Phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh tiểu học trong dạy học tiếng việt - Pdf 52

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC TIỀNG VIỆT
Chuyờn ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mó số

:

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn: TS. Chu Thị Thủy An

Quảng Bình- 2005


2
Lời cảm ơn

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến
sỹ Chu Thị Thuỷ An, người thầy đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
chúng tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
“Phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh tiểu học trong dạy học tiếng
Việt”!
Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo
giảng dạy, các phòng - ban của trường Đại học Đồng Hới đã tạo điều kiện
và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài!
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục & Đào tạo Nghệ An,
phòng Giáo dục và các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đồng Hới,

1.1.1. Khái niệm về hội
thoại…………………………………………
1.1.2. Các vận động hội thoại………………………………………...
1.1.3. Cấu trúc hội thoại……………………………………………...
1.1.4. Các quy tắc hội thoại…………………………………………..
1.2. Hành vi ngôn ngữ và hội
thoại…………………………………...
1.2.1. Hành vi ngôn ngữ……………………………………………...
1.2.2. Hành vi ở lời trực tiếp …………...…………………………….
1.2.3. Hành vi ở lời gián tiếp …………...……………………………
1.3.Vai trò của môn Tiếng Việt trong việc phát triển kỹ năng hội
thoại cho HS tiểu học…………………………………………………….
1.3.1. Kỹ năng hội thoại ……………………………………………..
1.3.2. Vai trò của môn Tiếng Việt với việc phát triển kĩ năng hội
thoại...
1.4. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học với việc phát triển
kỹ năng hội
thoại……………………………………………………………..
1.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học…………………...
1.4.2.. Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại của học sinh tiểu
học………………..
Chương 2: Cơ sở thực tiễn

4
5
5
6
6
7
8

3.2. Một số phương pháp phát triển kĩ năng hội thoại……………...
3.3. Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội
thoại………………………
3.3.1. Một số yêu cầu của bài tập hội thoại………………...
……………
3.3.2. Hệ thống bài tập phát triển kỹ năng nghe ……………………...
3.3.3. Hệ thống bài tập phát triển kỹ năng
nói………………………...
3.4. Quy trình dạy học hội thoại………………...……………………
4.1.Quy trình chung………………...……………………………...…
4.2. Quy trình dạy học cụ thể………………...………………………
3.5. Tiểu kết chương 3………………...………………………….
……
3.6 Tổ chức thực nghiệm sư phạm…………...………………….
……
3.6.1. Mục đích thực nghiệm…………...…………………………….
3.6.2. Đối tượng thực nghiệm…………...……………………………
3.6.3. Nội dung và cách thức tiến hành…………...………………….
3.6.4.Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm…………...…………….
3.6.5. Phân tích kết quả thực nghiệm…………...………………….

kết luận…………...………………………………………………..…
Tài liệu tham khảo…………...…………………………………….

32
32
35
42
52
52


HS

Học sinh

GV

Giáo viên

SGK

Sách giáo khoa

TV

Tiếng Việt

TLV

Tập làm văn

CCGD

Cải cách giáo dục

NTLN

Nghi thức lời nói

BT

1.2. Hiện nay, chương trình Tiếng Việt mới ở bậc Tiểu học đã chú trọng
hơn đến việc phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh tiểu học thông qua việc
đưa thêm vào phân môn Tập làm văn một số nội dung mới, cụ thể là: dạy cho
học sinh một số nghi thức lời nói, cách bắt đầu, kết thúc hoặc dẫn dắt tham dự
vào các cuộc giao tiếp có tính chất nghi thức. Nội dung mới này được đưa vào


