Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh (PRRS) ở lợn bằng bộ kít POCKIT, xác định một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát, đề xuất biện pháp phòng chống tại tỉnh tuyên quang - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ MINH THẢO

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI
XANH (PRRS) Ở LỢN BẰNG BỘ KÍT POCKIT, XÁC
ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY
VIÊM PHỔI KẾ PHÁT, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG
CHỐNG TẠI TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ
Y

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ MINH THẢO

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH
TAI XANH (PRRS) Ở LỢN BẰNG BỘ KÍT POCKIT,
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG
GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Thú y
Mã số: 8.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ

ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành luận văn của mình, tôi đã nhận
được sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học
Nông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang
và các cơ quan hữu quan thuộc Cục Thú y. Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt
tình của bạn bè, sự giúp đỡ, động viên của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo GS.TS. Nguyễn
Thị Kim Lan và Thầy giáo TS. Nguyễn Văn Quang đã rất tận tình và trực tiếp
hướng dẫn tôi thực hiện thành công đề tài và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, khoa
Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực
hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn Bộ môn Vi trùng, Virus - Viện Thú y Quốc gia, Trung Tâm
Chẩn Đoán Thú y Trung Ương và Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang,
các anh chị tại cơ sở thực tập đã hợp tác, giúp đỡ tôi bố trí thí nghiệm, phân tích các
chỉ tiêu và thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè
đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận
văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày tháng năm 2018
Học viên
Vũ Minh Thảo


3

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i


4

2.1.2. Thời gian nghiên cứu: ...................................................................... 28
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu ........................................................................ 28
2.2. Vật liệu nghiên cứu ................................................................................. 29
2.2.1. Các loại mẫu thu thập ....................................................................... 29
2.2.2. Động vật thí nghiệm ......................................................................... 29
2.2.3. Vắc xin phòng bệnh Tai xanh- AMERVAC®PRRS ........................ 29
2.2.4. Bộ kit POCKIT chẩn đoán nhanh bệnh Tai xanh. ........................... 30
2.2.5. Các loại hoá chất, môi trường và nguyên vật liệu khác ................... 30
2.2.6. Máy móc thiết bị .............................................................................. 31
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................... 31
2.3.1. Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn tại 5 huyện,
thành phố của tỉnh Tuyên Quang. .............................................................. 31
2.3.2. Phân lập và nghiên cứu một số đặc điểm của 3 loại vi khuẩn
A.pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis. ........................................... 31
2.3.3. Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh Tai
xanh
ở lợn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. ........................................................ 32
2.4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 32
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu ....................................................................... 32
2.4.2. Phương pháp xác định sự lưu hành của virus prrs ........................... 33
2.4.3. Phương pháp nuôi cấy phân lập, xác định đặc tính sinh hóa của vi
khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis. .............................. 33
2.4.4. Phương pháp xác định mức độ bảo hộ của vắc xin amervacprrs. .... 33
2.4.5. Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của
các chủng vi khuẩn phân lập được ............................................................. 33
2.4.6. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn. ........................ 34
2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................ 34

3.3.2. Xác định khả năng bảo hộ của vắc xin AMERVAC®PRRS phòng
bệnh Tai xanh trên lợn tại Tuyên Quang.................................................... 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................... 71
1. Kết luận ...................................................................................................... 71
2. Kiến nghị.................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 74


6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADN:

Acid Deoxyribonucleic

A.

pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae

CAMP:

Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson

CFU:

Colony Forming Unit

CPS:

Capsule polysaccharide


multocida: Pasteurella multocida

PRRS:

Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome

PRRSV:

Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome

Virus Sta. aureus:

Staphylococcus aureus

S. suis:

Streptococcus suis

TSA:

Tryptic Soya Agar

TSB:

Tryptone soya broth

VK:

