Đánh giá tính tổn thương do BĐKH và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên nước huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng - Pdf 54

Khóa luận tốt nghiệp
Anh

Đinh Diệu

MỤC LỤC

Khoa Địa Chất

Ngành Quản lý TNTN


DANH MỤC HÌNH

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


DANH MỤC BẢNG

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


LỜI MỞ ĐẦU
Huyện Hòa Vang thuộc phía tây và gồm 11 xã nằm cách tTrung tâm thành phố Đà Nẵng
7km. Huyện có 11 xã, huyện bao bọc thành một vòng cung rộng lớn về phía Tây khu vực
nội thành, có với diện tích là 736,91 km2 (chiếm , bằng khoảng 78% diện tích đất của
thành phố). Tài nguyên nước của huyện phụ thuộc vào Huyện Hòa Vang có 2 sông chính

với BĐKH.

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN




Câu hỏi nghiên cứu
- BĐKH tác động thế nào đến mức độ tổn thương tài nguyên nước?
- Các giải pháp nào cần được áp dụng để sử dụng bền vững tài nguyên nước trong
bối cảnh BĐKH?



Giả thiết nghiên cứu
- Các yếu tố chi phối đến tổn thương tài nguyên nước xếp theo thứ tự giảm dần

- Các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên nước và giảm thiểu mức độ tổn
thương tài nguyên nước


Cấu trúc khóa luận

LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1: Tổng quan khu vực nghiên cứu
Chương 2: Lịch sử và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá mức độ tổn thương và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài
nguyên nước


Phía Tây giáp: huyện Hiên tỉnh Quảng Nam;

-

Phía Nam giáp: huyện Điện Bàn và Đại Lộc tỉnh Quảng Nam;

-

Phía Bắc giáp: quận Liên Chiểu và tỉnh Thừa Thiên Huế.

1.1.2. Địa hình, địa mạo
Huyện Hòa Vang có địa hình đa dạng, phức tạp, trải rộng trên cả 3 vùng: miền
núi, trung du và đồng bằng, bị chia cắt theo hướng dốc chính từ Tây Bắc xuống Đông
Nam và chia ra các dạng địa hình sau:
Vùng đồi núi: phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng 79,84%
tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Bốn xã miền núi, bao gồm Hoà Bắc, Hoà Ninh,
Hoà Phú và Hoà Liên, có độ cao khoảng từ 400-500 m, cao nhất là đỉnh núi Bà Nà (1.487
m), độ dốc lớn >400, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ý nghĩa bảo vệ môi trường
sinh thái của thành phố Đà Nẵng. Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng
... phát triển trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit.. Địa hình đất đai của vùng này thích
hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và du lịch
Vùng trung du: chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100 m,
xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà
Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện; phần lớn đất đai bị
bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít đất phù sa bồi tụ hàng năm ven khe suối. Địa
hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, có nhu cầu nước ít, chịu
được hạn.
Vùng đồng bằng: bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước vớí tổng diện
tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên. Đây là vùng nằm ở độ cao thấp 2-10 m,

và đời sống. Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2; gió
mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5 đến tháng 7. Huyện thường xuyên bị chịu ảnh
hưởng của bão, trung bình hàng năm có 1-2 cơn bão đi qua, hai năm thường có một cơn
bão lớn.
Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6; trung
bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình từ 58 đến
122 giờ/tháng
Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


1.1.4. Đặc điểm thủy văn
 Nguồn nước mặt:

Huyện Hòa Vang có 2 sông chính là sông Cu Đê và sông Cẩm Lệ.
- Sông Cu Đê: Bắt nguồn từ đầu Bạch Mã, sông chính có chiều dài 38 km. Ở
thượng nguồn có 2 nhánh là sông Bắc và sông Nam, tổng diện tích lưu vực là 426 km 2.
Tổng lượng nước bình quân hằng năm vào khoảng 0.6 tỷ m3.
- Sông Cẩm Lệ là hợp lưu của 2 sông là Túy Loan và sông Yên, có chiều dài 12
km. Sông Túy loan có lưu vực nằm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, sông Yên là hạ lưu
sông Ái Nghĩa và sông Vu Gia. Sông Yên là hạ lưu của sông Ái Nghĩa, có chiều dài
12,74km, sông Yên chảy qua các xã Hoà Tiến, Hoà Khương, Hoà Phong. Sông Vĩnh
Điện là sông nối giữa sông Thu Bồn và sông Hàn. Dòng chảy từ sông Thu Bồn theo sông
Vĩnh Điện đổ về Cửa Sông Hàn. Sông Vĩnh Điện chảy qua các xã Hoà Phước, phường
Hoà Xuân, Hoà Quý, Hòa Hải, Khuê Mỹ.
Nhìn chung chất lượng nước các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
của địa phương. Tuy nhiên do gần biển nên phần hạ lưu sông Cu Đê vào các tháng 5-6
thường có độ mặn giao động từ 1 - 5% làm ảnh hưởng nguồn nước sinh hoạt của nhân
dân.