8

dạy ở các lớp 1,2 ,3. Thế nhưng trong quá trình thực hiện, giáo viên và học
sinh tiểu học còn gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả dạy học còn chưa cao.
Nội dung hội thoại trong chương trình tuy đã được chọn lọc, các nghi
thức giao tiếp điển hình đã đuợc chú trọng nhưng phạm vi giao tiếp còn hẹp,
các nhà biên soạn chưa quan tâm đến bản chất của hành động ngôn ngữ. Các
cuộc hội thoại đưa vào chương trình còn bị xé lẻ, tách khỏi ngữ cảnh, hoàn
cảnh giao tiếp, vi phạm các quy tắc hội thoại.
Chương trình cũng chưa đưa ra được các chỉ dẫn cụ thể và phù hợp về
phương pháp dạy học nên đa số giáo viên đều dạy theo cảm tính và kinh
nghiệm bản thân; việc đánh giá kĩ năng hội thoại của học sinh cũng chưa có
các tiêu chí cụ thể nên giáo viên còn rất nhiều lúng túng.
Từ những phân tích trên, chúng tôi thấy rằng "Phát triển kỹ năng hội
thoại cho học sinh tiểu học trong dạy học tiếng Việt" là một vấn đề có tính
thời sự, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu để tháo gỡ những khó
khăn về lí thuyết cũng như thực tiễn mà các nhà trường tiểu học đang gặp phải.
2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Vấn đề liên quan mật thiết đến việc dạy và học tiếng mẹ đẻ là lý
thuyết hội thoại. Vì vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ lời nói
là một mảng đề tài lớn được nhiều nhà ngôn ngữ học trên Thế giới quan tâm:
L.austin (1962), D.Winderlich (1972), O.Jacques (1976), E.Roulet (1980),
J.Lyons (1980), J.Searle (1972), Martinet (1986), L.Hagege (1985) và F.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của
phương pháp phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh đã được đề xuất.
- Phương pháp phân tích thống kê nhằm xử lý các số liệu thu được từ
thực nghiệm sư phạm.
7. Cấu trúc đề tài:

Đề tài gồm 4 phần:


12
Phần I: Phần mở đầu
Phần II: Phần nội dung
Phần III: Phần kết luận
Phần IV: Phần phụ lục
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Phương pháp phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh tiểu
học


13
Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1. Hội thoại và các quy tắc hội thoại
1.1.1. Khái niệm về hội thoại
Hội thoại, xét từ góc độ tâm lý – ngôn ngữ học là hình thức lời nói được
xây dựng theo nguyên lý “kích thích – phản ứng”. [34. tr 27]
Khi bàn về vấn đề hội thoại, Đỗ Hữu Châu đã khẳng định “Hội thoại là
hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn
ngữ. Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào

Hoạt động hội thoại hình thành là do vận động trao lời và trao đáp của
nhân vật giao tiếp. Mục đích của hội thoại là giao tiếp, là làm mất đi sự khác
biệt, đối lập, thậm chí là trái ngược nhau về các mặt: hiểu biết, tâm lý, tình
cảm,… giữa các nhân vật giao tiếp.
Căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp diễn ra hội thoại, chúng ta có thể
chia hội thoại thành:
- Hội thoại có tính chất nghi thức chính thức, mang tính chất quy phạm
(cuộc hội thoại trong các hội nghị, trong các cuộc toạ đàm…).
- Hội thoại không mang tính nghi thức, đó là những cuộc hội thoại mang
tính chất riêng tư, gia đình.
Hội thoại chúng ta dạy cho HS tiểu học là hội thoại trong đó cả hai đều chủ
động tham gia giao tiếp hay còn gọi là kiểu hội thoại tích cực, mặt đối mặt giữa
các nhân vật hội thoại. Đó chính là đối thoại. Vì vậy, đề tài “Phát triển kĩ năng
hội thoại cho HS tiểu học trong dạy học Tiếng Việt” của chúng tôi chỉ tập trung
nghiên cứu về đối thoại.
Đối thoại là cuộc trò chuyện, trao đổi, thảo luận, tranh luận của hai hay
nhiều người. Lời nói trong cuộc đối thoại gọi là lời đối thoại. Nói cách khác,
“Lời đối thoại là lời trao đổi giữa hai hay nhiều người trong các cuộc giao
tiếp, giao lưu”.[36. tr 74]
1.1.2. Các vận động hội thoại


15
Các vận động hội thoại gồm: vận động trao lời, vận động đáp lời và vận
động tương tác.
1.1.2.1. Vận động trao lời
Trong một cuộc hội thoại, một người nào đó nói ra, hướng tới người
nghe đang ở trước mặt, ta gọi vận động đó là vận động trao lời.
Những yêu cầu chính của việc trao lời:
- Biết tự quy chiếu vị thế xã hội trong việc trao lời. Điều này thể hiện ở