Vi khuẩn

Bảng 3.10. Mức độ mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn
A. pleuropneumoniae phân lập được .......................................... 53
Bảng 3.11: Mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của vi khuẩn
P. multocida phân lập được ........................................................ 55
Bảng 3.12. Mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của vi khuẩn S. suis
phân lập được
...................................................................................... 56
Bảng 3.13. Tổng hợp khả năng mẫn cảm kháng sinh

của vi khuẩn

A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis phân lập được .. 58
Bảng 3.14. Thử nghiệm hiệu lực của ba phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn61
Bảng 3.15. Ứng dụng hai phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn tại thành phố
Tuyên Quang .............................................................................. 64


8

Bảng 3.16. Chỉ tiêu sinh lý của lợn trước và sau khi tiêm vắc xin ............... 66
Bảng 3.17. Biểu hiện của lợn trước và sau khi tiêm vắc xin ........................ 66
Bảng 3.18. Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 1 tháng ........... 67
Bảng 3.19. Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 2 tháng ........... 68
Bảng 3.20. Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 3 tháng ........... 69
Bảng 3.21. Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 4 tháng ........... 70


9

DANH MỤC CÁC HÌNH

nhanh hơn so với chăn nuôi trâu, bò. Vì vậy, một số hộ trên địa bàn tỉnh đã có
hướng chuyển đổi sang chăn nuôi lợn tập trung theo hướng công nghiệp và bán công
nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Mặc dù được quan tâm phát triển, song nghề chăn nuôi lợn trên địa bàn còn
gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, phương thức chăn nuôi lợn chủ yếu vẫn
phát triển theo hướng nhỏ lẻ; việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào chăn
nuôi còn nhiều hạn chế; chuyển dịch phương thức chăn nuôi còn chậm, chưa tương
xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Một trong những bệnh có khả năng lây lan
nhanh và gây thiệt hại nhiều cho chăn nuôi lợn là hội chứng rối loạn hô hấp và sinh
sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome - PRRS), còn gọi là bệnh
Tai xanh ở lợn. Bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn nái, gây sảy
thai hoặc đẻ non, lợn con sơ sinh yếu, chết thai, thở khó, đôi khi có triệu chứng thần
kinh, tỷ lệ chết cao, lợn thịt giảm ăn, sút cân, lợn đực chất lượng tinh giảm… Từ
năm 2007 - 2016, bệnh đã bùng phát ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Lần đầu tiên
dịch lợn Tai xanh bùng phát ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lan
nhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc. Các năm tiếp theo dịch PRRS tiếp tục bùng
phát ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có các tỉnh đồng bằng sông
Hồng. Mặc dù bệnh chưa xảy ra tại tỉnh Tuyên Quang nhưng nguy cơ bệnh phát
sinh và lây lan trên địa bàn tỉnh là rất
lớn.
Để xét nghiệm virus gây bệnh Tai xanh ở lợn, cơ quan chuyên môn Thú y
phải gửi mẫu về các phòng Thí nghiệm hiện đại và phải 3 – 5 ngày sau mới có kết
quả, vì vậy công tác phòng chống dịch bệnh gặp nhiều khó khăn.


2

Khi lợn mắc bệnh Tai xanh thường bị suy giảm miễn dịch, tạo điều kiện cho
nhiều loại bệnh khác kế phát, trong đó có bệnh viêm phổi, làm cho bệnh nặng hơn
và làm chết nhiều lợn, gây những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.Nhiều

