Sốt xuất huyết Dengue - Pdf 54

Säút xuáút huyãút Dengue
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
Mục tiêu
1. Trình bày được đường lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue.
2. Phân loại được sốt xuất huyết Dengue theo 4 mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng .
3. Xử trí được sốt xuất huyết Dengue theo từng mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng
4. Hướng dẫn được các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue.
1. Vài nét về dịch tễ và đường lây truyền bệnh
Dengue xuất huyết hiện là vấn đề y tế quan trọng ở nước ta. Ở 19 tinh phía nam, từ năm 1985
đến 1996 đã có 490.541 bệnh nhân mắc Dengue xuất huyết và chết 3.421 em . Hiện nay bệnh
xảy ra có tính chất địa phương. Hàng năm dịch Dengue xuất huyết xảy ra từ tháng 6 đến tháng
11, đỉnh cao là tháng 7, 8, 9 và phù hợp với quy luật phát triển của muỗi Ae. Aegypti . Lứa
tuổi mắc nhiều nhất là 5 đến 9 tuổi, không có sự khác biệt giữa nam và nữ, theo dõi qua hàng
năm cả 4 típ virus đã được phân lập, tỷ lệ tử vong 0,28% .Virus Dengue được truyền cho
người do muỗi đốt. Nguồn dự trữ chính của virus là người.
1.1 Virus Dengue
Có 4 type huyết thanh ký hiệu DEN. 1 , DEN. 2 , DEN. 3 , DEN. 4 mà về tính kháng nguyên
thì rất gần nhau. Sau một giai đoạn ủ bệnh 4 - 6 ngày, virus hiện diện trong máu của bệnh
nhân trong suốt giai đoạn cấp tính của bệnh.
1.2 Véctơ truyền bệnh
Trung gian truyền bệnh hiệu quả nhất là muỗi Aedes aegypti bởi vì loại muỗi này sống trong
nhà, muỗi cái đốt người vào ban ngày.
2. Cơ chế bệnh sinh
Có hai biến đổi chính :
2.1 Tăng tính thấm mao mạch
Hiện tượng này làm thoát huyết tương từ ngăn mạch vào tổ chức kẻ . Hậu quả là máu bị cô
đặc (Hct tăng), hiệu số huyết áp kẹp và nếu thể tích huyết tương giảm đến mức nguy hiểm thì
gây ra các dấu hiệu choáng.
2.2 Rối loạn quá trình cầm máu - đông máu
Tác động lên cả 3 yếu tố chính của quá trình này: biến đổi thành mạch, giảm tiểu cầu và đông
máu nội quản. Cho đến nay, người ta vẫn chưa xác định được bản chất các chất trung gian hoá

dính với nhau thành những vòng tròn nhỏ mà ở giữa là vùng da bình thường, dấu phát ban
dạng dát - sẩn hoặc ban dạng sởi, chảy máu mũi, chảy máu lợi răng, và nôn ra máu, gan
thường sờ được vào lúc khởi đầu sốt, dấu gan lớn thường gặp nhiều hơn trong trường hợp
choáng. Gan rất đau khi sờ, một khi sốt giảm thì tất cả các triệu chứng khác giảm dần
3.2.2 Dengue xuất huyết có choáng
Trong thể nặng này, sau vài ngày sốt, tình trạng bệnh nhân đột ngột xấu đi . Khi nhiệt độ hạ
hoặc sau khi nhiệt độ hạ một thời gian ngắn, nghĩa là trong khoảng giữa ngày thứ 3 và ngày
thứ 7 thì bệnh nhân có những dấu chứng đặc trưng cho tình trạng choáng là mạch nhanh và
yếu, huyết áp kẹp (hiệu số tối đa - tối thiểu < 20 mmHg) không kể trị số huyết áp là bao nhiêu
hoặc huyết áp tụt, Da lạnh và rịn ướt, vật vã kích thích. Không được điều trị thích đáng ngay
thì có thể tử vong trong vòng 12 - 24 giờ hoặc là phục hồi khá nhanh sau khi được điều trị
thích đáng. Trong giai đoạn bệnh hồi phục, người ta thường thấy có dấu mạch chậm hoặc nhịp
xoang không đều, nhịp tim chậm.
4.Tiêu chuẩn chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue
4.1 Các tiêu chuẩn lâm sàng
4.1.1 Sốt
Đột ngột, cao, liên tục trong 2 - 7 ngày.
4.1.2 Biểu hiện xuất huyết
Có dấu dây thắt (+) hoặc một số biểu hiện xuất huyết như chấm xuất huyết, đốm xuất huyết,
mảng xuất huyết, chảy máu mũi, chảy máu lợi răng, nôn ra máu và ỉa ra máu.
4.1.3 Gan lớn
Có 80 - 90% bệnh nhân có gan lớn, đau, không kèm theo vàng da
4.1.4 Tình trạng choáng
Biểu hiện bằng dấu mạch nhanh, huyết áp kẹp hoặc huyết áp tụt, da lạnh ướt và tình trạng vật
vã kích thích, lơ mơ, đái ít.
4.2 Các tiêu chuẩn xét nghiệm
4.2.1 Giảm tiểu cầu
Tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3.
4.2.2 Cô đặc máu Hct tăng lên quá 20% so với trị số bình thường
Để chẩn đoán Sốt xuất huyết Dengue, chỉ cần có 2 tiêu chuẩn lâm sàng đầu tiên (sốt + xuất

