Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức của học sinh ở trường THCS
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Cán bộ quản lý trường THCS.
3. Tác giả:
Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
Ngày tháng/năm sinh: Trình độ chuyên môn: Đại học.
Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng trường THCS
Điện thoại:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Đơn vị: Trường THCS
Địa chỉ:
Điện thoại:
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Trường THCS THCS
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2012 - 2013.
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
XÁC NHẬN CỦA HĐ KHOA HỌC HUYỆN
TRƯỞNG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
2.1. Điều kiện.
Áp dụng trong quản lý đối với các trường bậc THCS
2.2. Thời gian.
Thời gian áp dụng sáng kiến từ năm học 2012 - 2013 đến năm học
2014-2015
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến.
Cán bộ quản lý bậc THCS
3. Nội dung sáng kiến.
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
- Giúp cho các nhà quản lý các trường THCS trên địa bàn huyện Bình
Giang hiểu rõ hơn những cơ sở lí luận và thực tiển trong công tác GDĐĐ cho
HS, từ đó có sự nghiên cứu thật sự nghiêm túc và khoa học về việc GD toàn diện
cho HS, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tệ nạn xã hội đang từng giờ
từng phút xâm nhập vào trường học, nạn bạo lực học đường và từ đó nâng cao
kỹ năng sống cho HS.
- Giúp các nhà quản lý GD các nhà trường nhà thấy rõ hơn những nguyên
nhân đã gây ra sự suy giảm về đạo đức của một bộ phận HS, nguyên nhân gây ra
nạn bạo lực học đường đặc biệt là tìm ra “huyệt” của vấn đề, từ đó quản lý các
nhà trường phải tích cực đổi mới công tác quản lý để tìm ra những giải pháp hiệu
quả cho công tác GDĐĐ cho HS.
- Đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ hướng vào mục tiêu đổi mới công
tác quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong trường
THCS hiện nay.
3. 2. Khả năng áp dụng sáng kiến.
Sáng kiến được nghiên cứu và áp dụng thành công tại trường tôi công
tác nói riêng và có thể áp dụng cho các trường THCS khác trên địa bàn nói
chung.
GDĐĐ để các trường học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau;
- Đối với địa phương: Chính quyền và các tổ chức xã hội ở địa phương cần
phối kết hợp và hỗ trợ nhà trường về điều kiện vật chất, phối hợp tốt với nhà
trường trong công tác tạo môi trường lành mạnh, an toàn xung quanh trường học
để giúp công tác GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả tốt nhất;
4
Phần 2
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Cơ sở khoa học của sáng kiến
1.1. Đạo đức và chức năng của đạo đức
1.1.1.Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp
với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ
người và người và con người với tự nhiên.
1.1.2.Chức năng đạo đức
Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức
một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác
động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức
có chức năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển
xã hội. Đạo đức có những chức năng sau:
- Chức năng giáo dục.
- Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công
cụ tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
- Chức năng phản ánh.
1.2. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS
1.2.1.Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo
1.2.2.2.Phương pháp rèn luyện
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện
cho các em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm
đạo đức của các em thành hành động thực tế:
- Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà
trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập
thể.
- Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường
là biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích
thích bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành
6
người có đạo đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và
động viên học sinh tham gia tốt phong trào này.
- Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ
hoạt động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính
ham hoạt động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu
nào đó bằng cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo
trẻ ra ngoài những tác động có hại.
1.2.2.2.Phương pháp thúc đẩy
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo
đức bên ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên
trong” của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.
- Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với
học sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân
theo để có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường.
- Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học
sinh làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến
1.3.2.Thực trạng của nhà trường nơi tôi công tác
Phần lớn HS ở trường nơi tôi công tác đều chăm ngoan, có ý thức rèn
luyện đạo đức tốt, HS xếp loại đạo đức loại tốt, khá chiếm tỷ lệ khá cao và
tăng lên các năm nhất là HS có hạnh kiểm tốt. Xếp loại hạnh kiểm của HS
loại trung bình chiếm một tỷ lệ thấp theo thứ tự các năm, đặc biệt là trong 03
năm trở lại đây tỷ lệ học sinh hạnh kiểm yếu giảm rõ rệt. Nhưng nếu nhà
trường chủ quan, không có những biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS một cách
phù hợp thì tỷ lệ HS vi phạm chuẩn đạo đức có thể tăng lên.
