Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây đông hầu vàng (Turnera Ulmifolia) (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 53

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN THỊ THÚY

XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG IN VITRO
CÂY ĐÔNG HẦU VÀNG (TURNERA ULMIFOLIA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN THỊ THÚY

XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG IN VITRO
CÂY ĐÔNG HẦU VÀNG (TURNERA ULMIFOLIA)

Ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 8 42 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ THANH NHÀN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018




Phan Thị Thúy

iv


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ...............................................................................................iii
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................... iv
MỤC LỤC ........................................................................................................... v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Giới thiệu chung về cây Đông hầu vàng ...................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm phân loại và đặc điểm sinh học ....................................................... 3
1.1.2. Giá trị cây Đông hầu vàng ................................................................................ 5
1.1.3. Tình hình nghiên cứu cây Đông hầu vàng trên thế giới và ở Việt Nam ........ 7
1.2. Kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật và ứng dụng ....................................... 8
1.2.1. Cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật......................... 9
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cấy in vitro .................................................... 9
1.2.3. Các phương pháp nhân giống vô tính in vitro ............................................... 12
1.3. Thành tựu của nhân giống in vitro ............................................................. 15
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 17
2.1. Vật liệu, hóa chất, thiết bị và địa điểm nghiên cứu .................................... 17

3.5.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của IBA đến khả năng tạo rễ cây Đông hầu vàng.... 40
3.6. Nghiên cứu giá thể thích hợp đưa cây Đông hầu vàng ra ngoài tự nhiên .. 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................... 45
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN .............................................................. 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 47

vi


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Tên tiếng Anh

Nghĩa tiếng Việt

MS

Murashige and Skoog

Môi trường MS

KT

Khử trùng

CT

Công thức


Cộng sự

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Công thức khử trùng hạt cây Đông hầu vàng ................................... 18
Bảng 2.2. Công thức giá thể ra cây Đông hầu vàng .......................................... 22
Bảng 3.1. Kết quả khử trùng hạt cây Đông hầu vàng ....................................... 23
Bảng 3.2. Tỷ lệ nảy mầm của hạt Đông hầu vàng ở các môi trường ................ 25
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của chất phụ gia đến sự sinh trưởng của cây Đông
hầu vàng .......................................................................................... 26
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của BAP đến khả năng phát sinh chồi cây Đông hầu vàng . 29
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của kinetin đến khả năng tạo đa chồi cây Đông hầu vàng.... 31
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và NAA đến khả năng phát sinh chồi
cây Đông hầu vàng .......................................................................... 33
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và IBA đến khả năng phát sinh chồi
cây Đông hầu vàng .......................................................................... 35
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của 2,4- D đến khả năng tạo mô sẹo ở lá Đông hầu vàng.... 37
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của BAP đến khả năng tái sinh chồi từ mô sẹo cây
Đông hầu vàng ................................................................................. 38
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của NAA đến khả năng tạo rễ cây Đông hầu vàng ...... 40
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của IBA đến khả năng tạo rễ cây Đông hầu vàng ....... 41
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của giá thể đến cây trồng trong bầu sau 8 tuần ............ 43

v


DANH MỤC CÁC HÌNH

chính sách quản lí chặt chẽ nên nhiều loài cây dược liệu tự nhiên bị khai thác ồ
ạt, không chú ý tới bảo vệ, tái sinh làm cho nguồn tài nguyên dược liệu giảm
sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Yêu cầu đặt
ra là cần phải bảo tồn nguồn gen, nhân nhanh các loài cây dược liệu quý hiếm
và tìm ra những loài cây dược liệu thay thế.
Hiện nay, nhu cầu làm đẹp của phái nữ ngày một gia tăng mạnh mẽ. Tuy
nhiên, các mỹ phẩm tổng hợp và pha chế được bán trên thị trường thường gây
hại cho da sau một thời gian sử dụng. Vì vậy, các công ty dược- mỹ phẩm phải
tìm đến những hợp chất được chiết xuất từ những cây cỏ tự nhiên. Ở Việt Nam
có rất nhiều cây thuốc quý được sử dụng để cải thiện sắc đẹp như: trinh nữ
hoàng cung, ngưu tất, hà thủ ô, cây rau sam, diệp hạ châu, cây lá bỏng, lá dâu
tằm, lá trầu không,…[47]. Cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) là loài cây
có nhiều công dụng đối với cơ thể, đặc biệt có tác dụng làm đẹp cho phụ nữ
như làm trắng da, kéo dài tuổi thanh xuân. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, cây