- Bây giờ mà đã 9 giờ rồi à ! ( hành động tỏ ý nghi ngờ)
Như vậy, là từ một lõi miêu tả, chúng ta có thể có nhiều hành vi ở lời
khác nhau. Ta gọi nội dung miêu tả của câu là lõi miêu tả, còn hiệu quả mà các
hành vi ở lời mang lại cho người nghe là lực ở lời. Khi tiếp nhận hành vi ở lời,
người nghe cần phải có một hành vi ở lời khác thích hợp đáp lại. Ví dụ, khi tiếp
nhận hành vi hỏi “Bây giờ là 9 giờ phải không ?” thì người nghe sẽ phải đáp
lại “ Phải, bây giờ đúng là chín giờ”, hoặc “Không phải, bây giờ mới tám
giờ”. Các hành vi ở lời kiểu “Bây giờ là 9 giờ phải không ?”đòi hỏi một hành
vi hồi đáp được gọi là hành vi ở lời dẫn nhập. Hành vi hồi đáp và hành vi ở lời
dẫn nhập làm thành từng cặp kế cận.
1.1.3.2. Nghi thức ở lời
Nghi thức ở lời là việc người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ để
báo cho người nghe biết hành vi ở lời của mình dùng là hành vi gì. Ví dụ, nếu
hành vi ở lời là hành vi hỏi thì phương tiện ngôn ngữ có thể dùng là các từ sao,
phải không, gì nào…, còn khi hành vi ở lời là hành vi khuyên nhủ, răn bảo, thì
có thể dùng các từ như hãy, đừng, chớ, nên, bảo… Các dấu hiệu này được cả
cộng đồng người chấp nhận và sử dụng. Việc lặp đi lặp lại chúng trong giao
tiếp đã hình thành nên các nghi thức lời nói.


17
Khi xã giao, những người tham dự giao tiếp phải biết được các nghi thức
này thì việc giao tiếp mới có hiệu quả. Có những nghi thức ở lời mở đầu lời
nói, có những nghi thức khép lại lời nói, có những nghi thức thưa gửi… Việc
sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các nghi thức ở lời chứng tỏ sự giao tiếp có văn
hoá của những người tham dự hội thoại.
1.1.3.3. Các đơn vị hội thoại
Hội thoại gồm những loại đơn vị sau:
- Các đơn vị lưỡng thoại: Đó là các đơn vị phải có ít nhất hai nhân vật
giao tiếp cùng tạo nên. Đơn vị lưỡng thoại gồm có:

Nhưng ở hai hành vi này chỉ cần dùng một hành vi ở lời tương ứng đáp lại là
đủ.
1.1.4. Các quy tắc hội thoại
Trong bất kỳ một cuộc hội thoại nào, muốn giao tiếp đạt hiệu quả thì
những người tham gia hội thoại phải nắm được các quy tắc nói năng để chủ
động tạo ra những lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp miệng. Hay nói
cách khác, để việc giao tiếp được tiến hành thuận lợi, những người tham gia
hội thoại phải tuân thủ các quy tắc sau:
1.1.4.1. Quy tắc thương lượng hội thoại
Đó là sự thoả thuận công khai (hoặc thoả thuận ngầm ẩn) của những
người tham gia giao tiếp về hình thức, về nội dung, về vị thế, và về cấu trúc
hội thoại để việc giao tiếp được tiếp tục diễn ra theo hướng đã định. Điều đó có
nghĩa là trong giao tiếp phải có sự thống nhất về ngôn ngữ được dùng, về
phong cách nói, về ngữ điệu, về các vấn đề được đưa ra hội thoại. Đồng thời
phải xác định đúng vị thế giao tiếp của từng người và phải đảm bảo sự luân
phiên lượt lời để tránh sự giẫm đạp lượt lời của nhau.


19
Chẳng hạn, về cấu trúc hội thoại có sự thoả thuận (thương lượng) về
việc mở đầu có thể là những câu chào hỏi, những lời xã giao để thiết lập quan
hệ giao tiếp.
Ví dụ 1: - Chú gác ở đây à?
- Cụ cho cháu xem giấy tờ ạ!
- Bác đây mà.
- Bác cũng phải có giấy mà! Có giấy mới được vào mà!
{TV2, tập 2, tr113}
Việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời tạm biệt, lời hứa hẹn
hoặc khuyên răn…
Ví dụ 2:- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?


- Con vẽ gì đấy?

- Con ngựa đấy, mẹ ạ!
Hay: - Tên em là gì?
- Tên em là Lan.
Hai cặp lượt lời trên là hai cặp kế cận.
Nhưng những lượt lời dưới đây không phải là một cặp kế cận:
Ví dụ: - Bố cháu đã về chưa?
- Bố cháu đi lúc 8 giờ sáng rồi.
Việc chỉ định và phân phối lượt lời sẽ không đặt ra đối với những cuộc
song thoại mặt đối mặt. ở những cuộc đối thoại này thông thường người đang
nói, nói xong thì người nói sau sẽ tiếp lời. Như vậy, muốn cho cuộc hội thoại
có kết quả tốt thì phải vận hành quy tắc luân phiên lượt lời.
1.1.4.3. Quy tắc liên kết hội thoại
Trong hội thoại, nếu giữa các lời của nhân vật hội thoại không có liên
kết thì cuộc hội thoại sẽ không xẩy ra.
Sự liên kết hội thoại này được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức hội
thoại.
- Về nội dung, các lượt lời phải thống nhất về đề tài, nghĩa là cùng
hướng tới một nội dung hiện thực nhất định. Sẽ không có sự liên kết hội thoại
về mặt nội dung nếu mỗi người tham dự giao tiếp nói tới một đề tài khác nhau.
Ngoài ra, các lượt lời cần phải có sự thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhau
về lập luận. Bởi lập luận tạo thành cái mạch liên tục về nội dung.
Ví dụ: A: Khoẻ không?