Đất chưa sử dụng
Tổng

Diện tích (ha)

Tỉ lệ (%)

64.875,5

88.28

7.726,2

10.51

883.1

1.21

73.488,8

100.00

[Nguồn: Theo số liệu thống kê, kiểm kê đến 31/12/2012]
1.1.5.2. Tài nguyên rừng
Huyện Hoà Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong các thế
mạnh của huyện. Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 53.306,1 ha chiếm 89,3%. Trong đó,
đất rừng sản xuất là 29.794,6 ha (42,1% diện tích đất tự nhiên), tập trung chủ yếu ở Hoà
Bắc, Hoà Ninh và Hoà Phú, đất rừng phòng hộ là 12.658,7 ha (chiếm tỷ trọng 17,9% diện
tích tự nhiên), đất rừng đặc dụng là 10.852 (15,3% diện tích tự nhiên) thuộc địa bàn các

trong khu vực. Đây không phải là một ngành chiến lược cũng như quy mô sản xuất của
huyện Hòa Vang về lâu dài mà chỉ đáp ứng giải quyết cho các hộ có nghề truyền thống
lâu năm và giải quyết một số công ăn việc làm, tận dụng công nhàn rỗi trong nhân dân.
Theo số liệu điều tra của Viện Địa chất và môi trường đánh giá: Địa bàn huyện
Hòa Vang về trữ lượng cấp đất sét p 2 = 20.000.000m3. Tổng diện tích: 35km2, chiều dày
trung bình: 1,5m.

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


Đá xây dựng: Phân bố tập trung ở các xã Hòa Nhơn, Hòa Ninh, Hòa Bắc, Hòa
Sơn. Chủ yếu đá granit thuộc loại đá cứng đảm bảo chỉ tiêu vật liệu xây dựng chất lượng
cao. Hiện nay trên địa bàn đã có 46 giấp phép khai thác mỏ với diện tích khai thác là 354
ha do UBND Thành phố cấp.
Cát xây dựng: Phân bố chủ yếu ở lòng sông, các bãi bồi trên 2 nhánh sông Cu Đê
và sông Tuý Loan. Tiềm năng trữ lượng tự nhiên ước tính: V = 300.000.000m3.
1.1.5.4. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước: Trữ lượng nước ngọt lớn trên các sông Yên, sông Túy Loan,
sông Cu Đê... là nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước của thành phố Đà
Nẵng và một phần cho huyện Hoà Vang.
Trữ năng thuỷ điện của các sông trên địa bàn huyện hiện đang được Công ty Cổ
phần thuỷ điện GERUCO Sông Côn khảo sát nghiên cứu. Trước mắt Công ty này đang
triển khai đầu tư cụm dự án thuỷ điện sông Hương – Luông Đông tại xã Hoà Phú với
tổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn đầu tư khoảng 67 tỷ đồng) và cụm dự án
thuỷ điện sông Nam- sông Bắc tại xã Hoà Bắc với tổng công suất dự kiến 12 MW (tổng
vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng).
1.1.5.5 Tài nguyên du lịch và nhân văn
Với địa hình đa dạng gồm miền núi, trung du, đồng bằng nên huyện Hòa Vang


Hình 3: Cơ cấu kinh tế qua các năm huyện Hòa Vang
[Nguồn: NGTK huyện Hòa Vang năm 2013]
Tuy nhiên, là một huyện ngoại thành, đóng vai trò là vựa lúa cung cấp một phần
lương thực và hàng nông sản cho toàn thành phố nên ngành nông nghiệp của huyện vẫn
còn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế.
1.2.2. Ngành nông lâm thủy sản
Mặc dù gặp nhiều thiên tai như lũ lụt, bão, hạn hán cùng với dịch bệnh nhưng dưới
sự chỉ đạo thống nhất từ huyện đến xã, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ
trọng cao, đạt 1116.2 tỷ đồng năm 2013. Tổng diện tích lúa gieo sạ cả năm 2014 đạt
5.047 ha, năng suất bình quân cả năm đạt 62,5 tạ/ha (cao hơn năm 2013 là 4,45 tạ/ha),
sản lượng 31.545 tấn. Các loại cây trồng khác, năng suất đạt khá. Ngành chăn nuôi tiếp
tục duy trì ổn định. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển và ngày càng mang lại thu
nhập ổn định cho người dân. Nuôi trồng thuỷ sản đem lại hiệu quả kinh tế cao cho
người dân, diện tích nuôi trồng duy trì ở mức 399 ha, sản lượng đạt 634 tấn.

