Đề tài: Biện pháp chỉ đạo giáo dục đạo đức ở trường tiểu học - Pdf 55

Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Lịch sử xã hội đã chứng minh: con người là “trung tâm”, là “động lực” của
sự phát triển. Đất nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội, thực hiên công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính vì vậy vấn đề nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát
triển đất nước. Ngành giáo dục và đào tạo có sứ mệnh hết sức cao cả và vẻ vang là
“ nâng cao nhân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ:
“Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo
dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững”. Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến sự nghiệp giáo
dục, chú trọng đến sự phát triển của giáo dục Việt Nam.
Khẳng định tầm quan trọng của của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X một lần nữa nhấn mạnh: “giáo dục và đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
Để đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội về nguồn nhân lực thì chúng ta phải
đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thể
chất, thẩm mỹ và các kỹ năng lao động cơ bản hay nói cách khác là sự toàn vẹn về
nhân cách con người Việt Nam, mà trước hết là thế hệ trẻ. Giáo dục đạo đức là một
trong những điểm chủ yếu, cốt lõi, xuyên suốt và giữ vị trí chủ đạo trong quá trình
hình thành nhân cách, đào tạo con người ở nước ta, đặc biệt là trong trường tiểu
học.
Bàn về tầm quan trọng của đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Có tài
mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng
khó”. Trong thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên, ngày 31 tháng 8 năm
1960, Người căn dặn: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt:
Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động sản
xuất,…”

pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng tôi
tâm đắc và lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp quản lý quá trình giáo dục đạo đức
cho học sinh trường Tiểu học Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” để
nghiên cứu trong tiểu luận tốt nghiệp lớp Cử nhân khoa học và quản lý giáo dục
Tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác quản lý quá
trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Hải Khê, huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị trong những năm gần đây, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý
quá trình giáo dục đạo đức thích hợp và khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh nhà trường đáp ứng mục tiêu giáo dục tiểu học đặt ra.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1.Xác định cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của giáo dục đạo đức và quản lý
quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học.
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
2
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
3.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý quá trình giáo dục
đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
3.3. Đề xuất một số biện pháp khả thi để quản lý quá trình giáo dục đạo đức
cho học sinh trường Tiểu học Hải Khê nói riêng và các trường Tiểu học có điều
kiện tương tự nói chung.
4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
4.1.Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở
trường Tiểu học Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý quá trình giáo dục đạo
đức cho học sinh trường Tiểu học Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi lựa chọn và vận dụng hệ thống phương
pháp khách quan, đồng bộ, bổ sung cho nhau trong việc nghiên cứu lý luận, khảo

chuẩn mực của xã hội thành những hành vi, phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá
nhân đó hoàn thiện và trưởng thành về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
b.Tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất cơ bản của người Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng đã bàn nhiều
nhất, quan tâm hàng đầu đến vấn đề đạo đức. Theo Người, những phẩm chất đạo
đức của người Việt Nam trong thời đại mới là:
Một là, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất bao trùm nhất, quan trọng
nhất.
Hai là, yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao cả
và đẹp đẽ nhất.
Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Bốn là, tinh thần quốc tế chân chính, trong sáng là yêu cầu và phẩm chất đạo
đức mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
Hồ Chí Minh là một nhà lý luận về đạo đức và là một tấm gương đạo đức
trong sáng, gần gũi và độc đáo nhất. Người đã khái quát bốn phẩm chất đạo đức cơ
bản của con người Việt Nam, những chuẩn mực chung cho nền đạo đức cách mạng
Việt Nam.
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
4
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
c.Khái niệm giáo dục đạo đức:
Hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức theo yêu cầu xã hội
thành những phẩm chất, giá trị đạo đức của cá nhân, nhằm góp phần phát triển nhân
cách và thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của xã hội.
Sơ đồ 1: Các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở
trường tiểu học
trường
tự
nhiên,
xã hội
Môi
trường
tự
nhiên,
xã hội
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
Quá trình giáo dục ở trường tiểu học bao gồm năm mặt giáo dục bộ phận:
giáo dục đạo đức, giáo dục trí tụê, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ và hình
thành kỹ năng sống cho học sinh.Trong năm mặt giáo dục đó thì giáo dục đạo đức
được coi là nền tảng, gốc rẽ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo
dục khác. Quá trình giáo dục đạo đức tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường, gia
đình và xã hội, giữa con người với cuộc sống.
b.Chức năng, nhiệm vụ của quá trình giáo dục đạo đức
* Chức năng:
Giáo dục đạo đức thực hiện chức năng cơ bản sau đây:
- Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác - Lê nin, tư tưởng
và đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá trị đạo
đức, nhân văn, nhân bản của các tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho mọi hành
động của mình, biến nó thành thế giới quan của cá nhân.
- Trên cơ sở đó, thông qua việc tiếp cận cuộc đấu tranh cách mạng của dân
tộc và hoạt động của cá nhân để củng cố niềm tin và lẽ sống, lý tưởng sống, lối
sống theo con đường xã hội chủ nghĩa.
- Thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, biết sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỹ cương, nền nếp, có văn hoá
trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người.
- Nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và các giá trị