21
B: Khỏe, cảm ơn!
Hành vi hỏi thăm của A đòi hỏi lời đáp của B. Giữa hành vi ngôn ngữ

lời, giành
phần nói của người khác. [12, tr 292]
Ví dụ: ở xã hội á Đông, hỏi về đời tư, tuổi tác là được phép, là tỏ ra quan
tâm tới người được hỏi. Trái lại, ở xã hội phương Tây thì đề tài đó lại bị xem là
không lịch sự, là "dí mũi" vào đời tư người khác.
1.1.4.5. Quy tắc khiêm tốn
Quy tắc này đòi hỏi người nói không nên nói về mình quá nhiều. Đặc
biệt người nói càng không nên tự khen, tự đề cao hay tán dương bản thân
mình. Điều này khiến người nghe khó chịu.
Hãy nói về mình ít thôi, hãy hạ mình đi một chút thì hiệu quả giao tiếp
sẽ tăng lên. Đây là điều chú ý khi hội thoại.
Ví dụ: Mình chơi cầu lông không giỏi đâu, nhưng chúng ta thử đánh vài
hiệp có được không?
Hay: - Bài toán này khó quá, bạn có thể giảng giúp mình được không?
1.1.4.6. Quy tắc cộng tác
Chỉ có người nói không có người nghe hoặc ngược lại chỉ có người nghe
không có người nói thì không thành hội thoại. Khi có cả hai rồi thì họ phải có
sự cộng tác với nhau thì hội thoại mới diễn ra được.
Vì thế khi nói, người nói phải nói những thông tin đúng với đích đặt ra,
không nói những điều gì không đúng hoặc chưa chắc chắn, chưa đủ bằng
chứng, tránh lối nói tối nghĩa, nói mập mờ, nói phải ngắn gọn, rõ ràng và nói
những gì có quan hệ với nội dung hội thoại.
1.1.4.7. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự


23
Trong nhiều công trình nghiên cứu, phép lịch sự được xem như là một
(hay một loạt chiến lược) được người nói dùng để hoàn thành một số mục đích
như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hoà.
Có thể định nghĩa lịch sự là một phương thức giảm thiểu sự xung đột


24
- Anh có thể bỏ giúp tôi lá thư được không?
- Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè. Quy tắc này thích hợp với
những bạn bè gần gũi hoặc thật sự thân mật với nhau. Theo quy tắc này thì đã
là bạn bè phải chân tình, thẳng thắn, không phải rào đón, hàm ẩn khi nói
chuyện với nhau.
Ví dụ:

Bạn lấy cho tôi cái ấm!
Đừng có làm như thế, không hay đâu!

Tóm lại, những quy tắc hội thoại đã chứng minh rằng, hội thoại - sự giao
tiếp bằng ngôn ngữ - không phải là sự kiện ngẫu nhiên, tùy tiện, không có quy
luật. Nhưng đây cũng chưa phải là toàn bộ những nguyên tắc có thể chi phối
hội thoại. Các nguyên tắc này khá linh hoạt, “mềm dẻo” và dễ dàng bị vi phạm,
chuyển hóa tùy theo các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Tuy vậy, những quy tắc
được nêu trên là quy tắc chính nên khi hội thoại chúng ta phải tôn trọng những
quy tắc này thì hội thoại mới thành công.
1.2. Hành vi ngôn ngữ và hội thoại
1.2.1.Hành vi ngôn ngữ
Thực chất đơn vị nhỏ nhất của hội thoại là cặp trao - đáp. Mỗi cặp trao
đáp bao gồm các hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ có tính chất đơn thoại
trong cấu trúc hội thoại. Đó là hành động phát ngôn, hành động nói năng.
Đỗ Hữu Châu viết: “ Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động,
chúng ta thực hiện một loạt hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ.”
[13, tr. 88]
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai
nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi. Những
hành vi có hiệu lực ở lời – tức là những hành vi có hiệu lực thay đổi quyền lực

đưa đẩy, xin phép, đánh dấu, giải thích, bổ sung, chú dẫn, trích dẫn, chuyển ý,
dẫn thoại...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status