3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Bệnh Tai xanh - Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn
Trong những năm gần đây, một trong những bệnh được nhắc đến nhiều là
bệnh Tai xanh - hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive
and Respiratory Syndrome - PRRS). Bệnh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào đầu
những năm 1980, sau đó bệnh xuất hiện ở Châu Âu, Châu Á. Bệnh được xác định là
do một loại virus có khả năng xâm nhiễm vào đại thực bào và mô bào (Bùi Quang
Anh và Nguyễn Văn Long, 2007) [2]. Thông thường thì đại thực bào sẽ tiêu diệt tất
cả vi khuẩn, virus khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Song virus PRRS có khả năng
nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%). Đại
thực bào bị tiêu diệt sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng
nguy cơ nhiễm bệnh kế phát. Điều này thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo hoặc chuẩn
bị giết thịt, ở chúng có sự tăng đột biến tỷ lệ viêm phổi, gây nhiều thiệt hại cho
người chăn nuôi. Khi mắc PRRS lợn nái thường có biểu hiện sốt, kém ăn, thở khó,
sảy thai; Ở lợn nái chửa kỳ cuối thấy tăng số lượng lợn con chết khi đẻ hoặc vẹo
chân, yếu và chết. Ở lợn nuôi thịt, triệu chứng hô hấp thường nặng, thường kết hợp
với các bệnh khác (Thành Thuận, 2002) [41]. Khi có ổ dịch cấp tính xảy ra, tổng
đàn bị giảm 5 - 20%, lợn nái đẻ giảm từ 1 - 3,8 lợn con/nái/năm, thiệt hại khoảng
100 - 155 USD/nái/năm (Hoàng Văn Năm, 2002) [25]. Thể mạn tính của PRRS làm
cho lợn thịt chậm lớn, tăng chi phí thuốc điều trị các bệnh kế phát.
1.1.1. Một số đặc điểm của virus PRRS
1.1.1.1. Hình thái và cấu trúc của virus PRRS
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae,
giống Nidoviralesgây ra. Virus PRRS có cấu trúc ARN mạch đơn, có đường kính 40
- 70 nm, có vỏ bọc, kích thước genome dài 14,5 kb mã hoá cho việc tái tạo virus
(Jeong-Ki Kim và cs,
2005) [58]. Chuỗi hệ gen đầy đủ của virus PRRS được xác lập vào năm 1993, nó có

này có thể giúp nó tương tác dễ dàng hơn với bộ gen ARN. Protein N hiện diện ở
mức độ cao trong những tế bào bị nhiễm virus PRRS và chiếm từ 20 - 40% lượng
protein của phân tử virus. Hiện nay protein N được dùng như là một kháng nguyên
để phát hiện kháng thể trong huyết thanh của lợn.
Protein M có trọng lượng phân tử khoảng 18 kDa. Mặc dù chức năng của nó
được biết rất ít nhưng nó được xem như có vai trò trong sự kết hợp với thụ thể trên
tế bào đích, vì protein M kết hợp GP5 tạo phức hợp M-GP5 để kết hợp với thụ thể
trên tế bào đích.
Kháng thể đơn dòng kháng protein N là chủ yếu, đồng thời cũng kháng
một số protein khác mà người ta chưa xác định được về mặt cấu trúc. Những
nghiên cứu của (Benfield, Nelson và cs 1999) [51] cho thấy các chủng virus Châu
Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất
định so với chủng virus của Châu Mỹ. Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự
tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên.
Các virus PRRS gây bệnh hiện nay tại một số nước tại Châu Á và một số
quốc gia ở Nam Mỹ, Úc, New Zealand, Thụy Điển và Thụy Sĩ đã được xác
định là từ hai chủng virus trên.


5

Về mặt di truyền, khi phân tích gene của các dòng virus PRRS gây bệnh khác
nhau, người ta xác định được 2 dòng virus riêng biệt: dòng Châu Âu (Lelystad) và
dòng Châu Mỹ (VR-2332), hai dòng virus này không những khác biệt về đặc tính
gây bệnh mà khác nhau về mức độ nhất định về kiểu gene (Allende R và cs 1999)
[48]. Qua phân tích gene và theo dõi sự thay đổi trình tự Nucleotit của các dòng
PRRS, người ta đã xác định rằng ở dòng Châu Mỹ, các ORFs 7 và 6 có tính ổn định
rất cao, chúng gần như không thay đổi trong suốt quá trình tiến hoá của dòng virus
này. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa dòng virus Châu Âu và Châu Mỹ ở 2 khung đọc
mở này là rất rõ, chẳng hạn sự tương đồng về trình tự axit amin của ORFs 7 giữa 2