1


Đông hầu vàng là cây nhập nội với số lượng hạn chế, cần được nhân nhanh để
tạo nguồn giống.
Nuôi cấy mô tế bào là một kỹ thuật rất quan trọng của công nghệ sinh
học thực vật. Những thành tựu mà nuôi cấy mô tế bào đạt được đã chứng tỏ
khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nhân nhanh và bảo tồn
những loài quý hiếm.
Từ các lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng quy trình
nhân giống in vitro cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia)” nhằm phát triển
cây Đông hầu vàng làm thuốc ở Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được quy trình nhân giống in vitro cây Đông hầu vàng (Turnera
ulmifolia).

Các cây thuộc họ Đông hầu từ lâu đã được biết đến như một loại thảo
dược nổi tiếng ở châu Mỹ với công dụng tăng cường sức khỏe sinh sản, được
người Maya cổ và người Mexico sử dụng rộng rãi. Y học hiện đại thì coi đây
như một loại trà kích thích khả năng sinh lý. Lá Đông hầu còn có lợi ích tốt cho
phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, giảm chuột rút, mệt mỏi, lo lắng và đau đầu

3


do khả năng điều tiết và cân bằng nội tiết tố nữ [40]. Đại diện duy nhất của họ
này tại Việt Nam là cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) có nguồn gốc ở
Mexico và Tây Ấn [42].
Cây Đông hầu vàng là một loại cây có phân bố địa lý rộng. Cây được
nhập cư rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây thích nghi với
nhiều loại đất, điều kiện môi trường và có khả năng sinh sản cao nên định cư
được ở các môi trường sống mới. Sự phân tán hạt trong loài này là do khả năng
thu hút kiến làm cho những con kiến vận chuyển hạt giống trong khoảng cách
tương đối ngắn tạo thuận lợi cho việc hình thành quần thể dày đặc và tăng khả
năng tạo ra hạt [16], [18], [45].
Cây Đông hầu vàng là cây bụi nhỏ, cao khoảng 1m, phân nhiều cành. Lá
đơn, mọc so le, hình trái xoan hẹp, dài khoảng 5-6cm, rộng 2,5cm, hai đầu nhọn,
mép khía răng cưa nhọn, gân lá hình lông chim, nổi rõ, gốc phiến lá có 2 tuyến
nhỏ, cuống ngắn có lông mềm, vò lá có mùi hăng nhẹ [6].
Hoa cây Đông hầu vàng là hoa đơn, thường nở vào buổi sáng, tàn vào
buổi trưa, hoa mẫu năm, đường kính hoa 5-6cm, cuống ngắn, mọc ra từ cuống
lá, 2 lá bắc hẹp dài, 5 lá đài hình mũi mác nhọn, do các lá đài và cánh hoa họp
lại tạo thành, các thùy của tràng xếp vặn, nhị 5 xen kẽ với cánh hoa và không có
vành phụ, vòi nhụy rời và xẻ nhiều ở đỉnh (mỗi vòi có dạng bút lông), 5 cánh
hoa hình bầu dục, màu vàng, mặt trong gốc cánh hoa màu vàng nâu, có 5 nhị rời
và bầu nhẵn. Ra hoa quanh năm, rộ nhất vào mùa hè [6].

Cây Đông hầu vàng chứa chất thymol có tác dụng kích thích lên cơ thể
và giúp hồi phục hệ thần kinh. Chất này được dùng cho các bệnh nhân bị bệnh
suy nhược hay suy nhược thần kinh ở mức độ nhẹ cho đến vừa phải [41].