1.1.3. Quản lý giáo dục và Quản lý quá trình giáo dục đạo đức
a. Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý giáo dục tới các hoạt động giáo dục trong xã hội nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính
chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm là quá trình dạy học -
giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về
chất.
b. Quản lý quá trình giáo dục đạo đức:
Quản lý quá trình giáo dục đạo đức là điều khiển, điều chỉnh quá trình quá
trình này vận hành một cách có kế hoạch, có tổ chức và được chỉ đạo, kiểm tra,
giám sát thường xuyên nhằm từng bước thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đạo đức
để đạt được mục tiêu cuả quá trình giáo dục.
c. Vai trò của hiệu trưởng trong việc Quản lý quá trình giáo dục đạo đức
ở trường tiểu học.
Hiệu trưởng là người đứng đầu một nhà trường, chịu trách nhiệm quản lý
toàn bộ mọi hoạt động của nhà trường, là trụ cột sư phạm của nhà trường. Vì vậy
hiệu trưởng là người có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục học sinh.
Trong nhà trường, hiệu trưởng là người lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra các hoạt động dạy học và giáo dục. Nói riêng về nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho
học sinh, đây là nhiệm vụ cơ bản của nhà trường, muốn thực hiện có hiệu quả phải
có người đứng đầu cơ quan năng động, sáng tạo, biết lựa chọn nội dung, hình thức
khoa học và luôn đổi mới cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nhà trường.
Biết kết hợp thường xuyên hai con đường là dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp để giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng
của giáo dục đạo đức , biết phát huy ảnh hưởng tích cực của quá trình giáo dục đạo
đức nhằm tạo định hướng chung, thống nhất với các lực lượng giáo dục của địa
phương.
Chúng ta đều biết rằng, để làm được điều đó, vai trò của hiệu trưởng mang
tính quyết định. Hiệu trưởng phải là nhà giáo dục được đào tạo qua trường lớp, có

chức xã hội là định hướng cho các em những giá trị đúng đắn để các em vươn lên.
b. Nội dung, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh không tách rời
hoạt động dục toàn diện của nhà trường, gắn bó với đời sống xã hội và tiếp
cận những vấn đề mang tính thời đại hiện nay.
Nguyên tắc này đòi hỏi cần đưa học sinh tham gia các hoạt động gắn bó với
đời sống xã hội, tăng cường hiểu biết của mỗi học sinh về cộng đồng làng xóm, quê
hương đất nước, cộng đồng quốc tế và những vấn đề mang tính thời đại đang là
mối quan tâm chung vì sự sống của trái đất, vì hạnh phúc bình yên của nhân loại.
Nội dung giáo dục đạo đức gắn bó với nhiệm vụ học tập, gắn bó với đời sống nhằm
giúp mỗi học sinh mở rộng hiểu biết, củng cố thái độ, rèn luyện và phát triển hành
vi, nhân cách, đạo đức, lối sống.
c. Nội dung, hình thức giáo dục đạo đức phải kế thừa và giữ gìn những
giá trị, tinh hoa văn hóa, bản sắc dân tộc, đạo lý của người Việt Nam.
Nguyên tắc này yêu cầu việc lựa chọn nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
là định hướng cho các em biết lựa chọn, kế thừa những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc về mặt văn hoá, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, .....mà trước hết là
việc lựa chọn những giá trị đó không tách rời những giá trị “chân, thiện, mỹ” của
con người. Những giá trị đó là những giá trị nhân văn, nhân bản mà xã hội càng
phát triển càng phải giữ gìn và đề cao. Trong trường tiểu học nội dung giáo dục đạo
đức của nhà trường, của Đội đối với mỗi học sinh ngày càng phải được tăng cường
và nâng cao. Cần thiết phải giáo dục cho các em tình quê hương đất nước, kính
trọng và có tình cảm sâu sắc với ông bà, cha mẹ, anh chị trong gia đình, bạn bè,
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
8
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
sống có tình làng nghĩa xóm. Đó là đạo lý làm người của người Việt Nam chúng
ta, chữ “hiếu”, chữ “nghĩa” cần được giáo dục và củng cố thường xuyên cho các
em đặc biệt là tình hình hiện nay.
1.1.5. Nội dung giáo dục đạo đức trong trường tiểu học.
Tiểu học là cấp cấp học nền tảng của giáo dục phổ thông. Chính vì vậy việc

