Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở việt nam hiện nay - Pdf 52

1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch không chỉ là một xu thế, mà đã trở thành một thực tế trong
cuộc sống con người. Du lịch là hoạt động tinh thần giúp con người cân bằng
cuộc sống, gắn kết các mối quan hệ và giúp con người tiếp cận với thiên
nhiên, văn hóa,.. của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, nhiều khu vực địa lý và
vùng lãnh thổ khác nhau. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu sôi động, tỉ lệ thuận
với sự phát triển nhanh của các ngành công nghiệp, môi trường cũng bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Nhu cầu du lịch đến những khu vực có môi trường
xanh, trong lành, thưởng thức văn hóa phong phú như văn hóa ẩm thực, văn
hóa tinh thần, văn hóa ứng xử,… ngày càng tăng lên. Vì vậy, ngành công
nghiệp không khói- tên gọi không chính thức của ngành du lịch đã ra đời, và
giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Ngành du lịch còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự trưởng
thành của các nước đang phát triển. Tổ chức Du lịch thế giới Liên hợp quốc
nhận định rằng: “tại nhiều quốc gia đang phát triển, du lịch là nguồn thu nhập
chính, ngành xuất khẩu hàng đầu, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội cho
sự phát triển” (WTO-HL2008). “Du lịch là phương tiện chuyển giao của cải
tự nguyện lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo…. Khoản tiền do
du khách mang lại cho các khu vực nghèo khổ trên thế giới còn lớn hơn viện
trợ chính thức của các chính phủ”1
Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển
nhanh trong thập niên qua. Sự góp phần của nguồn thu từ du lịch vào GDP và
cán cân thanh toán trở nên đáng kể và ngày càng gia tăng. Với các lợi thế về
giá cả, nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa khá phong phú, nguồn nhân lực
dồi dào, và là điểm đến mới, Việt Nam hiện là quốc gia đang thu hút một số
1 Lelei Lelaulu, Chủ tịch Đối tác quốc tế, Diễn đàn Du lịch Thế giới vì Hòa bình và phát triển bền vững,
Brazil, 2006




3

Mục đích mà tác giả hướng tới khi thực hiện luận văn là làm rõ những vấn đề
lí luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, nội dung của pháp luật, và đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết gồm:
Một là, tìm hiểu một số vấn đề lí luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động
du lịch, ý nghĩa của hoạt động này, ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối
với hoạt động này, cũng như cấu trúc pháp luật về hoạt động này ở Việt Nam hiện
nay;
Hai là, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành bảo vệ môi
trường trong hoạt động du lịch. Trong quá trình tìm hiểu quy định của pháp luật, luận
văn lồng ghép một số thực tiễn về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, quản lý
nhà nước đối với hoạt động này. Đồng thời, đánh giá các ưu điểm và hạn chế của các
quy định này;
Ba là, từ việc nghiên cứu trên đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, đáp
ứng yêu cầu của thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch có thể được xem
xét dưới góc độ môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ của luận văn, theo khái niệm môi trường của Luật bảo vệ
môi trường 2014 thì môi trường nhân văn không thuộc môi trường vật chất tự
nhiên và nhân tạo nên tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu theo khái niệm
môi trường của Luật Bảo vệ môi trường 2014.
Đây là đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch. Vì thế, tác giả tập trung nghiên cứu
các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Du lịch 2005,… và các văn bản

TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.1 Khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch
Việt Nam là đất nước giàu tiềm năng du lịch, ngành du lịch Việt Nam
đang dần khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tếxã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành du lịch Việt
Nam cũng tạo ra những tác động mạnh mẽ và gây ảnh hưởng đến môi trường,
đặc biệt là những khu vực diễn ra hoạt động du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới WTO, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt
động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám
phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn
cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác, trong thời gian liên
tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, loại trừ
các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005: “du lịch là hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định”.
Với những định nghĩa trên, có thể thấy bản chất của hoạt động du lịch
là:
Thứ nhất, nói đến du lịch là nói đến sự di chuyển của con người từ địa
điểm này sang địa điểm khác với những mục đích đa dạng và bằng các
phương tiện khác nhau. Sự di chuyển này của con người là liên tục, vì vậy
hoạt động du lịch là không bao giờ ngừng.
Thứ hai, có nhiều chủ thể liên quan đến hoạt động du lịch. Đó là
khách du lịch và các chủ thể tiến hành các dịch vụ liên quan đến du lịch.
Khách du lịch xét về bản chất thì họ là những người di chuyển từ nơi ở