phổ biến hơn kiểu gen I. Còn các nước trong khu vực Đông Nam Á chỉ có loại II.
Một phân tích của tất cả các HP-PRRSV trong khu vực Đông Nam Á cho thấy bốn
nhánh riêng biệt - A (SX2009-like), B (09HEN1-like), JXA1-như và GXFCH08
giống - phản ánh bốn nhánh khác nhau của những loại virus này là ở Thái Lan, Lào,
Campuchia và Việt Nam (Jantafong và cs 2015 [57]).
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận
định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung
Quốc (Nguyễn Văn Cảm và cs, 2011 [6]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [37]; Lý Thị
Liên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [19]).
1.1.1.2. Sức đề kháng của virus
Cũng giống như những virus khác, virus PRRS có khả năng tồn tại lâu ở
môi trường có nhiệt độ thấp, đề kháng kém với nhiệt độ cao và các chất sát
trùng thông thường, môi trường có pH axit.
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs. (2013) [16], virus gây PRRS có thể tồn tại một
năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -70oC; trong điều kiện 4oC virus có thể sống một
tháng. Với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRS có sức đề kháng kém: 37oC
chịu được 48 giờ, 56oC bị chết sau một giờ. Với các chất sát trùng thông thường và
môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt. Dưới tác động trực tiếp của ánh
nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại virus nhanh chóng bị tiêu diệt.
1.1.1.3. Khả năng gây bệnh của virus
Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang
thai thường mẫn cảm hơn cả. Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi là
nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [36].
Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ
cầm có vịt trời (Mallard duck) là mẫn cảm. Virus có thể nhân lên ở loài động vật
này và đây chính là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế
(Albina và cs, 1994) [47].
Về độc lực, người ta thấy virus PRRS tồn tại dưới 2 dạng, đó là dạng cổ điển
và dạng biến thể độc lực cao. Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc

Khi virus xâm nhập vào cơ thể làm suy giảm miễn dịch, mở đường cho những
vi sinh vật cơ hội như: Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis, Streptococcus
suis, A. pleuropneumoniae, Chlamydia psittaci, Leptospira interrogans, virus giả dại
virus cúm, Enterovirus, Parvovirus,… phát triển và gây bệnh
Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát
bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp, đường ruột như A. pleuropneumoniae, P.
multocida, S. suis, Escherichia coli, Salmonella spp, Clostridium perfringens. Kết
quả phân lập được vi khuẩn A. pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất (63,33%) và
thấp nhất là P. multocida (10%). Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát
trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn (Tiêu Quang An và Nguyễn
Hữu Nam, 2011)
[1].
Trên lợn nái mang thai, virus ở dạng tự do hay kết hợp với các tế bào bạch
cầu, tế bào đơn nhân trong dòng máu để đến cơ quan sinh sản. Cảm nhiễm có thể
xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình mang thai nhưng biểu hiện lâm sàng phụ
thuộc phần lớn vào giai đoạn nhiễm trùng của bào thai và độc lực của chủng virus
gây bệnh.


8

Nhiễm trùng ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của kỳ mang thai không có hay chỉ
có tác động nhẹ so với cảm nhiễm ở giai đoạn sau. Cảm nhiễm xảy ra trong thời kỳ
phôi thường có mức độ biểu hiện bệnh rất thấp vì tế bào phôi chưa biệt hoá, không
thích hợp cho sự nhân lên của virus. Trong khi ở giai đoạn sau của kỳ có mang,
nhau thai và mạch máu nuôi thai rất phát triển, nhau thai trở thành bộ phận trao đổi
chất cần thiết, đồng thời là cầu nối truyền virus và kháng thể chống virus từ mẹ sang
thai.
Nhiễm trùng giai đoạn này tạo ra nhiều vết bong tróc nhỏ trên tế bào biểu mô