5


Cây Đông hầu vàng có khả năng cải thiện sức khỏe sinh sản, giúp trị
xuất tinh sớm và bất lực ở nam, điều hòa nội tiết và kinh nguyệt ở nữ [41].
Cây Đông hầu vàng có đặc tính lợi tiểu và khử trùng nước tiểu, do đó nó
được dùng để trị các bệnh nhiễm trùng các cơ quan tiết niệu như bệnh viêm
bàng quang, viêm ống dẫn nước tiểu. Bên cạnh đó, chất nhựa trong cây có tác
dụng như dịch vị dạ dày giúp tiêu hóa tốt, do đó, cây cũng được dùng để trị
bệnh táo bón do cơ ruột co bóp kém [24], [46].
Chiết xuất của Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) cùng với Parkia
platycephala Benth và Dimorphandra Gardneriana được sử dụng trong chống
nhiễm trùng giun sán ở các loại gia súc nhai lại nhỏ như ở dê [31].
Chiết xuất từ Đông hầu vàng và Mentha arvensis L. khi kết hợp với thuốc
chống nấm Metronidazole làm cho khả năng kháng nấm Candida tropicalis
được tăng cường [36].
Cao Đông hầu được cô đặc từ hơn 7 loại cây thuốc quý hiếm như Đông
hầu vàng, Thành ngạnh, Dây cóc,… có tác dụng làm căng da, mờ nhăn, kích
thích quá trình tăng sinh collagen gấp 8 lần so với bình thường, phục hồi da,
làm trẻ hóa da và chống lão hóa, làm se khít lỗ chân lông, cân bằng độ ẩm và
trị mụn hiệu quả cao [49].
Ngoài ra, các loài trong chi Đông hầu còn được sử dụng để điều trị các
bệnh như thiếu máu, viêm phế quản, ho, tiểu đường, giảm đau, phổi và các
bệnh đường hô hấp, rối loạn da [46].
Cây thuốc, vị thuốc Đông hầu vàng có thể có những dạng bào chế như
thuốc viên, bột, cao, trà, rượu thuốc. Cây thuốc này thường được dùng kết hợp

Granada, Tây Ban Nha đã nghiên cứu về hoạt tính kháng viêm đường ruột của
thân, lá Đông hầu vàng. Nghiên cứu được thử nghiệm trong mô hình viêm đại
tràng chuột do axit trinitrobenzenesulphonic (TNBS) gây ra. Kết quả thu được
cho thấy việc sử dụng chiết xuất Turnera ulmifolia đối với chuột cống ở 250 và
500 mg/kg, làm giảm đáng kể tổn thương đại tràng gây ra bởi TNBS. Tác dụng
có lợi này có liên quan đến sự cải thiện tình trạng oxy hóa đại tràng, hiệu quả

7


phòng ngừa do truyền tĩnh mạch của Turnera ulmifolia trong mô hình TNBS
của bệnh viêm đại tràng ở chuột có lẽ liên quan đến tính chất chống oxy hoá do
hàm lượng flavonoid có trong cây [23].
Năm 2009, hai nghiên cứu về khả năng kháng sinh trên các chủng vi
khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh nhóm aminoglycosides. Dựa trên các kết quả
thực nghiệm đã chứng minh, dịch chiết từ cây Đông hầu vàng có khả năng
diệt các chủng Escherichia coli và Staphylococcus aureus đã kháng kháng sinh
nhóm aminoglycosides và có tác dụng hiệp đồng khi dùng kết hợp cùng với các
loại thuốc kháng sinh như kanamycin, gentamicin, neomycin, tobramycin và
amikacin [20], [21].
Năm 2012, Brito và cs (Đại học Liên bang Rio Grande do Norte, Brazil)
đã nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa (chống carbon tetrachloride gây oxy
hóa) và tác dụng bảo vệ của Đông hầu vàng ở chuột. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, các chất glutathione và hoạt động của enzyme chống oxy hóa (glutathione
peroxidase, superoxide dismutase và catalase) đã được tăng cường đáng kể
trong chuột do uống thuốc được chiết từ lá Đông hầu vàng và có sự hiện diện
của chất flavonoid, là chất trung gian ảnh hưởng của stress oxy hóa [19].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của các bác sĩ và giáo sư tại Viện nghiên cứu Y
học Bản địa Việt Nam (Thái Nguyên và Hà Giang) đã tạo ra sản phẩm cao
Đông hầu với nhiều tác dụng tốt cho da [49].

từ 20-27oC. Điều kiện ánh sáng từ 1000-3000lux. Độ pH là 5,7-5,8 [5].
Chất kích thích sinh trưởng thực vật
Các chất kích thích sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong kĩ thuật
nuôi cấy mô tế bào thực vật. Bằng cách cung cấp các chất kích thích ở một
mức hợp lý thì chúng ta có thể điều khiển được quá trình phát sinh hình thái
của mẫu nuôi cấy.
Auxin và cytokinin là hai nhóm chất kích thích sinh trưởng được sử
dụng phổ biến nhất hiện nay. Cytokinin là hormone phân bào ảnh hưởng đến