6

thường xuyên của mình đến những địa điểm khác nhau với mục đích tham

quả nghiêm trọng cho môi trường. Có thể thấy như:
Du lịch ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành
công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn
cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương.
Nước thải: Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách
sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực
lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán,
đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại
cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản.
Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch.
Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ
cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội.
Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói",
nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe
máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây
hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và
bê tông.
Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không
hiệu quả và lãng phí.
Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du
khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả
động vật hoang dại.
Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do
khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù
hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng
cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém


8



giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có
nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch.
Để phát triển môi trường và du lịch bền vững, bảo vệ môi trường để
phát triển du lịch và phát triển du lịch phải bảo vệ môi trường, yêu cầu về bảo
vệ môi trường trong hoạt động du lịch được đặt ra.
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 “hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu
đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải
thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
nhằm giữ môi trường trong lành”. Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài
nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước,
có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện
việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức
khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ Môi trường 2014
ghi rõ trong Ðiều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức,
cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ
môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường".
Nguy cơ môi trường bị hủy hoại với những hậu quả nghiêm trọng của
nó đã buộc các quốc gia, trong đó có Việt Nam chú ý hơn đến những biện
pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường. Nhiều biện pháp kinh tế, xã hội được
triển khai nhằm thực hiện việc bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là yếu
tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và vì thế nó được
thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ cá nhân, cấp độ cộng đồng,
cấp độ địa phương- vùng, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế. Môi trường có
ảnh hưởng tới bất cứ cá nhân nào. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường phải được
coi là công việc của từng cá nhân. Mỗi cá nhân có trách nhiệm thực hiện đúng




11

đã thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và công cụ cưu cánh,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác
phát triển. Chính vì ý nghĩa to lớn như vậy, các quốc gia này, ở phạm vi và
mức độ khác nhau, đã tập trung đầu tư các nguồn lực cũng như ban hành
các thể chế, chính sách liên quan nhằm nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho ngành du lịch phát triển.
Ngành du lịch góp phần vào sự phát triển của đất nước. Hoạt động
du lịch cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho chính quyền và cộng đồng dân
cư địa phương. Đó là việc tạo ra nguồn thu nhập bền vững và tương đối ổn
định cho người dân, một số dịch vụ du lịch địa phương được cải thiện
thông qua việc giao lưu, tiếp xúc với nhiều khách du lịch từ khắp nơi,
thông qua các dự án cải tạo được thực hiện tại địa phương. Cũng thông
qua các hoạt động du lịch, việc trao đổi, giao lưu văn hóa cũng được thực
hiện theo chiều hướng tích cực. Việc du khách ham thích tìm hiểu các tập
tục địa phương cũng làm cho người dân bản địa tự hào và từ đó có thể trau
dồi, tăng cường bản sắc văn hóa của vùng miền mình. Những giá trị này sẽ
làm cho người dân và chính quyền địa phương nhận thức được về những
giá trị kinh tế mà tài nguyên du lịch mang lại cho cộng đồng. Việc bảo vệ
các tài nguyên du lịch, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần
môi trường tại các khu du lịch, điểm du lịch được xem như bảo vệ các giá
trị kinh tế của địa phương và gìn giữ thu nhập ổn định cho người dân. Rõ
ràng môi trường sạch đẹp, tài nguyên du lịch được quan tâm cải tạo và
phát triển sẽ có sức hấp dẫn hơn đối với khách du lịch.
Hơn nữa, sự giới thiệu và quảng bá về phong cảnh, về những giá trị
của tài nguyên du lịch của khách du lịch với nhau cũng góp phần làm cho
người dân và chính quyền địa phương thấy được tầm quan trọng của việc
duy trì và gìn giữ những tài nguyên du lịch của địa phương.