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


Công tác quản lý và khai thác 3 loại rừng đã được kiện toàn, mang lại kết quả rõ
nét trong ngành lâm nghiệp, góp phần lập lại kỷ cương trong công tác khai thác, chế biến
lâm sản, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Hoạt động sản
xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp có nhiều tiến bộ, đã có nhiều mô hình đạt hiệu
quả kinh tế cao, tạo việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần cải thiện bộ mặt nông
thôn miền núi.
1.2.3. Ngành công nghiệp – xây dựng
Trong năm 2013, giá trị sản xuất toàn ngành đạt 2839.7 tỷ đồng. Riêng trong
nhóm Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, thành phần công nghiệp dân doanh đóng vai

đều trên địa bàn huyện, chủ yếu tập trung ở xã Hòa Phước (1787 người/km 2), Hòa Châu
(1454người/km2), Hòa Tiến (1184 người/km2); nhưng rất thưa thớt ở xã Hòa Bắc (12
người/km 2)...

Hình 4: Cơ cấu dân số trung bình theo từng xã tại huyện Hòa Vang năm 2013
[Nguồn: NGTK huyện Hòa Vang năm 2013]
1.2.5.2. Lao động và việc làm
Theo số liệu điều tra giữa năm 2013, toàn huyện có 78439 người trong độ tuổi
lao động, chiếm 62,1% tổng dân số, trong đó có 70960 lao động có việc làm. Đây là
điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may phát
triển.
Phần lớn lao động trên địa bàn huyện đều chưa qua đào tạo hoặc chỉ mới được đào
tạo sơ cấp. Theo số liệu năm 2010, lao động chưa qua đào tạo chiếm 65%, công nhân kĩ
thuật chiếm 21.2%, trung học chuyên nghiệp chiếm 7.5 %, cao đẳng, đại học chỉ chiếm
6.3% tổng số lao động toàn huyện. Điều này thể hiện xu hướng tham gia vào thị trường
lao động giản đơn là chủ yếu.
1.2.5.3. Thu nhập và mức sống
Trong những năm gần đây, đời sống của người dân trong toàn huyện đã được cải
thiện đáng kể, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, thể
hiện ở một số chỉ tiêu trong bảng 4:
Bảng 2: Một số chỉ tiêu về thu nhập và mức sống của người dân huyện Hòa Vang
Chỉ tiêu
Thu nhập bình quân đầu

Đơn vị tính

Năm 2011

Năm 2012


100

100

100

Hộ nghèo có đến cuối năm
(Chuẩn nghèo 400.000
đồng/người/tháng trở xuống

Hộ

1969

874

831

Nhà tạm còn lại đến cuối năm

Nhà

47

73

08

[Nguồn: NGTK huyện Hòa Vang năm 2013]
1.2.6. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Nguồn điện cung cấp cho huyện chủ yếu là lưới điện quốc gia 500KV thông qua
trạm biến áp Hòa Cầm, được truyền tải đến đầy đủ các khu vực dân cư của 11 xã. Với
phụ tải điện như hiện nay thì nguồn điện vẫn đáp ứng đủ công suất tiêu thụ, tuy nhiên,
trong tương lai, khi các khu công nghiệp đi vào hoạt động thì phụ tải điện sẽ quá tải, cần
phải bổ sung hoặc thay thế các máy trung gian mới để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh
hoạt của toàn huyện.
1.2.6.4. Giáo dục – Đào tạo
Năm học 2013-2014, toàn huyện có 3 trường Trung học phổ thông, 11 trường
Trung học cơ sở, 19 trường tiểu học và 17 trường mầm non với 22.673 học sinh . Tỷ lệ
giáo viên các cấp học đạt chuẩn chuyên môn nghiệp vụ hơn 98,5%, số giáo viên
trên chuẩn đạo tạo chiếm hơn 60%.
1.2.6.5. Y tế
100% xã trên toàn huyện có trạm y tế, có bác sĩ. Song với số lượng 20 bác sĩ và
177 giường bệnh trên toàn huyện thì vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân còn nhiều
hạn chế. Năm 2013, số người tham gia BHYT đạt tỷ lệ 92,1%.
1.2.6.6. Thực trạng môi trường
Trong năm 2010, toàn huyện có 867 cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó 270 cơ
sở đạt tiêu chuẩn về môi trường (chiếm tỷ lệ 31%).
Trên địa bàn huyện có 30.046 hộ, trong đó có 19677 hộ sử dụng nước sạch hợp vệ
sinh theo tiêu chuẩn quốc gia (đạt 65,4%).