9


sự phân chia tế bào, sự thay đổi ưu thế ngọn và phân hóa chồi trong nuôi cấy
mô tế bào thực vật. Các cytokinin được sử dụng thường xuyên nhất là: BAP,
kinetin và zeatin. Hàm lượng sử dụng các loại cytokinin dao động từ 0,5-2
mg/l. Ở nồng độ cao hơn, cytokinin có tác dụng kích thích rõ rệt đến sự hình
thành chồi bất định, đồng thời ức chế mạnh sự tạo rễ của chồi nuôi cấy. Hoạt
lực của BAP cao hơn và bền vững hơn zeatin dưới tác dụng của nhiệt độ cao.
BAP có khả năng làm tăng hình thành các sản phẩm thứ cấp và tăng kích thước
của tế bào ở các lá mầm, kích thích sự nảy mầm của hạt và quá trình trao đổi
chất [5], [7], [37]. GA (Gibberellic acid) là loại gibberellin được sử dụng thường
xuyên nhất, muốn sử dụng GA ta thường phải lọc qua màng lọc vô trùng, sau đó
đưa vào môi trường nuôi cấy. Trong số hơn 20 chất thuộc nhóm gibberellin,
GA3 là chất được sử dụng nhiều nhất trong thực tiễn. GA3 kích thích kéo dài
chồi và nảy mầm của phôi vô tính, kéo dài thân và đòng lúa, kéo dài đốt thân
(với các cây lùn), phá ngủ hạt giống hoặc củ giống (phá ngủ khoai tây sau khi
thu hoạch) [5], [7], [28].
Agar
Agar có vai trò rất cần thiết đối với mẫu nuôi cấy, làm đặc môi trường,
giúp mô không bị chìm. Agar thường được sử dụng ở nồng độ 0,6 đến 1% [5].

nuôi cấy mô, có tác dụng hấp thụ các chất màu, các hợp chất phenol, các sản
phẩm trao đổi thứ cấp, kích thích sự hình thành và sinh trưởng của rễ (Vũ Văn
Vụ, 2006). Trong thí nghiệm ảnh hưởng của than hoạt tính đến khả năng tạo rễ
của Lan kim tuyến, các tác giả Nguyễn Thị Nhật Linh và cs đã sử dụng than
hoạt tính với các nồng độ khác nhau bổ sung vào môi trường Knud + sucrose
20 g/l và agar 7g/l. Kết quả xử lý thống kê hàm Anova một nhân tố cho thấy,
nồng độ than hoạt tính khác nhau rõ ràng có ảnh hưởng đến tỷ lệ tạo rễ, chiều
dài rễ và số lượng rễ của lan Kim tuyến nuôi cấy mô theo hướng tích cực. Ở tất
cả các môi trường bổ sung than hoạt tính đều cho tỷ lệ tạo rễ là 100%. Bổ sung
than hoạt tính ở nồng độ 5% cho số lượng rễ nhiều nhất (4,22 rễ/mẫu) và chiều
dài rễ là 3,5cm, rễ mập và rất khỏe [8].

11


1.2.3. Các phương pháp nhân giống vô tính in vitro
Phương pháp nhân giống in vitro đã bổ sung cho các kĩ thuật nhân giống
vô tính cổ điển như giâm cành, chiết cành, ghép cành... Nhân giống in vitro là
một trong bốn lĩnh vực của công nghệ tế bào thực vật (làm sạch virus, nhân
nhanh các giống cây quý, sản xuất và chuyển hóa sinh học các hợp chất tự nhiên
và cải biến về mặt di truyền các giống cây trồng) và mang lại hiệu quả kinh tế
lớn [5]. Có ba phương thức tạo cây in vitro:
a. Hoạt hóa chồi nách
Hoạt hóa chồi nách bằng cách phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn khi nuôi
cấy các đỉnh chồi hoặc đoạn thân mang mắt ngủ. Theo phương pháp này thì sự
hoạt hóa của chồi nách diễn ra theo hai cách:
Cách 1: Cây phát triển trực tiếp từ chồi đỉnh hoặc chồi nách (xảy ra khi
nuôi cấy loài cây hai lá mầm như cây thuốc lá, hoa cúc, ...)
Cách 2: Tạo cụm chồi từ chồi đỉnh hoặc chồi nách (xảy ra khi nuôi cấy
cây một lá mầm như lúa, mía...)

