
Các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ: Câu lạc bộ thơ ca, chèo, đờn ca tài tử,
quan họ…
Các câu lạc bộ thể dục thể thao: Câu lạc bộ thể dục ngoài trời, bong bàn,
bóng chuyền, cầu lông, bơi lội…
Các câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe: Câu lạc bộ dưỡng sinh, thái cực
quyền…
+ 2. Các loại mô hình chăm sóc NCT: Xuất phát từ nhu cầu về chăm sóc
sức khỏe cho NCT, các loại hình chăm sóc NCT tương đối phát triển và hỗ trợ rất
tích cực cho NCT trong cuộc sống. Một số loại hình chăm sóc NCT:
Tình nguyện viên chăm sóc NCT tại cộng đồng: Trong hoàn cảnh nhiều
nước trên thế giới đang bước vào thời kỳ “già hóa dân số”, số NCT cần được chăm
sóc ngày càng tăng cao vì thế nhiều nước đã lựa chọn những giải pháp chăm sóc
thay thế tại nhà thay vì mở rộng các trung tâm dưỡng lão tập trung vì loại hình này
cần đầu tư lớn, thu phí cao. Hình thức chăm sóc tại nhà và các hình thức dựa vào
cộng đồng có ưu điểm là chi phí ít, hiệu quả lớn và phù hợp với mong muốn của
NCT.
8
NCT Việt Nam là một điển hình hoạt động có hiệu quả trong loại hình hoạt động
này.
Trung tâm dịch vụ đào tạo, giới thiệu người chăm sóc NCT: Trong bối
cảnh NCT đang ngày càng tăng và tuổi thọ tăng cao, nhu cầu được chăm sóc ngày
càng lớn, nhiều gia đình rất cần thuê người chăm sóc NCT. Đặc biệt, khi NCT bị
ốm nặng phải nằm viện lâu ngày cũng rất cần thuê người trợ giúp chăm sóc. Trong
thực tế, số gia đình thuê người giúp việc rất nhiều nhưng hầu hết không được đào
tạo về chuyên môn chăm sóc NCT, giữa những người giúp việc và chủ nhà chỉ là
các thỏa thuận miệng về quy định và tiền lương, do vậy thường các hợp đồng
miệng này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và không ít chuyện phức tạp xảy ra.
Để đáp ứng nhu cầu trên, một số hình thức dịch vụ môi giới người giúp
việc đã ra đời (kể cả làm việc nhà, chăm sóc trẻ em, NCT, bán hàng…), chủ yếu là
tư nhân, không được đăng ký và không được quản lý. So với nhu cầu thực tế thì
loại hình hoạt động này còn nhiều hạn chế, quá yếu và thiếu. Thị trường rất thiều
người muốn làm công việc chăm sóc NCT, mặc dù được tả lương không thấp. Đặc
biệt là chưa có được sự định hướng, hỗ trợ và quản lý từ phía nhà nước.
+ 3.Mô hình câu lạc bộ Đồng cảm và liên thế hệ tự giúp nhau: Các câu lạc
bộ này được thành lập từ một số dự án do Tổ chức Hỗ trợ NCT hướng dẫn kỹ thuật
và được tài trợ từ các tổ chức quốc tế (Dự án VIE011 do tổ chức Lottery Fund của
Anh tài trợ, Dự án VIE014 do EU tài trợ, Dự án VIE0114 do tổ chức Từ thiện
Atlantic của Hoa Kỳ tài trợ (2005-2014).[25]
Câu lạc bộ Đồng Cảm: Câu lạc bộ Đồng Cảm được thành lập theo dự án
VIE011 dưới sự bảo trợ của Hội NCT Quốc tế nhằm hỗ trợ cho nhóm cha mẹ có
con nhiễm HIV, những người có hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV. Câu lạc bộ vừa
là nơi sinh hoạt chung của nhóm cha mẹ, vừa chăm sóc sức khẻo, thể dục thể thao,
văn nghệ cho các thành viên. Năm 2010, cả nước có 67 Câu lạc bộ Đồng Cảm ở 4
10
đều do nhà nước quản lý và đài thọ.