Trong ba năm qua sau khi khảo sát những vi phạm của HS ở trường
nơi tôi công tác, tôi liệt kê ra biểu hiện vi phạm đạo đức của HS như sau :
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nội dung vi phạm
Nói chuyện riêng, gây mất trật trong lớp học
Nghỉ học không phép, đi học muộn,..
Lười học, không thuộc bài
Xích mích, gây gỗ, đánh nhau.
Mê chơi game, trò chơi điện tử, facebook…..
Gian lận trong kiểm tra, thi cử
Nói tục, chửi thề,…
Do CMHS chưa gương mẫu
4
Do tác động tiêu cực của xã hội
5
Do HS học yếu kém
6
Do cách GD chưa phù hợp (nặng dạy chữ, nhẹ dạy người).
Qua khảo sát cho ta thấy: Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến đạo đức
học sinh trường bị sa sút do sự tác động nhiều mặt ở trong và ngoài nhà
trường như:
Trên địa bàn các xã lân cận huyện có nhiều nhà máy, công ty được hình
thành kéo theo nhiều người dân ở tỉnh ngoài đến sinh sống và làm việc. Một
số dịch vụ văn hóa thiếu lành mạnh (những tụ điểm cà phê không lành mạnh,
phim ảnh, dịch vụ Internet, bi da, quán nhậu…), đây là nguyên nhân quan
trọng dẫn đến tình trạng HS trốn học, bỏ tiết, gây gỗ đánh nhau, vi phạm pháp
luật. Ngoài ra, do HS mất kiến thức căn bản nên vào lớp thường không chú ý
10
nghe giảng, tâm lý chán học, nên nói chuyện riêng không chép bài, không
chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp.
Một số số GV chưa là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. Hiện tượng
giáo viên còn trễ tiết dạy; chưa gương mẫu trong tác phong và lời ăn, tiếng
nói; còn có giáo viên chưa chú trọng đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh;
việc cho điểm thiếu công bằng giữa HS học thêm và không học thêm vẫn còn
tồn tại.
Một số CMHS thật sự chưa gương mẫu cho con em, một số CMHS do
suốt ngày vất vả làm ăn, gia đình không hòa thuận, ly dị, không quan tâm con
cái chính những điều này đã góp phần vào sự sa sút đạo đức của các em trong
những hoàn cảnh như thế. Bên cạnh đó có nhiều ý kiến cho rằng sự quá tải
cuối Học kỳ I, cuối học kỳ II. Cuối mỗi cuộc họp Hiệu trưởng cần có thống
nhất về nội dung, đề ra được những hình thức và giải pháp thực hiện thích
hợp để GD và quản lý công tác GDĐĐ cho HS. Hiệu trưởng cần chuẩn bị chu
đáo kế hoạch thực hiện như: thời gian, địa điểm, nội dung, hình thức và biện
pháp thực hiện. Một số trong những nội dung cuộc họp có thể là: phân công
GVCN báo cáo tham luận về thực trạng tình hình vi phạm đạo đức của HS
và những biện pháp đã sử dụng để GDĐĐ cho HS. Phân công GV báo cáo
tham luận về những kinh nghiệm hay trong công tác GDĐĐ cho HS. Nêu hệ
thống câu hỏi gợi ý để các thành viên trong cuộc họp hay hội thảo có ý kiến,
bồi dưỡng thêm một số kiến thức cho CMHS trong công tác GD con của họ,
những kinh nghiệm hay của đơn vị bạn, ý kiến phát biểu của đại biểu tham
dự...
+ Vào đầu năm học Hiệu trưởng cần tổ chức tốt hội nghị để xác định
việc GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ cho HS là trách nhiệm của toàn
trường. Đồng thời Hiệu trưởng kết hợp với Công đoàn cơ sở tổ chức tốt các
cuộc vận động phong trào thi đua trong suốt năm học như : “Mỗi thầy cô giáo
là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; “Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực”; cuộc vận động “Hai không”; cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”… để thực hiện GD toàn diện và
nâng cao chất lượng GD của nhà trường.
