Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch - Pdf 53

Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay du lịch là một hoạt động phát triển trên toàn cầu và trở thành một
trong những ngành kinh tế phát triển nhất trên thế giới, là nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống xã hội. Tuy nhiên với tốc độ phát triển này cũng dẫn đến
hệ lụy đối với môi trường. Vì vậy BMTHD là nhiệm vụ cấp bách được đạt ra
đối với toàn xã hội và cần được chú trọng trong các quy định của pháp luật. Bởi
lẽ đó mà em xin chọn đề tài “Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng
các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch” để hiểu rõ hơn về
pháp luật BMTHD.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BMTHD
1. Khái niệm BMTHD
Theo Luật du lịch năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
(khoản 1 Điều 4), và “hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức,
cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan đến du lịch” (khoản 3 Điều 4).
Khái niệm môi trường du lịch theo nghĩa rộng: là môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch (khoản 21 Điều 4, Luật
du lịch 2005); Theo nghĩa hẹp: là môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ không
gian lãnh thổ, đất, nước, không khí, các hệ sinh thái, các hệ động vật, công trình
kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên nơi tiến hành các hoạt động du lịch (khoản 1,
Điều 2, Quy chế BMTHD).
Dựa vào phân tích trên và căn cứ vào khoản 2, Điều 2 Quy chế BMTHD, ta có
thể định nghĩa BMTHD là các hoạt động cải thiện tôn tạo môi trường du lịch,
phòng ngừa, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm và sự cố môi trường xảy ra
trong lĩnh vực du lịch.
Như vậy, pháp luật BMTHD là các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý

Pháp luật quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể liên quan đến
môi trường trong hoạt động du lịch giúp cho việc giải quyết này nhanh chóng, thỏa
đáng, bảo vệ quyền lợi cho chủ thể bị xâm hại, xử lý vi phạm, khắc phục, hạn chế
những thiệt hại đối với môi trường.
Vai trò của pháp luật còn được thể hiện trong việc quy định nghĩa vụ, trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với việc BMTHD. Quy định này đảm bảo việc
khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường trong hoạt động du lịch của các chủ thể
đều phải có trách nhiệm hướng đến tiêu chí giữ gìn, bảo vệ chất lượng môi trường.
Pháp luật quy định rất cụ thể về trách nhiệm, với từng chủ thể, địa điểm và mức độ
tác động tới môi trường, tạo cơ sở để tiến hành xử lý vi phạm, qua đó tác động đến
ý thức của từng chủ thể về vấn đề BMTHD.
Nước ta tích cực tham gia các công ước và tổ chức quốc tế BMTHD. Đây là cơ
sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế về BMTHD, qua đó

Trần Thị Thu Giang – MSSV: 361056

2


Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm môi trường trên toàn thế giới, tăng cường nghĩa vụ của
từng quốc gia và hợp tác quốc tế bảo vệ môi trường toàn cầu.
II. PHÁP LUẬT VỀ BMTHD
1. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước
1.1. Thực trạng pháp luật
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BMTHD đang dần được hoàn thiện cả về
cơ cấu và thẩm quyền. Giữa các cấp và các cơ quan đã có sự phân chia thẩm quyền
hợp lý và cụ thể, tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện, hạn chế được tình trạng
chồng chéo và thiếu đồng bộ. Song song với đó, các quy định này còn mở rộng

Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

công tác quản lý môi trường ở địa phương, làm gia tăng gánh nặng cho Sở
TNVMT tỉnh. Còn đối với cấp xã, nhiệm vụ quản lý môi trường gần như bị bỏ
trống.
Mặt khác, thực trạng cán bộ quản lý về môi trường cũng làm một vấn đề nghiêm
trọng. Hiện nay cả nước chỉ có khoảng 150 cán bộ quản lý Nhà nước về bảo vệ
môi trường cấp Trung ương và khoảng 400 cán bộ cấp địa phương. Trong khi đó số
lượng công việc cần giải quyết là rất lớn thì nguồn nhân lực quản lý môi trường
như vậy là không đủ để đáp ứng. Nhiều khu, điểm du lịch, khu công nghiệp nằm
trong khu du lịch chưa có bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về môi trường. Thêm
vào đó, sự phối hợp giữa BTNMT với Tổng cục Du lịch và giữa các địa phương để
giải quyết những vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng còn yếu kém, thiếu đồng
bộ, chưa chặt chẽ. Điều này cho thấy vấn đề quản lý môi trường trong hoạt động
du lịch hiện nay còn lỏng lẻo và chưa được quan tâm đúng mức.
Như vậy, hoạt động của các cơ quan quản lý môi trường trong hoạt động du lịch
đến nay vẫn còn nhiều bất cập, cần phải cụ thể hóa và nâng cao trách nhiệm của
các cơ quan, đặc biệt là tại những vùng du lịch trọng điểm.
2. ĐTM đối với các dự án có khả năng gây ô nhiễm môi trường trong hoạt
động du lịch
2.1. Thực trạng pháp luật
Từ khi LBVMT năm 1993 ra đời và đặc biệt là khi Chính phủ ban hành Nghị
định 175/CP về hướng dẫn thi hành LBVMT thì công tác ĐTM mới thực sự được
triển khai rộng rãi. Chỉ trong một thời gian ngắn, pháp luật về ĐTM đã được xây
dựng khá hoàn thiện về đối tượng, chủ thể có trách nhiệm lập báo cáo và cả về
thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM trong hoạt động du lịch.
LBVMT năm 2005 đã có một số thay đổi về thẩm quyền báo cáo ĐTM tại
khoản 7 Điều 21 so với LBVMT năm 1993. Những thay đổi này chủ yếu theo
hướng mở rộng các chủ thể có thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM và giảm nhẹ
gánh nặng cho BTNMT và Sở TNVMT. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả cho

trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để
quản lý môi trường”. Khoản 1, Điều 16 Quy chế BMTHD quy định BTNMT có
trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp với Tổng cục Du lịch soạn thảo và ban hành tiêu
chuẩn chất lượng môi trường du lịch Việt Nam.
Theo Điều 3 Quy chế BMTHD về áp dụng các tiêu chuẩn môi trường trong hoạt
động du lịch: Các chủ thể hoạt động du lịch phải tuân thủ các quy định, chỉ tiêu
chất thải quy định tại Phụ lục III, có trách nhiệm thông báo, kiến nghị tới Sở
TNVMT, Sở quản lý về du lịch biện pháp xử lý khi chất lượng môi trường nơi diễn
ra các hoạt động du lịch không đạt mức chỉ tiêu, điều kiện nêu tại Phụ lục I và Phụ
lục II.
Phụ lục I quy định về chỉ tiêu chất lượng môi trường để tổ chức một số loại hình
du lịch cơ bản: tiêu chuẩn về chất lượng nước sinh hoạt, nước mặt lục địa, nước
biển, không khí; Phụ lục II quy định điều kiện môi trường để tổ chức một số loại
hình du lịch cơ bản; Phụ lục III quy định chỉ tiêu một số yếu tố chất thải từ hoạt
động du lịch ra môi trường.

Trần Thị Thu Giang – MSSV: 361056

5


Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

Đặc thù của hoạt động du lịch đòi hỏi chất lượng môi trường cao hơn so với
những hoạt động khác, cho nên các tiêu chuẩn cũng yêu cầu cao hơn. Quy định
như vậy là phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, tạo cơ
sở để kiểm soát ô nhiễm môi trường, đánh giá, dự báo tình hình môi trường và đưa
ra những biện pháp thích hợp để đảm bảo chất lượng môi trường du lịch.
3.2. Thực tiễn áp dụng
Tiêu chuẩn du lịch đã phát huy được tác dụng trong việc xác định tình trạng ô



Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

phát hiện kịp thời và ngăn chặn việc tiếp diễn các vi phạm, đồng thời cũng là cơ sở
để tiến hành khắc phục hậu quả, khôi phục môi trường tại các khu, điểm du lịch.
Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, do lực lượng thanh tra ít ỏi, số lượng cuộc
thanh tra cũng ít dẫn tới việc bỏ sót nhiều hành vi vi phạm. Đồng thời, việc phối
hợp còn lỏng lẽo nên kết quả chưa cao, kéo theo việc xử lý vi phạm chậm chạp,
không triệt để. Bên cạnh đó việc xử lý vi phạm pháp luật môi trường du lịch vẫn
chủ yếu áp dụng trách nhiệm hành chính, chưa phát huy được vai trò của các hình
thức trách nhiệm pháp lý khác, vì vậy chưa đem lại hiệu quả tương xứng vì mức xử
phạt thường rất thấp so với mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và thiệt hại
xảy ra đối với môi trường du lịch.
5. Giải quyết tranh chấp về BMTHD
5.1. Thực trạng pháp luật
Đây là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các
bất đồng, mâu thuẩn giữa các chủ thể để tìm ra giải pháp phục hồi quyền lợi của
chủ thể bị xâm hại, phục hồi môi trường, truy cứu trách nhiệm đối với hành vi vi
phạm.
Trình tự giải quyết tranh chấp về BMTHD được tiến hành theo các bước: Các
bên tranh chấp tự thương lượng; Tranh chấp được hòa giải với sự tham gia của hòa
giải viên; Khi quá trình tự thương lượng và hòa giải không thành thì việc giải quyết
tranh chấp được thực hiện tại các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và Tòa
án.
5.2. Thực tiễn áp dụng
Các tranh chấp về BMTHD xảy ra ngày càng gia tăng trên thực tế song các quy
định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường lại chưa đầy đủ và cụ thể dẫn đến việc giải
quyết tranh chấp thường kéo dài và thiếu cơ sở đề ra những quyết định cần thiết,
gây ra những tác động xấu đối với môi trường du lịch.

Muốn hạn chế các tình trạng nêu trên thì cần phải quy định cụ thể, xác định cơ
chế đảm bảo thực thi trên thực tế, tránh tình trạng pháp luật quy định mà không có
cơ quan, cá nhân giám sát, kiểm tra và không có ai thực hiện.
7. Trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân do vi phạm pháp luật
BMTHD
7.1. Thực trạng pháp luật
Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật BMTHD phải chịu trách nhiệm
pháp lý trước Nhà nước, trước cộng đồng hoặc bên bị thiệt hại. Tùy vào mức độ và
tính chất của vi phạm pháp luật mà sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý dân sự, kỷ luật,
hành chính, hay hình sự đối với cá nhân, tổ chức đó.
7.2. Thực tiễn áp dụng

Trần Thị Thu Giang – MSSV: 361056

8


Luật Môi trường – Bài tập lớn học kì

Việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức, cá nhân do vi phạm pháp
luật BMTHD không những có tác dụng răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm, mà
còn tạo ra nguồn tài chính quan trọng cho công tác khắc phục ô nhiễm môi trường,
khôi phục lại những yếu tố đã bị xâm hại. Trong quá trình áp dụng các quy định
này, các cơ quan có thẩm quyền đã có phương hướng phù hợp và đã thu được
những hiệu quả nhất định đối với công tác BMTHD.
Song, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế trong việc áp dụng các quy định về
trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường du lịch như: Thứ nhất, trong khi các
trách nhiệm hành chính và dân sự được áp dụng chủ yếu và phổ biến thì trách
nhiệm hình sự rất ít khi được áp dụng làm giảm đi đáng kể hiệu quả, vai trò của
việc áp dụng trách nhiệm pháp lý; Thứ hai, mức xử phạt còn thấp so với mức độ

môi trường. Sự suy giảm của môi trường đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt
động du lịch. Như vậy, bảo vệ môi trường để phát triển du lịch bền vững, nâng cao
đời sống xã hội là nhiệm vụ cấp bách của ngành du lịch nói riêng và của các cấp,
các ngành, toàn xã hội, của các quốc gia nói chung, chính vì thế mà cần phải chú
trọng xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện về BMTHD. Các quy định này
của pháp luật là khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hơn nữa ngành
du lịch, quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra bạn bè thế giới.

Trần Thị Thu Giang – MSSV: 361056

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status