(Hct > 43%), hoặc có dấu mất nước lâm sàng độ 2. Lượng dịch cho truyền được tính giống
như lượng dịch truyền cho trẻ mất nước trung bình .
Theo dõi sát bệnh nhân. Nếu có những triệu chứng tiền choáng hay choáng thì bệnh nhân phải
được điều trị hồi sức tích cực .
6.2 Điều trị Sốt xuất huyết Dengue thể có choáng (độ 3 và 4)
Điều trị này không khuyến cáo cho các tuyến y tế cơ sở, điều trị này nên ở các tuyến y tế cao
hơn, và cần tham khảo thêm phát đồ điều trị sốt xuất huyết Dengue của Bộ Y tế.
6.2.1 Thay thế ngay lập tức thể tích huyết tương đã mất
Bắt đầu ta cho truyền dung dịch Ringer lactate hoặc NaCl 0.9% với số lượng 20 ml/kg, chảy
nhanh tối đa. Nếu choáng nặng thì phải bơm trực tiếp tĩnh mạch.Trong trường hợp choáng đã
kéo dài, thì sau khi cho 20 ml/kg loại dịch nói trên, ta cho truyền tiếp dung dịch plasma hoặc
một chất thay thế plasma (như Dextran 40) với tốc độ 10 - 20 ml/kg/giờ. Trong hầu hết các
trường hợp, không cần thiết phải cho quá 20 - 30 ml plasma/kg (hoặc quá 10 - 15 ml
Dextran/kg).
6.2.2 Tiếp tục thay thế lượng huyết tương đã mất dựa vào Hct
Ngay cả khi thấy bệnh nhân cải thiện các dấu hiệu sống một cách rõ rệt và Hct có giảm
xuống, ta cũng phải cho truyền dịch tiếp với tốc độ 10 ml/kg/giờ rồi sau đó điều chỉnh tuỳ
theo mức độ thoát huyết tương vì hiện tượng thoát huyết tương còn tiếp tục trong 24 - 48 giờ.
Dịch cho trong giai đoạn này là Dextrose 5% hoặc 1/2 Ringer lactate với 1/2 Glucose 5% ,
hoặc 1/2 NaCl 0.9% với 1/2 Glucose 5%. Trong các trường hợp có choáng nặng không phải
dễ dàng phục hồi thì đôi khi phải đo áp lực tĩnh mạch trung tâm. Khi nào thì ngưng truyền
dịch ? Nên ngừng truyền dịch khi Hct giảm xuống mức 40% và khi thấy bệnh nhân thèm ăn
trở lại. Dấu chứng có giá trị cho ta biết thể tích huyết lưu đã thoả đáng là số lượng nước tiểu
gần bình thường.
6.2.3 Điều chỉnh các rối loạn điện giải và chuyển hoá nếu có
6.2.4 An thần: Nên cho an thần đối với bệnh nhân vật vã, kích thích.
6.2.5 Liệu pháp oxy : thở oxy qua mũi với tất cả các bệnh nhân
6.2.6 Vấn đề truyền máu : Tất cả bệnh nhân bị choáng đều cần phải cho phân loại nhóm máu
và khi trên lâm sàng có chảy máu nặng thì có chỉ định truyền máu.
6.2.7 Theo dõi điều trị choáng : Để đánh giá tốt kết quả điều trị, cần phải theo dõi các dấu

83


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status