12
+ Chỉ đạo thực hiện đầy đủ về chương trình giáo dục hướng nghiệp,
chương trình rèn luyện kỹ năng sống …để HS có thể định hướng nghề nghiệp
của mình và chọn nghề thích hợp sau khi học xong chương trình THCS.
+ Có kế hoạch phối hợp với phòng Tư pháp, Công an, Huyện Đoàn,
Hội Cựu Chiến binh… tổ chức tốt các buổi nói chuyện chuyên đề hay tổ
chức các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, an toàn giao thông, phòng chống tệ
+ Tổ chức nhiều chuyên đề ngoại khóa như: tuyên truyền về những tác
hại, hậu quả và cách phòng tránh các tệ nạn xã hội; phòng chống thảm họa và
bảo vệ môi trường; bồi dưỡng những kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý lứa
tuổi THPT, GD về giới tính, GD về bình đẳng giới, GD về kỹ năng sống và
ứng xử trong cuộc sống.
+ GVCN cần quán triệt một cách sâu sắc cho HS hiểu giữa đạo đức và
tài năng là hai vấn đề cần thiết phải có, bởi theo Bác Hồ: “Có tài mà không có
đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Từ
đó giúp HS thấy được nhiệm vụ không chỉ vươn lên trong học tập mà còn
phải biết tự rèn luyện hạnh kiểm cho thật tốt thì sau này mới trở thành con
người toàn diện. Tất cả việc GD này phải được thực hiện một cách thường
xuyên và lâu dài trong các buổi sinh hoạt chào cờ đầu tuần; trong các tiết sinh
hoạt chủ nhiệm; trong giảng dạy môn GDCD và các môn văn hóa khác; trong
các tiết GDNGLL, các buổi thực hành rèn luyện kỹ năng sống; trong các buổi
sinh hoạt truyền thống nhân các ngày lễ lớn, trong các cuộc trao đổi, nói
chuyện với HS, trong các chương trình phát thanh học đường của nhà trường.
- Đối với cha mẹ học sinh:
Vào đầu năm học, nhà trường có kế hoạch tổ chức họp CMHS. Nội
dung, ngoài việc bình bầu Ban đại diện của trường, của lớp, triển khai những
văn bản của cấp trên về công tác giáo dục, kết quả chất lượng GD, những
thuận lợi và khó khăn trong công tác phối hợp để GDĐĐ trong năm học vừa
qua, nhằm tác động đến CMHS hiểu công tác GDĐĐ là công tác của toàn xã
hội, trong đó có vai trò của gia đình rất lớn. HT tham mưu và phối hợp với
chính quyền địa phương tùy vào thời điểm thích hợp mời những CMHS
không chịu phối hợp với nhà trường trong công tác GDĐĐ cho HS. Ngoài ra
Hiệu trưởng cần triển khai những văn bản có liên quan đến công tác GDĐĐ
cho HS và cung cấp thêm một số kiến thức về những vấn đề tâm lý để GD
14
15
khả thi và tính hiệu quả cao. Kế hoạch được triển khai đồng bộ trong các hoạt
động của nhà trường. Huy động được các lực lượng trong và ngoài nhà
trường cùng nhau phối hợp thực hiện. Làm sao cho số lượng HS vi phạm đạo
đức giảm, từng bước mang lại hiệu quả quản lý công tác GDĐĐ cho HS.
Muốn đạt hiệu quả cao trong việc quản lý GDĐĐ cho HS, Hiệu trưởng phải
lập kế hoạch riêng cho công tác này. Kế hoạch phải dựa trên cơ sở nội dung
GDĐĐ trong chương trình GDCD, chương trình hướng nghiệp, GDNGLL,
rèn luyện kỹ năng sống cho HS. Hiệu trưởng phải có cái nhìn toàn diện, sâu
sắc, những vấn đề thuộc công tác GDDĐ để lập kế hoạch có sát hợp với thực
tiển và có tính khả thi.