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


Tuy nhiên, nguy cơ suy thoái môi trường sinh thái, ô nhiễm môi trường không khí
và nước do hoạt động của các đơn vị khai thác cát sạn, chế biến đá chẻ trên địa bàn huyện
vẫn là điểm nóng về môi trường hiện nay.
1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường


1.3.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên, còn có nhiều khó khăn mà huyện cần phải khắc
phục trong thời gian tới như:
Diện tích rộng song đất đồi núi nhiều gây cản trở đến phát triển kết cấu hạ tầng và
phân bố lại dân cư.
Kinh tế của huyện phát triển, nhưng quy mô (GDP) còn nhỏ. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn còn những hạn chế, yếu
kém.
Sản xuất nông, lâm nghiệp mang tính thuần nông, tự cấp, tự túc; cơ cấu kinh tế
nông, lâm nghiệp đã chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, trồng trọt vẫn chiếm tỷ
trọng cao, lợi thế kinh tế rừng chưa được khai thác có hiệu quả. Sản xuất hàng hoá phát
triển chậm, sản xuất chưa gắn với thị trường, chủ yếu vẫn phát triển tự phát, quy mô nhỏ
lẻ, manh mún, giá trị hàng hoá thấp.
Quan hệ sản xuất nông thôn còn chậm đổi mới, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình,
kinh tế trang trại phát triển chậm, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá quy mô lớn.
Cơ sở hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin, bưu điện, xây dựng đô thị
chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng, với các diễn biến bất thường của khí hậu, thời
tiết; chưa đủ sức để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, hạ tầng cho nông
nghiệp và nông thôn còn rất nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất của ngành giáo dục- đào tạo,
y tế, văn hóa…còn thấp so với nhu cầu phát triển; tỷ lệ lao động không có việc làm còn
cao, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trong giai đoạn
mới, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn thấp và không đồng đều.
Nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực kỹ thuật còn có hạn, chưa đáp ứng yêu cầu
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


tích cực bởi các tác nhân liên quan đến khí hậu. Sự ảnh hưởng có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp.
Sự thích ứng (Adaptation) là điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên hoặc con người để
ứng phó với các tác động hiện tại hoặc dự kiến do khí hậu, nhằm giảm thiểu rủi ro hoặc
tận dụng và hiện thực hóa các lợi ích từ khí hậu.
Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống có thể điều
chỉnh với những diễn biến liên quan đến biến đổi khí hậu (bao gồm thay đổi thời tiết và
hiện tượng cực đoan) nhằm giảm nhẹ những thiệt hại có thể xảy ra, tận dụng các cơ hội,
hoặc để đối phó với các hậu quả của BĐKH.
Khái niệm về tính tổn thương tài nguyên nước: Từ cách tiếp cận quản lý tài
nguyên nước, tính tổn thương được định nghĩa là các đặc điểm yếu kém và thiếu sót trong

1 IPCC - Intergovernmental Panel on Climate Change
2 UNFCCC – United Nations Framework Convention on Climate Change

Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


hệ thống tài nguyên nước gây khó khăn trong việc thực hiện chức năng của hệ thống với
các mặt kinh tế xã hội và sự thay đổi môi trường. (Y.Huang and M.Cai 2009, 2)3
Để tính tính tổn thương cần xác định khái niệm về chỉ số tổn thương và chỉ số thích ứng
bao gồm:
Chỉ số tổn thương (Vulnerability Indicator) là một thông số định lượng, dùng để
đo lường tính dễ bị tổn thương và những thay đổi của tình trạng dễ bị tổn thương của một
nhóm, một cộng đồng, một khu vực,... theo thời gian. (ISET-International, 2013)
Chỉ số thích ứng (Adaptive Capacity Indicator) là thông số định lượng được sử
dụng để đo lường sự tiến triển trong việc hướng tới một mục tiêu. Bộ chỉ số thích ứng
được xây dựng và sử dụng trong quá trình xây dựng khả năng thích ứng để đo lường

