1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm ruột thừa cấp (VRTC) là bệnh lý cấp cứu hay gặp nhất trong số các
cấp cứu ngoại tiêu hoá, theo thống kê của Mỹ mỗi năm có khoảng 300.000
trường hợp mổ cắt ruột thừa viêm [1],[2],[3]. Ở Việt Nam theo Nguyễn Trinh
Cơ và một số tác giả khác tỷ lệ cắt ruột thừa viêm chiếm 40,5 - 49,8% tổng số
các cấp cứu ổ bụng [4], [5].
Viêm ruột thừa cấp nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời thì bệnh
nhân hồi phục rất nhanh, sau 24 tiếng có thể trở lại sinh hoạt bình thường, tuy
nhiên nếu viêm ruột thừa cấp không được chẩn đoán sớm diễn biến thành
apxe ruột thừa, viêm phúc mạc ruột thừa (VPMRT) thì phẫu thuật rất khó
khăn để lại nhiều biến chứng cho bệnh nhân như apxe tồn dư, nhiễm trùng
nhiễm độc nặng gây suy đa tạng, có khi tử vong hay những biến chứng khác
như dính ruột, tắc ruột, thoát vị thành bụng vv...
Ngày nay việc chẩn đoán viêm ruột thừa (VRT) ngoài dựa vào những
dấu hiệu lâm sàng còn có sự trợ giúp rất lớn của các phương tiện cận lâm sàng
như siêu âm, CT scanner, MRI. Các phương tiện này có ở hầu khắp các tuyến
từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên tỷ lệ viêm ruột thừa đến muộn đã có
biến chứng vẫn còn cao: Tỷ lệ viêm phúc mạc ruột thừa ở bệnh viện Việt Đức
năm 2004 - 2005 là 21,07 %, ở bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội, tỷ lệ VPMRT là
12,63%, bệnh viện Hoàn Mỹ TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ VPMRT là 15,5% năm
2000 - 2003 [6]. Tại sao tỷ lệ viêm ruột thừa đến muộn lại cao như vậy trong
khi nhận thức của người dân ngày càng cao? Có phải chăng bệnh nhân đã tự ý
dùng thuốc nhờ tra cứu trên mạng Internet hoặc tư vấn qua điện thoại, hay do
việc buôn bán thuốc không có đơn tràn lan, hay do có quá nhiều phòng khám
tư nhân với trang thiết bị không đầy đủ, trình độ chuyên môn còn hạn chế,
không chuyên khoa. Hay do các bác sỹ đã quá lệ thuộc vào các xét nghiệm
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIẢI PHẪU - SINH LÝ RUỘT THỪA
1.1.1. Giải phẫu ruột thừa
* Vị trí ruột thừa
Theo Đỗ Xuân Hợp và các tác giả khác [2], [12] thì ruột thừa (RT) nằm
ở đoạn cuối của manh tràng( MT) nguyên thuỷ, lúc đầu RT có hình chóp nón
lộn ngược, chiều dài thay đổi từ 1 - 20cm, trung bình 8 - 10cm; đường kính
trung bình 4- 6mm, dung tích 0,1 - 0,6ml. Ở người trưởng thành, ba giải cơ
dọc của manh tràng chụm lại là gốc ruột thừa. Lúc đầu RT nằm ở đỉnh của
manh tràng, sau đó do sự phát triển không đều của manh tràng, đẩy RT quay
dần vào phía sau trong của manh tràng, cách góc hồi manh tràng 2-2,5cm.
Lòng RT mở vào manh tràng bởi một nếp van hình bán nguyệt gọi là van
Gerladi. Bình thường van này đóng, mở tạo ra sự thông thương giữa ruột thừa
và manh tràng, khi van bị tắc RT dễ bị viêm [2].
Ngoài lớp niêm mạc, thành RT được cấu tạo bởi 2 lớp cơ: lớp cơ vòng ở
trong, lớp cơ dọc ở ngoài tạo ra sự hội tụ của ba giải cơ dọc là chỗ nối của MT
và RT. Đây là mốc để xác định ruột thừa trong mổ ở những trường hợp khó
tìm, người ta dựa vào các dải cơ dọc, nhất là dải cơ dọc trước [2], [12].
RT có thể nằm ở các vị trí khác nhau theo tác giả:
Wakeley (1933) thống kê qua 10.000 trường hợp mổ tử thi thấy vị trí của
RT sau manh tràng 65,28%, ở hố chậu 31,01%, cạnh manh tràng 2,26%, trước
hồi tràng 1%, cạnh đại tràng và sau hồi tràng 0,4%, dưới góc gan 0,1% [5], [13].
Nguyễn Quang Quyền (1993): 53,3% RT ở vị trí hố chậu, RT sau manh
tràng chiếm 30%, các vị trí khác ít gặp hơn [12].