* Cách thực hiện giải pháp:
- Đầu mỗi năm học, Hiêu trưởng cần đưa ra một kế hoạch GDĐĐ
chung cho toàn trường, bảo đảm phù hợp với mục tiêu giáo dục và mang tính
khả thi. Bản kế hoạch phải được đưa ra bàn bạc, thảo luận và lấy ý kiến của
toàn thể Hội đồng giáo dục và cả CMHS trước khi đua vào thực hiện. Có kế
hoạch bồi dưỡng kiến thức về công tác GDĐĐ cho đội ngũ CB-GV là điều vô
cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS. Hiêu trưởng
có thể tổ chức những chuyên đề, hội thảo về công tác GDĐĐ cho HS bằng
cách mời các báo cáo viên nói chuyện về cách quản lý HS, những đặc điểm
tâm lý HS THCS và một số vấn đề khác liên quan đến HS. Có kế hoạch tổ
chức kiểm tra, đánh giá công tác GDĐĐ của các lực lượng trong nhà trường
và của HS theo nội dung đã định sẵn, bổ sung và điều chỉnh kế hoạch cho phù
hợp với tình hình thực tế. Sơ, tổng kết và tuyên dương khen thưởng, rút kinh
nghiệm trong công tác GDĐĐ cho HS vào mỗi tuần, học kỳ và cuối năm.
Chuẩn bị kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác GDĐĐ cho HS như: thư mời
CMHS đến họp, bảng tin thông báo kế hoạch, bảng tin thi đua, trang bị phòng
máy để ứng dụng công nghệ thông tin trong việc GDĐĐ và quản lý công tác
tập thể sư phạm nhà trường soạn thảo chuẩn thi đua nề nếp đối với các lớp và
bản nội qui đối HS, cho in thành văn bản và giao về cho GVCN các lớp triển
khai cho từng HS nắm rõ và thực hiện cho nghiêm túc. Nhà trường cho từng
HS viết bản cam kết không tham gia vào các tệ nạn xã hội, nhất là không vi
phạm việc phòng chống ma túy, không vi phạm các qui định về an toàn giao
thông. Hiệu trưởng phải nhận thức rằng mỗi buổi tập trung đầu tuần chính là
17
buổi học đạo đức, đây là một tiết học hiệu quả và sinh động về cách sống đẹp
và cách làm người tốt cho các em. Nội dung GDĐĐ thông qua các môn học là
một trong những biện pháp cần được áp dụng triệt để, nhất là môn GDCD.
Hiệu trưởng chỉ đạo giải quyết việc GDĐĐ thông qua hoạt động giảng dạy
các môn học và thực hiện trong quá trình học tại nhà trường.
2.3. Tổ chức, chỉ đạo quản lý công tác GDĐĐ cho HS
* Mục tiêu của giải pháp:
Xác định đúng lực lượng chủ yếu tham gia công tác GDĐĐ cho HS.
Đảm bảo thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của các lực
lượng tham gia GDĐĐ. Phát hiện, điều chỉnh, bổ sung nội dung kế hoạch cho
phù hợp với tình hình thực tế.
* Cách thực hiện giải pháp:
Tổ chức, chỉ đạo quản lý công tác GDĐĐ cho HS, đây là quá trình
phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm
bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. Trong việc chỉ đạo thực hiện kế
hoạch cần quán triệt thực hiện tốt hiệu quả GDĐĐ, do đó đối với giải pháp
này:
Nhà trường đã thành lập Ban GDĐĐ cho HS của trường, thành phần
gồm: Trưởng ban (Hiệu trưởng), các thành viên gồm: Bí thư và Phó bí thư
Đoàn TN, Ban đại diện CMHS, và một số GV nhiệt tình và có kinh nghiệm
trong công tác. Ban GDĐĐ cho HS có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chương
ngoan…có biện pháp giúp đỡ khi các em gặp khó khăn trong học tập, trong
sinh hoạt gia đình. Hiệu trưởng tham mưu với Chi bộ nhà trường, chỉ đạo các
đảng viên, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tham gia tích cực công tác
GDĐĐ cho HS.