- "Đánh giá tính tổn thương của tài nguyên nước mặt để thay đổi môi trường (UNEP)"
(Y.Huang and M.Cai 2009, 12) tính toán trên lực sông Hoàng Hà, Trung Quốc và có 4
hợp phần cấu thành bao gồm sức ép nguồn tài nguyên (2 chỉ số), áp lực phát triển nguồn
nước (2 chỉ số), hệ sinh thái (2 chỉ số) và khả năng quản lý (4 chỉ số). Mỗi hợp phần được
tính bằng các chỉ số. Chỉ số tổn thương được đánh giá theo 4 mức: thấp (0-0.2), trung
bình (0.2-0.4), cao (0.4-0.7), rất cao (0.7-1). Kết quả cho thấy tính tổn thương tài nguyên
nước trên lưu vực sông Hoàng Hà cao và đưa ra giải pháp về chính sách.
- "Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và tính tổn thương của hệ thống tài
nguyên nước ở các nước phát triển: Khung tổng thể và nghiên cứu khả thi ở Bangladesh"
(Animesh K. Gain, Carlo Giupponi and Fabrice G. Renaud 2012, 360). Nghiên cứu đánh
giá tính tổn thương và khả năng thích ứng của tài nguyên nước với biến đổi khí hậu và
đưa ra bộ chỉ số tổn thương được tính trên lưu vực sông tại Bangladesh. Bộ chỉ số tổn
thương được cấu thành từ 4 chỉ số: chỉ số phơi bày (1 chỉ số), chỉ số nhạy cảm (3 chỉ số),
chỉ số phục hồi (1 chỉ số) và chỉ số khả năng thích ứng (2 chỉ số). Từ kết quả tính được
cho thấy tài nguyên nước trên lưu vực sông này chịu sức ép từ sự yếu kém trong quản lý
nguồn nước, thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành và đánh giá giám sát không hiệu quả.
Do đó đánh giá tổn thương đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quản lý tài
nguyên nước
- "Các chỉ số tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới tài nguyên nước tạo Hoa Kỳ"
(Melissa E. Lane, Paul H. Kirshen and Richard M. Vogel 1999, 2). Nghiên cứu trên các
lưu vực sông tại nước Mỹ, các chỉ số tác động được chia làm hai phần gồm chỉ số kinh tế
xã hội (8 chỉ số) và chỉ số môi trường (8 chỉ số). Kết quả về chỉ số tác động được dùng để
so sánh với kịch bản BĐKH tại Mỹ.
Có thể thấy chỉ số tổn thương tài nguyên nước được tính toán theo phạm vi lưu
vực sông trên lãnh thổ hoặc vùng/địa phương. Một số nghiên cứu tính chỉ số tổn thương
theo 3 hợp phần hoặc 5 hợp phần và có ý nghĩa lớn trong việc định hướng quản lý tài
nguyên nước và đưa ra hạn chế trong chính sách, đề xuất các giải pháp. Tuy nhiên, các
Khoa Địa Chất

-1Ngành Quản lý TNTN


-1Ngành Quản lý TNTN


- “Tác động của nước biển dâng và các biện pháp thích ứng ở Việt Nam” và “Tác động
của BĐKH đến tài nguyên nước ở Việt Nam và các biện pháp thích ứng” (2008-2009), do
Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA Đan Mạch.
Biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính gây ra tính tổn thương cho hệ sinh thái, tài
nguyên thiện nhiên như đất, rừng và đặc biệt là tài nguyên nước. Tuy nhiên các nghiên
cứu này mới chỉ đưa ra các biện pháp thích ứng, nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH
mà chưa đề cập đến việc tính tổn thương hay chỉ số tổn thương để đánh giá khả năng
thích ứng của vùng nghiên cứu.
Một số công trình nghiên cứu đánh giá mức độ tổn thương tại Việt Nam do GS.
Mai Trọng Nhuận và ThS. Nguyễn Thị Hồng Huế thực hiện như sau:
- "Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên địa chất, định hướng sử dụng bền vững vịnh
Gành Rái, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu."
- "Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương đới ven bờ Phan Thiết – Hồ Tràm, Việt Nam phục
vụ phát triển bền vững."
Các công trình nghiên cứu về đánh giá mức độ tổn thương ở Việt Nam mới chỉ đánh giá
về tài nguyên địa chất hoặc đới ven bờ mà chưa đi sâu vào tính tổn thương tài nguyên
nước. Đồng thời những nghiên cứu này cũng không thực hiện bằng cách tính chỉ số để
đánh giá mức độ tổn thương.
Một số công trình nghiên cứu về đánh giá tính tổn thương tài nguyên nước được
nghiên cứu tại Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn, ThS. Trịnh Minh Ngọc thực
hiện như:



"Đánh giá tính dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ Đáy".


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status