Trung tâm bảo trợ xã hội: Trung tâm bảo trợ xã hội nhận chăm sóc các
đối tượng là NCT cô đơn, không nơi nương tựa, người tàn tật, trẻ mồ côi…Các
trung tâm này do nhà nước quản lý. Tuy nhiên hoạt động của các trung tâm gặp rất
nhiều khó khăn: nguồn kinh phí eo hẹp (theo quy định tối thiểu mức chi cho 1
người là 360.000 đồng/tháng); hiệu quả bảo trợ không cao. Cơ sở vật chất của các
trung tâm nghèo nàn, mới chỉ lo đủ nhu cầu tối thiểu cho NCT, các nhu cầu khác
như khám sức khỏe, các hoạt động văn hóa, tinh thần hết sức nghèo nàn. Hình thức
nuôi dưỡng tập trung dài hạn này bộc lộ nhiều hạn chế với chi phí cao, hoạt động
kém hiệu quả. Hiện nay, Bộ Lao động Thương binh Xã hội đang nghiên cứu và
tiến hành chuyển đổi thành các trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đẩy
mạnh các hình thức chăm sóc dựa vào cộng đồng để thay thế. Ngoài ra, còn có các
trung tâm do tư nhân, các cơ sở từ thiện, nhà chùa…nhận chăm sóc NCT. Tuy
nhiên hoạt động của các cơ sở này không ổn định, tạm bợ, hiệu quả thấp.
Nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc có thu phí: Các trung tâm chăm sóc
NCT có thu phí đều là các cơ sở tư nhân. Xuất phát từ nhu cầu xã hội nên các cơ
sở này hướng đến phục vụ những NCT có điều kiện kinh tế hoặc con cái có điều
kiện nhưng bận làm ăn. Mức phí phụ thuộc vào chất lượng và mức độ chăm sóc
của trung tâm. Hiện nay, số lượng nhà dưỡng lão tư nhân còn rất hạn chế lại thiếu
cơ chế quản lý nên chưa có các quy định về tiêu chuẩn, chưa có sự giám sát của cơ
quan quản lý nên chất lượng còn nhiều hạn chế. Do nhà nước không có chính sách
hỗ trợ nào đối với loại hình dịch vụ này nên giá cả còn cao so với đại đa số NCT
trong xã hội.
Nhà xã hội: Năm 2004-2005, Bộ Lao động Thương binh Và Xã hội đã
quyết định tài trợ “Mô hình nhà xã hội tại cộng đồng chăm sóc NCT cô đơn không
12
nơi nương tựa” ở 3 tỉnh Nam định, Huế, Bến Tre do Trung ương Hội NCT và
trung tâm RECAS thực hiện.[25] Dự án hướng đến các hoạt động:
nghiên cứu Y- Xã hội học trong giai đoạn 2002 – 2012 đã thực hiện rà soát các
chương trình, mô hình chặm sóc, phát huy vai trò NCT và đưa ra những phân tích,
tổng hợp thông tin về các mô hình chăm sóc và phát huy vai trò của NCT đã và
đang có ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 -2012 do các cơ quan, tổ chức của chính
phủ, tổ chức phi chính phủ, …Trong báo cáo tập trung chỉ ra những điểm mạnh,
phù hợp cũng như khó khăn, thách thức và những khoảng trống của những mô
hình trong bối cảnh xã hội Việt Nạm hiên nay.
- Tác giả Dương Chí Thiện đã đề cập tới các vai trò của gia đình, của các
tổ chức xã hội và hệ thống y tế đối với vấn đề chăm sóc NCT trong bài nghiên cứu
“một số vấn đề chăm sóc sức khỏe NCT hiện nay”. Vai trò của gia đình trong
chăm sóc NCT: Gia đình có vai trò rất to lớn trong đảm bảo mọi mặt cho toàn bộ
cuộc sống NCT. Các quan hệ gia đình như quan hệ giữa cụ ông cụ bà, quan hệ
giữa các cụ và con cháu có ảnh hưởng rất to lớn đến tình cảm, tâm trạng của NCT.
Tuy nhiên 1 vấn đề đang được đặt ra hiện nay là số lượng NCT phải sống cô đơn
ngày càng gia tăng mặc dù con cái của họ đang sống.(vì nhiều lý do không thể
chăm sóc các cụ) hoặc họ không có con cái khi họ ốm đau già yếu.
Vai trò của các tổ chức xã hội trong chăm sóc NCT: cùng với việc coi gia
đình như một cơ sở quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội đối với NCT thì các
tổ chức xã hội, các nhóm xã hội đóng một vai trò không nhỏ trong việc chăm sóc
NCT. Các tổ chức, nhóm xã hội được thành lập thỏa mãn nhiều nhu cầu được đặt
ra trong đời sống của NCT.
Vai trò của hệ thống y tế đối với sức khỏe NCT: Với việc thực hiện chế độ
bảo hiểm y tế cho NCT, tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đó là bước tiến quan trọng
14
và cơ bản của nước ta trên con đường thực hiện một hệ thống chăm sóc sức khỏe
NCT phù hợp với quá trình phát triển của xã hội hiện nay.