cũng từ lợn mẹ virus có thể lây nhiễm cho bào thai ở giai đoạn giữa thai kỳ trở đi
và virus được bài thải qua nước bọt và sữa.
Lợn lớn bài thải virus trong vòng 14 ngày trong khi đó lợn con và lợn choai
có thể bài thải virus trong 1 - 2 tháng có khi đến 157 ngày (Jeong - Ki Kim, 2005)
[58].
* Lây lan gián tiếp:
Lợn có thể mắc bệnh qua chất bài tiết như dịch mũi, phân hoặc qua không khí
(có thể đi xa 3 km) ở môi trường xung quanh một cách hiệu quả đặc biệt khi ẩm độ
cao, nhiệt độ thấp và tốc độ gió mạnh (Thomas Blaha và cs, 2005) [69].
Ngoài việc vận chuyển lợn bệnh vào đàn cảm nhiễm và lây lan qua không khí
thì ít có bằng chứng nói về cách truyền lây khác. Tuy nhiên, người ta còn thấy việc
lây lan trong đàn giống còn theo con đường truyền tinh dịch (thụ tinh nhân tạo). Ở
những lợn đực giống nhiễm bệnh, tinh dịch có thể gây bệnh cho đàn chưa có miễn
dịch với mức độ biểu hiện tuỳ thuộc vào kích cỡ đàn, mật độ nuôi và tình trạng vệ
sinh. Như vậy, lợn đực giống cũng là đối tượng truyền lây virus quan trọng trong
đàn.
1.1.3. Triệu chứng
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy: lợn bệnh thường có các triệu chứng
đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy tốc độ lây lan
nhanh. Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và
một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn.
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn nái


10

Lợn nái ở giai đoạn mang thai:
Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7 - 14 ngày, sốt 39 40oC, sảy thai thường vào giai đoạn cuối thai kỳ, tai chuyển màu xanh trong khoảng
thời gian ngắn, đẻ non, động đực giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc


(PCV2), Mycoplasma hyopneumonia,

Streptococcus suis, Salmonella choleraesuis, làm cho tỷ lệ tử vong cao từ 30 - 50%.
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn đực giống:


11

Lợn đực giống biểu hiện sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có
hiện tượng Tai xanh. Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ,
(chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng
phấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm, 2007 [25]).Lượng tinh dịch thường ít,
chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạt
lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới
70% và độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 2 x 103. Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục
được khả năng sinh sản (Nguyễn Như Thanh và cs, 2007 [35]).
1.1.4. Bệnh tích
1.1.4.1. Bệnh tích đại thể
Bệnh tích đại thể của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn phụ thuộc
nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến của bệnh. Bệnh tích đặc trưng của
bệnh là viêm phổi hoại tử, các đám phổi bị đặc chắc ở các thuỳ phổi. Thuỳ phổi bị
bệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (nhục hoá). Trên bề mặt cắt
ngang của đám phổi bệnh thường lồi ra và khô. Nhiều trường hợp viêm phế quản
phổi hoá mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh. Về mặt tổ chức học thường thấy dịch thẩm
xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào,
một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân. Một bệnh tích đặc trưng
nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị
nhăn lại, thường thấy đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam

các quần thể tế bào đơn nhân, dịch thẩm xuất vào phế nang; biểu mô phế nang tăng
sinh, hoại tử, xen kẽ hồng cầu. Tại một số vùng phổi, tế bào biểu mô phế quản tận
trương phồng hoặc hoại tử. Đặc biệt nhiều vùng có hình ảnh các phế nang xẹp,
không quan sát thấy khoảng trống.
1.1.5. Chẩn đoán
1.1.5.1. chẩn đoán lâm sàng
Theo Benfiled (1999) [24],khi trong đàn lợn có dấu hiệu rối loạn hô hấp trên
các lứa tuổi, sinh sản bất ổn và năng suất đàn giảm hơn bình thường thì có thể nghi
ngờ bệnh do virus PRRS và dẫn liệu của Hoàng Văn Năm (2001) [11] có cơ sở nghi
ngờ bệnh khi: tỷ lệ chết lúc sinh > 20%, tỷ lệ sảy thai >8%, tỷ lệ lợn con chết trước
khi cai sữa > 26%, tỷ lệ lợn con chết trong tuần đầu tiên vượt quá 25%, .
Tuy nhiên, để xác định đúng căn bệnh cần thực hiện các phương pháp chẩn
đoán phi lâm sàng khác.
1.5.2.Chẩn đoán huyết thanh học
* Phản ứng IPMA (Immunoperoxidase MonolayerAssay)
Đây là phản ứng đầu tiên được sử dụng để phát hiện kháng thể kháng virus
PRRS được gọi là kỹ thuật miễn dịch peroxidase một lớp. Kỹ thuật này có thể thực
hiện trên các dòng tế bào PAM, CL2621, MARC-145. Tế bào sau khi nuôi cấy 24
giờ sẽ được gây nhiễm với PRRS và được ủ ở 370C trong 24 giờ. Sau đó tế bào được
gây nhiễm sẽ được cố định và tác dụng với huyết thanh mẫu, ủ khoảng 1 giờ ở 370C
và được cho tác dụng tiếp tục với kháng kháng thể lợn cộng hợp HRPO. Nếu mẫu
huyết thanh có chứa kháng thể kháng virus thì 30 -50% tế bào sẽ có màu đỏ khi cho
lớp tế


13

bào tác dụng với dung dịch chromogetrong 30 phút. Không có sự thay đổi màu của
tế bào khi kết quả là âm tính. IPMA được sử dụng nhiều ở châu âu. Trong chẩn đoán
phát hiện thú nhiễm sớm, người ta thường sử dụng IPMA vì xét nghiệm này cho

đẳng nhiệt (iiPCR) để phát hiện RNA của virus gây bệnh Tai xanh chủng Trung
Quốc. Bộ kit này được thiết kế để sử dụng với thiết bị POCKIT Nucleic Acid
Analyzer. Người dùng thường là bác sĩ thú y hoặc kỹ thuật viên, hoặc những người
mà có kỹ năng cơ bản trong phòng thí nghiệm.Bộ kit sử dụng cho mục đích phát
hiện bệnh hoặc cho mục đích nghiên cứu.
Nguyên lý phát bệnh: Việc phát hiện virus gây bệnh Tai xanh Trung Quốc dựa
vào công nghệ iiPCR. Cùng với các cặp mồi đặc hiệu, đầu dò huỳnh quang được sử
dụng để tạo ra tín hiệu huỳnh quang khi chuỗi RNA đích của PRRSV-CN được
khuếch đại. Mồi và đầu dò huỳnh quang chỉ gắn vào RNA đích của virus và không
kết hợp với DNA của lợn và axit nucleic của loài khác.


14

1.1.5.4. Các phương pháp chẩn đoán khác
*Các phương pháp phát hiện kháng nguyên
Phương pháp FA và IHC có thể được sử dụng để phát hiện kháng nguyên
virus trong mẫu mô.
Phương pháp FA có thể thực hiện trực tiếp trên các mẫu đông lạnh, phương
pháp này cho kết quả nhanh và chi phí thấp, tuy nhiên lại có độ nhạy và độ đặc hiệu
không cao để đảm bảo kết quả chẩn đoán, mẫu cần được lấy và làm lạnh nhanh.
Phương pháp IHC cũng được thực hiện trên mẫu mô cắt lát, tuy nhiên phương
pháp này có thể thực hiện với các mẫu mô đã được cố định bằng formol, điều này là
khá quan trọng vì rất thuận lợi trong việc bảo quản mẫu bệnh phẩm. IHC có độ nhạy
cao hơn so với FA nhưng mất nhiều thời gian và tốn chi phí hơn (Nguyễn Ngọc Hải
2007) [5].
*Phát hiện gen của virus PRRS
Kỹ thuật PCR được phát triển để phát hiện RNA của virus PRRS trong các
mẫu bệnh phẩm. Kỹ thuật này không những có độ đặc hiệu và độ nhạy cao mà thời
gian cần thiết thực hiện xét nghiệm cũng ngắn hơn so với phương pháp nuôi cấy tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status