- Tăng lượng khí thải, tăng nguy cơ gây ô nhiễm không khí:


13

Hiện nay, Việt Nam có hàng trăm ngàn phòng khách sạn (chưa kể số
phòng tại nhà khách, nhà trọ), tập trung ở các đô thị du lịch. Nếu chỉ tính các
thiết bị điều hòa nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn, nhà hàng thì có thể
thấy được lượng điện năng tiêu thụ lớn như thế nào. Các máy điều hòa nhiệt
độ hoạt động với các chất lỏng gây lạnh. Chất lỏng này có khả năng làm tăng
nhiệt độ gấp 2.000 lần so với CO2- loại khí thải nhà kính được biết đến nhiều
nhất2.
Phương tiện vận chuyển khách du lịch (chưa kể đến các phương tiện
giao thông khác và phương tiện cá nhân) vào mùa du lịch, đặc biệt là các
ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần, lượng xe du lịch tập trung chở khách đến
các trung tâm du lịch, đô thị du lịch gây ách tắc giao thông làm tăng đáng kể
lượng CO2 vào môi trường không khí. Mùa du lịch, ngày nghỉ cuối tuần số
phương tiện giao thông đường bộ bằng ô tô, xe máy, phục vụ khách du lịch
tăng lên có thể gấp 3-4 lần ngày thường và là nguồn gây ô nhiễm không khí
(tiếng ồn, bụi và khí thải) chủ yếu ở khu vực này.
- Tăng khả năng ô nhiễm dầu ở vùng nước ven biển, lưu vực sông, hồ
nước chính:
Việt Nam có một vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1.000.000 km2 và
hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ, hai quần đảo là Trường Sa và Hoàng Sa, bờ biển kéo
dài trên 3.260 km. Đây là những tiền đề cho phép hoạch định một chiến lược
du lịch biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Ngoài ra,
Việt Nam còn sở hữu nhiều quần thể du lịch trong đó bao gồm các sông, hồ
nước,…Việc du lịch bằng tàu, thuyền tại các khu vực này theo đó cũng ra đời.
Đi liền với sự gia tăng các hoạt động du lịch trên biển, sông nước, mức độ ô
nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ, sông, hồ do dầu thải và sự cố tràn dầu

khi ăn các chất thải khó tiêu hủy dễ bị chết hoặc dễ bị lây truyền dịch bệnh từ
3 />

15

nơi này đến nơi khác qua chất thải của khách du lịch.
Hoạt động du lịch không được quản lý (xe cộ đi lại với mật độ cao ở
các vùng tự nhiên; du khách hái hoa quả rừng; chặt cây...) có thể tác động đến
nơi cư trú, đến tập tính hoang dã của nhiều loài sinh vật khiến chúng phải bỏ
đi hoặc bị suy giảm về số lượng do khả năng sinh sản bị ảnh hưởng.
Bên cạnh đó, nhu cầu thiếu ý thức của một bộ phận du khách đã và
đang kích thích việc săn bắn, khai thác nhiều loài sinh vật để làm vật lưu
niệm, món ăn đặc sản…. Điều này sẽ tác động làm suy giảm đa dạng sinh học
ở Việt Nam. Trong một số năm gần đây, ở tỉnh Bình Định, chất thải từ các tàu
thuyền du lịch, tiếng ồn của động cơ sẽ trực tiếp làm ô nhiễm các thủy vực và
môi trường biển. Việc neo đậu tàu thuyền không đúng nơi quy định cũng phá
hủy nhiều rạn san hô có giá trị. Những hành vi thiếu ý thức của khách du lịch
khi khám phá các rạn ran hô và việc khai thác các rạn san hô làm quà lưu
niệm của người dân địa phương, ngoài việc phá hủy trực tiếp rạn san hô còn
góp phần làm xói mòn nghiêm trọng vùng bờ, làm mất đi lớp bảo vệ biển4.
1.2.2 Vai trò của môi trường đối với du lịch bền vững và du lịch
sinh thái
Môi trường là yếu tố quyết định đối với du lịch bền vững và du lịch
sinh thái. Du lịch bền vững là thuật ngữ được sử dụng để mô tả loại hình du
lịch mang lại những giá trị đồng bộ về văn hóa- xã hội, kinh tế, môi trường.
Mặc dù còn những điểm chưa thực sự thống nhất về khái niệm phát triển du
lịch bền vững, nhưng đa số các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh
vực liên quan ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt
động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các
nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài

du lịch bền vững. Du lịch bền vững là hoạt động du lịch đáp ứng được các
5 />

17

yêu cầu bền vững về kinh tế, văn hóa- xã hội và môi trường. Muốn có môi
trường phát triển bền vững, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các thành phần
môi trường cần phải được bảo vệ, duy trì và tôn tạo để hấp dẫn du khách
trong hiện tại và đáp ứng yêu cầu du lịch trong tương lai.
Trong quá trình phát triển du lịch phải đảm bảo được sự phát triển bền
vững về kinh tế, về môi trường và về văn hóa.
Thân thiện môi trường: du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn
lợi tự nhiên, đến các nguồn tài nguyên và các thành phần môi trường. Nó
giảm thiểu các tác động đến môi trường ở mức thấp nhất (động, thực vật, các
sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…). tính bền
vững về môi trường trong hoạt động du lịch là việc tiến hành các hoạt động
du lịch sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó,
sao cho đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả
năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau.
Gần gũi về xã hội- văn hóa: Du lịch bền vững không gây hại đến các
cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện.
Thay vào đó, nó tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương. Khuyến
khích các bên liên quan (cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, cơ quan nhà
nước) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch phát triển và giám sát,
giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ. Gần gũi về xã hội- văn hóa là
việc khai thác, đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn
hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại cho các giá trị tiếp theo.
Hiện nay, chủ yếu khách đi du lịch là để hưởng thụ các giá trị văn hóa độc
đáo và khác biệt với nền văn hóa của dân tộc họ. Các điểm du lịch có sự kết
hợp giữa cảnh đẹp thiên nhiên với nền văn hóa truyền thống gây ấn tượng

cầu của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động du lịch
thành những nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liên quan đến môi trường du
lịch. Trên cơ sở đó, các chủ thể xác định được những hành vi buộc phải làm


19

hoặc không được làm khi có những hoạt động tác động đến môi trường du
lịch... Dưới hình thức là nghĩa vụ pháp lý, việc vi phạm chúng đồng nghĩa với
việc phải gánh chịu những chế tài nhất định. Việc quy định các trách nhiệm
pháp lí bên cạnh các nghĩa vụ pháp lí sẽ góp phần làm cho các quy định pháp
luật được tuân thủ chặt chẽ hơn.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là công
cụ để kiểm soát ô nhiễm môi trường, góp phần hạn chế và khắc phục ô nhiễm
môi trường từ các hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch đã và đang gây ra
những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Pháp luật môi trường được ban
hành nhằm ngăn ngừa những hành vi có nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường,
loại trừ những tác động tiêu cực cho môi trường. Các chủ thể có liên quan
trong lĩnh vực du lịch sẽ tiến hành hoạt động kiểm soát và tự kiểm soát nhằm
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường cũng như các hành vi có nguy cơ gây ra hậu
quả cho môi trường. Mặt khác, khi ô nhiễm môi trường xảy ra do hoạt động
du lịch, pháp luật môi trường có quy định nghĩa vụ mà các chủ thể phải thực
hiện nhằm ngăn chặn và khắc phục các hậu quả xấu gây ra cho môi trường
như sự phối hợp của các chủ thể trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm,
những giải pháp để việc ô nhiễm không tiếp tục gây hại sang các thành phần
môi trường khác.
Thứ ba, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch giúp
nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường của
các chủ thể. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt
động du lịch nói riêng rất cần sự tự giác của các chủ thể. Trong điều kiện ý

nhà nước khác nhau, chịu sự tác động không chỉ của cơ quan quản lý nhà
nước về môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch mà còn thuộc phạm
trù quản lý của các cơ quan như ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn,
quốc phòng, tài nguyên môi trường... Để có thể đạt được sự phối hợp giữa
các cơ quan này, phát huy vai trò của từng cơ quan và tránh sự buông lỏng