* Đối với giáo viên bộ môn:
Hiệu trưởng luôn lưu ý GVBM, ngoài việc truyền thụ kiến thức văn
hóa cho HS trên lớp còn phải biết thông qua những tiết học, bằng phương
pháp lồng ghép hay tích hợp còn có thể GDĐĐ cho HS những điều hay lẽ
phải, biết từ xa cái xấu, hướng về cái thiện, cái mỹ ( đặc biệt là GV dạy các
môn GDCD, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý). Ví dụ:
Môn GDCD: thông qua những tiết học, GV sẽ giáo dục cho HS nắm
được những nội dung về pháp luật của Nhà nước để các em thực hiện cho tốt,
19
hay các em phải biết được những nhân cách nào cần có của người công dân
trong giai đoạn mới..
Môn Ngữ văn: thông qua những câu chuyện, những nhân vật trong bài
giảng, GV phân tích cho HS phải sống, phải làm như thế nào để mọi người
luôn yêu mến, khâm phục…
Môn Lịch sử: thông qua những bài học lịch sử, GV có thể giáo dục cho
HS cảm nhận được những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta và của những
Anh hùng, Liệt sỹ để từ đó HS thấy được trách nhiệm của mình là phải biết
phát huy những truyền thống đó.
Môn Địa lý: thông qua những tiết học GV có thể giáo dục cho HS phải
biết bảo vệ môi trường, phải biết bảo quản cây xanh, luôn hướng về biển đảo
thân yêu và từ đó thấy được trách nhiệm của mình…
Mặt khác GVBM phải luôn trau dồi năng lực chuyên môn “Mỗi thầy cô
là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, luôn có cái tâm trong giảng dạy,
luôn phục vụ hết mình “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Tích cực đổi mới
thì GVCN chính là chiếc cầu nối để thông tin đến những lực lượng này về
những vấn đề mà HS quan tâm để có cách giải quyết một cách thích hợp cho
HS hiểu hơn.
- Xây dựng tốt quy chế tự quản cho HS trong các hoạt động như: tổ
chức học nhóm, lao động, sinh hoạt tập thể, khi GV vắng không đến lớp, sinh
hoạt đầu giờ học, truy bài, hội thảo… Phối hợp tốt với tổ chức Đoàn TN tổ
chức tốt phong trào thi đua hàng tuần theo từng chủ điểm trong năm. Có sơ
kết hàng tuần theo từng đợt phong trào theo từng chủ điểm. Mỗi chủ điểm cần
có kế hoạch một cách cụ thể: xác định mục tiêu nào là trọng tâm, có thang
điểm cụ thể, quy chế đánh giá và xếp hạng rõ ràng theo từng tuần.
- Tùy theo tình hình hoạt động của lớp mà GVCN cần xây dựng quy
chế thi đua giữa các tổ trong lớp một cách cụ thể và chi tiết hơn. Qua việc tổ
chức thi đua của HS và sinh hoạt các chủ điểm trong năm học, GVCN cần
GD cho HS tinh thần tập thể “Mình vì mọi gười, mọi người vì mình”, GD
lòng yêu quê hương đất nước, nhớ ơn các vị anh hùng dân tộc, ý chí phấn đấu
vươn lên trong học tập, tham gia tích cực các phong trào, chấn chỉnh tác
phong, nề nếp sinh hoạt. Có kế hoạch từng bước xây dựng những truyền
21
thống tốt đẹp của lớp, các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó
được lặp đi lặp lại và trở thành thói quen tốt trong quá trình thực hiện.
- Phối hợp với các lực lượng trong nhà trường có biện pháp giúp đỡ
những HS học yếu, kém, có biện pháp GD và xử lý đối với HS vi phạm đạo
đức nhiều lần một cách có hệ thống để vừa có tính GD nhưng lại vừa có tính
chất ngăn ngừa đối với những HS khác. Có như vậy, việc thực hiện những
quy định và nội quy nhà trường mới có tính chất nghiêm minh. Nếu công tác
thi đua này thực hiện được một cách thường xuyên, kết hợp với nội dung thi
đua của lớp sẽ góp phần rất lớn trong công tác GDĐĐ cho HS. Phối hợp tốt
GDNGLL; tổ chức cho HS cam kết thực hiện tốt về an toàn giao thông, phòng
chống ma túy; thực hiện nói không với tiêu cực trong thi cử; tổ chức tốt việc
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức rèn luyện đoàn
viên,thông qua các hoạt động tạo điều kiện cho Đoàn TN hoạt động qua đó
rèn luyện thói quen, hành vi ứng xử đạo đức cho HS.