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
a. Định hướng giáo dục đạo đức trong nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
* Giáo dục đạo đức phải nhằm xây dựng nền đạo đức mới - nền đạo đức của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (xác lập cơ sở kinh tế khách
quan làm chỗ dựa cho đạo đức mới phát triển).
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
9
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
* Giáo dục đạo đức phù hợp và phát huy được thế mạnh của nền kinh tế thị
trường (chữ tín chữ tâm, góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho xã
hội).
* Giáo dục đạo đức khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường (sùng bái cá
nhân, ích kỹ, chủ nghĩa cá nhân, có tiền mua tiên cũng được, nén bạc đâm toạc tờ
giấy...).
* Giáo dục đạo đức phải đề cao việc đấu tranh chống các hệ tư tưởng, đạo
đức, lối sống phản tiến bộ từ bên ngoài thâm nhập vào do mở rộng hội nhập kinh
tế quốc tế .
b. Một số nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức .
* Làm lành mạnh hoá kinh tế thị trường làm cơ sở cho giáo dục đạo đức.
* Kết hợp các giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại là một
nội dung quan trọng trong giáo dục đạo đức (kết hợp những giá trị tốt đẹp, loại bỏ
những giá trị lạc hậu, không phù hợp của cả hai phía).
* Đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp giảng dạy (loại bỏ phương pháp
nêu khẩu lệnh, hô hào sáo rỗng, giáo dục đạo đức sáo rỗng không kết hợp với thực
tiễn).
* Kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật, kết hợp một cách mềm
dẻo, linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Nền kinh tế thị trường đã và đem lại cho đất nước chúng ta những lợi ích to
lớn. Đó là sự phát triển kinh tế ngày càng nhanh, cuộc sống nhân dân được cải

thành những phẩm chất nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cụ thể hoá mục tiêu của giáo dục Việt Nam, tại khoản 2, điều 27, Luật giáo
dục (năm 2005) đã xác định mục tiêu của giáo dục tiểu học:
" Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ”.
Như vậy mục tiêu giáo dục tiểu học bao gồm năm mặt: Đức dục - Trí dục- Thể
dục - Thẩm mỹ - Kỹ năng cơ bản. Trong đó đạo đức được đặt lên hàng đầu, được
xem là cốt lõi của quá trình giáo dục.
Mục tiêu giáo dục được cụ thể hoá thành các hoạt động giáo dục. Các hoạt
động giáo dục đó chính là cách thức để thực hiện mục tiêu giáo dục. Các hoạt động
giáo dục của trường tiểu học được chỉ rõ trong điều 27, Điều lệ trường Tiểu học
(Năm 2000) như sau:
" Điều 27. Các hoạt động giáo dục .
1. Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các
môn học bắt buộc và tự chọn do Bộ giáo dục và đào tạo quy định .
2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực
lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức, bao gồm các hoạt động ngoại khoá về
khoa học, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao nhằm phát triển năng lực toàn
diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, các hoạt động vui chơi,
tham qua , du lịch, giao lưu văn hoá, các hoạt động lao động công ích, các hoạt
động xã hội, các hoạt động từ thiện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học
sinh tiểu học”.
Nói một cách ngắn gọn các quá trình giáo dục được chia làm hai quá trình lớn
là quá trình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp). Trong đó quá trình giáo
dục đạo đức được tiến hành thông qua các môn học chính khoá và các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
11
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007