- Trong nghiên cứu “NCT cô đơn và những vấn đề đặt ra trong chính sách
xã hội” của Mạc Tuấn Linh: Trong hệ thống an sinh xã hội của bất kỳ quốc gia
những bài học kinh nghiệm, những cách làm tốt phục vụ cho quá trình xây dựng và
triển khai chương trình chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa khoa học
Với kết quả nghiên cứu đạt được luận văn sẽ thể hiện rõ được hai khía
cạnh sau:
- Thứ nhất, tính ứng dụng của công tác xã hội trong việc chăm sóc sức
khoẻ cho NCTdựa vào cộng đồng. Các lý thuyết, phương pháp, công cụ công tác
xã hội trong chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng nói chung và tại xã Hợp Hưng
huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định nói riêng.
- Thứ hai, kết quả nghiên cứu góp phần hình thành một cách nhìn mới về
vấn đề chăm sóc sức khoẻ NCT dựa vào cộng đồng thông qua việc tìm hiểu mô
hình tư vấn và chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng.xã hội học… được vận
dụng trong quá trình viết luận văn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với Nhà nước:
• Kết quả nghiên cứu này đóng góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ vai
trò của nhân viên xã hội tại cơ sở từ đó nâng cao vai trò nhân viên xã hội tại cơ sở.
• Đồng thời, kết quả nghiên cứu đạt được giúp Nhà nước có những cái
nhìn khách quan, toàn diện hơn nữa trong việc chăm sóc sức khoẻ cho NCT dựa
18
vào cộng đồng. Từ đó, có những đề xuất khuyến nghị phù hợp trong việc chăm lo
sức khoẻ cho NCT.
- Đối với NCT: được hưởng các quyền lợi về chăm sóc sức khỏe , có thể
tiế p câ ̣n các chính sách một cách chủ động hơn.
- Đối với người triển khai và duy trì mô hình: Hiểu hiểu rõ vấn đề và đưa
ra những biện pháp không chỉ duy trì mà còn phát triển mô hình một cách toàn
diện hơn.
hình
- Các bác sỹ, điều dưỡng, y tá trực tiếp tham gia mô hình
- Đại diện Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (KHHGD) tỉnh Nam
Định, lãnh đạo xã Hợp Hưng có liên quan trực tiếp đến việc triển khai mô hình.
- Nhân viên xã hội trực tiếp tham gia vào mô hình.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tại xã Hợp Hưng huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.
- Thời gian dự kiến: Từ tháng 01/2017 đến tháng 07/ 2017.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu mô hình chăm sóc NCT
dựa vào cộng đồng. Trong luận văn này lựa chọn nghiên cứu những hoạt động
chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn hướng tìm hiểu các
câu hỏi sau:
20
1. Mô hình tư vấn và chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng tại xã
Hợp Hưng được triển khai với những nội dung và hình thức hoạt động như thế
nào?
2. Nhân viên xã hội có vai trò gì trong hoạt động mô hình tư vấn và chăm
sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng tại xã Hợp Hưng?
3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mô hình tư vấn và chăm sóc sức khỏe
NCT dựa vào cộng đồng tại xã Hợp Hưng?
8. Giả thuyết nghiên cứu
1. Hoạt động tư vấn chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng tại xã
Hợp Hưng chủ yếu tập trung triển khai các hoạt động tư vấn, chăm sóc sức khỏe
thể chất.
2. Nhân viên xã hội có vai trò là người giáo dục, người kết nối, người biên
Vụ Bản, 01 thành viên hội Phụ nữ xã HợpHưng, 01 thành viên hội Cựu chiến binh,
01 thành viên Đoàn thanh niên, 02 nhân viên y tế xã, 02 nhân viên xã hội nòng cốt
và 05 NCT trong đó có 03 NCT tham gia và 02 NCT không tham gia mô hình tư
vấn và chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng.
Nội dung phỏng vấn sâu để tìm hiểu cuộc sống, những mối quan tâm, yếu
tố ảnh hưởng đến sức khỏe NCT; đánh giá thực trạng hoạt động tư vấn và chăm
sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng; những nhu cầu cần được tư vấn và hỗ trợ
sức khỏe của NCT hiện nay; những khó khăn, thuân lợi khi thực hiện mô hình tư
vấn và chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng; tác động và vai trò của công
tác xã hội trong việc triển khai và duy hoạt động mô hình.
22