- Có kế hoạch tổ chức nhiều chương trình có nội dung, hình thức, biện
pháp phong phú, đa dạng, phù hợp với lứa tuổi nhằm GDĐĐ cho HS được
thực hiện trong chương trình phát thanh học đường, chào cờ đầu tuần, cắm
trại, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao,... Qua đó, giúp HS nhận
thức được các hành động, hành vi đạo đức sai trái cần phê phán; đồng thời
giúp HS tự tìm ra cách để tránh vi phạm, biết yêu thương, tương thân, tương
ái và sống lành mạnh, không vi phạm nội qui nhà trường và qui định Nhà
nước.
- Việc GDĐĐ cho HS phải gắn liền với rèn luyện thói quen hành vi đạo
đức. Điều này, đòi hỏi Hiệu trưởng cần chỉ đạo cho cán bộ Đoàn phải có kế
hoạch hàng năm tổ chức cho HS tham gia các hoạt động xã hội như: chăm sóc
mộ nghĩa trang liệt sĩ, quét dọn các khu tưởng niệm, thăm hỏi các Bà mẹ Việt
Nam anh
hùng, những gia đình thương binh, liệt sĩ, vận động quỹ hỗ trợ
những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, dọn vệ sinh trong và ngoài nhà
trường, tổ chức tham quan các di tích lịch sử. Qua chuyến đi, Đoàn có kế
hoạch cho HS viết những bài cảm tưởng và suy nghĩ của các em về những
việc đã làm, hoặc suy nghĩ về những người có dịp được gặp gỡ. Từ việc làm
này, đã giáo dục được cho HS biết nhớ ơn những người đã hy sinh, những
23
24
học tập, lao động, vui chơi, điều khiển hoạt động GDNGLL,.. biết tự điều
chỉnh hoạt động của tập thể lớp khi cần thiết để đạt được hiệu quả tốt trong
quá trình thực hiện.
- GVCN cần phối hợp với GVBM, cán bộ Đoàn TN giúp HS tổ chức
các hoạt động GDNGLL theo kế hoạch của trường, của lớp. Các hoạt động
GD phải kết hợp với các hoạt động vui chơi giải trí với nội dung và hình thức
phong phú, tạo một tâm lý thoải mái, thu hút mọi đối tượng trong lớp cùng
tham gia, đồng thời phải đảm bảo tính giáo dục về truyền thống yêu nước,
lòng nhân ái, có ý thức vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức. Qua đó,
GVCN cũng có thể phát hiện những HS có hành vi sai trái như: thiếu tinh
thần tập thể, tính ích kỷ chỉ biết đến quyền lợi cá nhân, ý thức học tập kém,
lời nói-thái độ-hành động chưa chuẩn.. Đây là dịp để GVCN hiểu HS của
mình hơn, có cách đều chỉnh những hành vi sai lệch với từng đối tượng của
HS.
- Trong quá trình giao nhiệm vụ cho HS, GVCN, GVBM và tổ chức
cán bộ lớp, cán bộ Đoàn chỉ đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, gợi mở cho HS,
phải để cho HS tự vạch ra kế hoạch, tự tổ chức về hoạt động nào đó, mặc dù
bước đầu có thể là không thành công. Tuy nhiên, trong mỗi lần không thành
công đó GVCN, GVBM và tổ chức Đoàn TN hướng dẫn HS nguyên nhân nào
không thành công, để HS tự đánh giá được những gì đã làm được, những gì
chưa làm được và cần bồi dưỡng về năng lực gì chẳn hạn như: năng lực chỉ
huy; điều hành lớp nhằm thu hút, lôi cuốn tập thể lớp tham gia một cách tích
cực và chủ động vào các hoạt động của lớp.
- Nhà trường kết hợp với Đoàn TN, Huyện Đoàn mở các lớp bồi dưỡng
kiến thức, kỹ năng tự quản cho cán bộ lớp với các nội dung: phương pháp
theo dõi, tự đánh giá, tự phê bình góp ý cho tập thể lớp và cá nhân HS, tiêu
chuẩn đánh giá lớp, cách làm các loại sổ sách, các loại biểu mẫu báo cáo, cách