Xã nhà giàu truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước. Trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược toàn xã có 125 liệt sĩ; 296 thương
binh, bệnh binh, người có công cách mạng; 25 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đặc biệt
quê hương đã sản sinh ra nữ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Tâm.
Với những đóng góp xuất sắc đó, tháng 4 năm 2006 Chủ tịch nước đã phong
tặng xã Hải Khê danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây
chính là điều kiện thuận lợi để giáo dục đạo đức cho học sinh.
Phát huy truyền thống cách mạng, những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự chỉ đạo, điều hành sát sao của chính quyền, sự động viên của các đoàn thể
và sự nổ lực của nhân dân, đời sống nhân dân đã có bước khởi sắc song vẫn gặp
không ít khó khăn. Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt hải sản, số ít buôn
bán nhỏ và làm nghề thủ công.
Tuy nhiên Hải Khê vẫn là một xã nghèo, toàn xã vẫn còn 78 hộ nghèo. Năm
2004, chính phủ đã xếp Hải Khê vào danh sách xã vùng biển bãi ngang có điều
kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (xã 134).
Với xuất phát điểm giáo dục của xã nhà rất thấp nhưng đến nay phong trào
giáo dục Hải Khê đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Đảng uỷ, uỷ ban và các
đoàn thể đã có sự quan tâm đến giáo dục. Cha mẹ học sinh đều mong muốn con em
mình trở thành “con ngoan trò giỏi”.
Những năm học gần đây xã đã có học sinh giỏi cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp
huyện, tỷ lệ học sinh đỗ Đại học khá cao. Đến cuối năm 2006 thành lập trường
trung học cơ sở đưa tổng số trường trên địa bàn lên ba trường (Mầm non, tiểu học
và trung học cơ sở) cũng trên năm đó xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ
cập trung học cơ sở. Tuy vậy Hải Khê vẫn là xã có trình độ dân trí thấp. Cha mẹ
học sinh ít quan tâm đến việc học tập và giáo dục đạo đức cho con em.
Công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn có phát triển song chưa đi vào chiều
rộng và chiều sâu xã chưa đạt đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi.
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
13

(ĐH: Đại học, CĐ: Cao đẳng, TC: Trung cấp)
Bảng 2: Chất lượng đôị ngũ năm học 2005 – 2006.

Tổng
số
Xếp loại chuyên môn Giáo viên giỏi
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu Tỉnh Huyện Trường
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
28
21 75 7 25 0 0 0 0 1 3,5 4 14 16 64
Qua bảng thống kê, chúng tôi thấy rằng tỷ lệ giáo viên trên một lớp là 1,25;
trình độ trên chuẩn chiếm 64,3%; không có giáo viên chưa đạt chuẩn về trình độ
đào tạo. Chất lượng chuyên môn của đội ngũ rất cao, giáo viên giỏi các cấp chiếm
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
14
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
83,5%. Đây là một thành tích đáng tự hào và điều kiện thuận lợi để đưa chất lượng
giáo dục toàn diện của nhà trường và chất lượng giáo dục đạo đức đi lên.
Về cơ sở vật chất: Năm học 2006 – 2007 trường có 12 phòng học, 1 khu hiệu
bộ với 4 phòng. Tuy có sự đầu tư xây dựng song trường vẫn chưa đủ phòng học để
học sinh học hai buổi/ngày. Nhà trường có cảnh quan “xanh, sạch, đẹp” tạo môi
trường giáo dục thuận lợi. Nhìn chung trang thiết bị nhà trường tương đối đầy đủ
đảm bảo yêu cầu giáo dục.
Hiện nay nhà trường đang xúc tiến huy động nhiều nguồn kinh phí để xây
dựng thêm sân chơi, bãi tập, các phòng chức năng, phòng học để xây dựng trường
tiểu học đạt chuẩn quốc gia vào năm học 2007 - 2008.
Về học sinh và chất lượng đào tạo :

học.
Học sinh học 2 buổi/ ngày có khối 4và khối 5: 7 lớp với 193 học sinh đạt tỷ lệ
44,5%, học sinh học ngoại ngữ từ khối 3 đến khối 5.
Chất lượng giáo dục của nhà trường khá cao. Nhà trường đã sử dụng nhiều
biện pháp như: đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, thường xuyên tổ chức các
chuyên đề, tăng cường bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, khai thác và
sử dụng tối đa đồ dùng dạy học, đầu tư cơ sở vật chất, tổ chức các buổi ngoại
khoá, các hoạt động ngoài giờ lên lớp ... nên hiệu quả đào tạo của nhà trường nâng
lên rõ rệt .
Bảng 4: Bảng thống kê chất lượng 2 mặt năm học 2005 - 2006.
Người thực hiên: Nguyễn Văn Khương Trang
15
Tiểu luận tốt nghiệp lớp CNKH&QL Tiểu học Năm 2007
Tổng
số
hoc
sinh
Học lực Hạnh kiểm
505
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu Tốt Khá tốt Cần cố gắng
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
166 32 288 30 148 29 3 0,6 487 96,4 15 3 3 0,6
Ghi chú: Hạnh kiểm tốt – khá tốt tương đương với Đ ( Thực hiện đầy đủ 4
nhiệm vụ của học sinh tiểu học ) CCG tương đương với CĐ ( Thực hiện chưa đầy đủ
4 nhiệm vụ của học sinh tiểu học ) theo quyết định số 30/2005/QĐ – BGD-ĐT, ngày
30/ 09/2005, của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo.
Học sinh giỏi cấp huyện : 11 học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status