của cây. Quan trọng nhất là đỉnh chồi ngọn, đỉnh chồi nách sau đó là đỉnh chồi
hoa, cuối cùng là đoạn thân, mảnh lá.
Bước 3: Nhân nhanh
Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng nhanh số
lượng thông qua các con đường hoạt hóa chồi nách, tạo chồi bất định và tạo
phôi vô tính. Chúng ta cần phải xác định được môi trường và điều kiện ngoại
cảnh thích hợp để có hiệu quả cao nhất. Theo nguyên tắc chung môi trường có
nhiều cytokinin sẽ kích thích tạo chồi. Nhiệt độ nuôi cấy thường là 25-27 oC,
thời gian chiếu sáng 16h/ngày với cường độ ánh sáng 2000-4000lux. Tuy
nhiên, đối với mỗi loại đối tượng nuôi cấy đòi hỏi có chế độ ánh sáng nuôi cấy
khác nhau.
Bước 4: Tạo cây in vitro hoàn chỉnh
Để tạo rễ cho chồi người ta chuyển chồi từ môi trường nhân nhanh sang
môi trường tạo rễ. Một số chồi có thể phát sinh rễ ngay sau khi chuyển từ môi
trường nhân nhanh giàu cytokinin sang môi trường không chứa chất kích thích
sinh trưởng.
13


Bước 5: Thích ứng cây in vitro ngoài điều kiện tự nhiên
Để đưa cây từ ống nghiệm ra vườn ươm với tỷ lệ sống cao, cây sinh
trưởng tốt cần đảm bảo những yêu cầu sau: Cây trong ống nghiệm đã đạt những
tiêu chuẩn hình thái nhất định (số lá, số rễ, chiều cao cây). Có giá thể tiếp nhận
cây in vitro thích hợp. Giá thể phải sạch đủ dinh dưỡng và độ ẩm, tơi xốp, thoát
nước [5], [12].
b. Tạo chồi bất định
Chồi bất định là chồi mọc ra từ các cơ quan, bộ phận khác của cây,
không phải là phôi, ví dụ chồi hình thành từ callus (mô sẹo). Để tạo chồi bất
định ta thường sử dụng các bộ phận của cây như: đoạn thân, mô lá, giẻ hành...
Trong quá trình này cần thực hiện quá trình phản phân hóa và quá trình phân

nhân giống in vitro để nhân nhanh và bảo tồn nguồn gen là hết sức cần thiết.
Một số thành tựu nhân giống in vitro đạt được là:
Năm 2003, Bedir và cs đã vi nhân giống thành công giống Hydrastis
Canadensis, một loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở miền Bắc nước Mỹ [17].
Cũng năm 2003, Part và cs đã thành công trong việc nhân nhanh và bảo
tồn cây thuốc Anemopaegma arvense trong ống nghiệm trên môi trường MS có
chứa 4% đường sorbitol, kết quả sau 6 tháng mới phải cấy chuyển một lần [33].
Năm 2008, Balaraju và cs đã nhân giống và tái sinh in vitro thành công
cây thuốc Vitex agnus castus bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào từ mô phân sinh
trên môi trường MS có bổ sung IBA 0,1 mg/l [15].
Gần đây đạt được thành tựu trong việc hoàn thiện quy trình nuôi cấy in
vitro các cây thuốc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng như Gynura procumbens,
Crotalaria verrucosa, Momordica tuberosa. Năm 2009, bằng kỹ thuật nhân giống
in vitro các nhà khoa học đã thành công trong việc nhân nhanh nhiều cây thuốc
quý hiếm như Phyllanthus urinaria hay Givotia rottleriformis [26], [35]. Park và
cs (2009) tái sinh thành công loài Rehmannia glutinosa quý hiếm đang bị khai
thác quá mức [32].

15


Ở Việt Nam việc áp dụng kỹ thuật này để bảo tồn các loài thực vật nhiệt
đới quý hiếm, có giá trị kinh tế cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, bắt
đầu từ cây Thông (Taxus sps.) là một loài có chứa các hoạt chất chữa ung thư
hiệu quả như taxoid [13].
Cây Màng tang (Litsea verticillata) là loại cây thân gỗ có chứa một số
hợp chất có khả năng kháng HIV và một số chất kháng sinh. Năm 2004, Lê
Xuân Đắc và cs đã thành công trong việc nhân nhanh và bảo tồn cây Màng
tang của vườn quốc gia Cúc Phương [5], [25], [39].
Cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L.) được biết là một vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status