21

hoặc chồng chéo cần có những quy định cơ chế pháp luật quy định cơ chế
phối hợp giữa các cơ quan này.
Thứ sáu, pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch là cơ sở
pháp lý để gắn kết hoạt động bảo vệ môi ngành du lịch với hoạt động bảo vệ
môi trường nói chung.
Môi trường trong lĩnh vực du lịch là một bộ phận không thể tách rời
của môi trường chung. Việc bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch muốn
đạt được hiệu quả cần được thể hiện trong các yêu cầu về bảo vệ môi trường
nói chung. Pháp luật bảo vệ môi trường thông qua việc cụ thể hóa các hành vi
về bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch đã góp phần tích cực vào bảo
vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch
Thứ bảy, pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch xác
định cơ chế đầu tư, cơ chế tài chính cho hoạt động bảo vệ môi truờng trong
lĩnh vực du lịch.
Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường không thể
không có các phương tiện tài chính cần thiết để đầu tư cho việc nghiên cứu
theo dõi, đánh giá tình hình môi trường, xây dựng các công trình cơ sở hạ
tầng để phục vụ cho hoạt động cải tạo và bảo vệ môi trường, tiến hành các
hoạt động thu gom và xử lý chất thải khắc phục các sư cố ô nhiễm, suy thoái,
sự cố môi trường... Để cân đối các nguồn vốn, có hiệu quả các nguồn lực tài
chính cho hoạt động này pháp luật cần quy định các nguồn vốn cũng như

cá nhân quản lí khu, điểm du lịch; trách nhiệm của chủ thể kinh doanh lưu trú
du lịch; Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh lữ hành; Trách nhiệm của chủ
thể kinh doanh dịch vụ du lịch. Có thể thấy, các chủ thể này có thể là người
quản lí các khu vực du lịch; có thể là người tiếp xúc với khách du lịch; có thể
là người tiến hành các hoạt động du lịch tác động đến môi trường như xả
nước thải, khí thải ra môi trường. Mục đích của các chủ thể này khi tiến hành
các hoạt động du lịch là lợi nhuận. Việc quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường


23

của các chủ thể này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao ý thức của các
chủ thể này cũng như gián tiếp tác động đến ý thức của khách du lịch và cộng
đồng dân cư xung quanh các khu vực du lịch. Cùng với các quy định này,
pháp luật hiện hành cũng quy định các chế tài đối với các chủ thể vi phạm
nghĩa vụ nêu trên. Nếu không có các chế tài thì không có cơ sở pháp lý để bảo
đảm các chủ thể nói trên tự giác chấp hành các quy định về nghĩa vụ bảo vệ
môi trường của mình.
Nhóm quy định về trách nhiệm của khách du lịch và cộng đồng dân cư
về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch gồm các quy định về trách
nhiệm bảo vệ môi trường của khách du lịch và các quy định về trách nhiệm
của các tổ chức, cá nhân trong khu, điểm du lịch. Các chủ thể này có vai trò
rất lớn trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch. Việc quy định
này nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của khách du lịch và cộng đồng dân cư
về bảo vệ môi trường, không xả rác, nước thải,… tại các khu vực du lịch.
Khách du lịch và cộng đồng dân cư có ý thức bảo vệ môi trường trong hoạt
động du lịch góp phần đáng kể vào việc nâng cao nhận thức của các chủ thể
tiến hành các hoạt động du lịch, giúp các chủ thể này không ngừng đổi mới
chất lượng dịch vụ du lịch, hướng đến các dịch vụ du lịch như tour, lưu trú,…
thân thiện với môi trường.

lập trong phạm vi cả nước, vùng du lịch, địa bàn du lịch trọng điểm, tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương, khu du lịch quốc gia. Còn quy hoạch cụ thể
phát triển du lịch được lập cho các khu chức năng trong khu du lịch quốc gia,
khu du lịch đại phương, điểm du lịch quốc gia có tài nguyên du lịch tự nhiên.
Cũng tại Điều 19 của Luật này có nêu ra các nội dung quy hoạch phát
triển du lịch tổng thể, bao gồm: Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của du lịch
trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và quốc gia; Phân tích,
đánh giá tiềm năng, hiện trạng tài nguyên du lịch, thị trường du lịch, các
nguồn lực phát triển du lịch; Xác định quan điểm, mục tiêu, tính chất, quy mô
phát triển cho khu vực quy hoạch; dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các
phương án phát triển du lịch; Tổ chức không gian du lịch; kết cấu hạ tầng, cơ
sở vật chất - kỹ thuật du lịch; Xác định danh mục các khu vực, các dự án ưu
tiên đầu tư; nhu cầu sử dụng đất, vốn đầu tư, nguồn nhân lực cho du lịch;
Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch và môi
trường; Đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển du lịch theo
quy hoạch.
Ngoài những nội dung trên, quy hoạch cụ thể phát triển du lịch còn có
các nội dung chủ yếu như: Phân khu chức năng; bố trí mặt bằng, công trình



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status