4
* Cấu trúc mô học
Thành ruột thừa tương đối dày do sự phát triển mạnh mẽ của mô bạch
huyết tạo thành một lớp liên tục gồm những nang, những điểm bạch huyết lớn
hay nhỏ, [21].
Lòng ruột thừa nhỏ không đều. Thành RT gồm 4 lớp: niêm mạc, dưới
niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc, [23].
6
Lớp niêm mạc: gồm 3 lớp: lớp biểu mô, lớp đệm và cơ niêm.
+ Biểu mô: giống của đại tràng chứa 3 loại tế bào đó là: tế bào hấp thụ,
tế bào hình đài tiết nhày và tế bào ưa bạc.
+ Lớp đệm: là mô liên kết có nhiều tuyến Liebẻkuhn, những nang bạch
huyết nhỏ và lớn phát triển xuống cả lớp dưói niêm mạc.
+ Lớp cơ niêm: là giải cơ trơn không thuần thục, mỏng và bị ngắt quãng
bởi nang bạch huyết.
Lớp dưới niêm mạc: được tạo thành bởi mô lên kết tương đối dày có
nhiều mạch máu, đôi khi có nhiều thuỳ mỡ.
Lớp cơ: thuộc loại cơ trơn có 2 lớp, trong là lớp cơ vòng, ngoài là lớp cơ dọc.
Lớp thanh mạc: dính với lớp cơ, nhưng khi RT bị viêm có thể bóc tách
dễ dàng.
1.1.2. Sinh lý ruột thừa
Vai trò sinh lý của RT vẫn chưa rõ ràng. Trước đây, người ta cho rằng RT
không có vai trò gì, RT chỉ là một vết tích trong quá trình phát triển vì thế có
thể cắt bỏ khi tiến hành những phẫu thuật ở vùng hố chậu phải hoặc các phẫu
thuật ở gần đó, nhất là trong những trường hợp chấn thương bụng [24].
Những năm gần đây, một số tác giả coi RT cũng như các phần khác của
ống tiêu hoá có chức năng miễn dịch. Trong lớp dưới niêm mạc RT, ở trẻ sơ
sinh chỉ có vài ba nang bạch huyết. Số lượng các nang bạch huyết này tăng
Vi thể thấy thành RT có nhiều ổ mủ nhỏ, một số ổ mủ vỡ vào lòng RT. Ổ
bụng vùng hố chậu phải có dịch đục do phản ứng của phúc mạc.
+ Giai đoạn VRT hoại tử: VRT hoại tử có hình ảnh như lá úa với nhiều
đám hoại tử đen, RT hoại tử là do tắc mạch tiên phát hay thứ phát sau viêm
mủ ở ruột thừa.
8
+ Giai đoạn VRT thủng: RT bị thủng là do thành RT bị viêm hoại tử dễ vỡ
và do mủ làm lòng RT căng dãn dần lên. RT hay bị thủng ở đầu và ở thân, đôi
khi gặp cả ở gốc RT. Khi RT vỡ thủng, mủ tràn vào ổ bụng gây viêm phúc
mạc toàn thể (VPMTT), mủ có thể lan lên trên, dưới cơ hoành, dưới gan, hố
lách, mủ đọng nhiều nhất là túi cùng Dougla, vào giữa các quai ruột, HCP, mủ
có màu vàng nhạt và rất thối.
Nếu RT được mạc nối lớn và các quai ruột bao bọc lại sẽ tạo nên viêm
phúc mạc khu trú, ổ mủ khu trú với phần còn lại của ổ bụng, để lâu mủ nhiều
lên sẽ thành ổ áp xe [29].
Về vi thể, thành RT có nhiều ổ mủ, ổ hoại tử và có các ổ vỡ ra ngoài thanh
mạc RT, có các vết loét trên lớp niêm mạc.
1.3. SINH LÝ BỆNH VÀ VI KHUẨN TRONG RUỘT THỪA VIÊM
1.3.1. Sinh lý bệnh
RT thường bị viêm do 2 nguyên nhân chính là lòng ruột thừa bị tắc và bị
nhiễm khuẩn.
Lòng RT bị tắc do sự phì đại của các lympho ở lớp dưới niêm mạc
(chiếm 60% các trường hợp), do sự ứ trệ của phân, hay do sỏi phân (chiếm
38% các trường hợp), còn lại do các nguyên nhân khác như giun chui vào
lòng RT, do co thắt, do u ở manh tràng hay gốc RT.
Sự phì đại các nang lympho của RT hay gặp ở trẻ con, có liên quan tới
các tình trạng nhiễm khuẩn đường ruột. Sự tắc nghẽn do sỏi phân hay gặp ở
Năm 1812, Wegeler trình bày về một trường hợp thương tổn của manh
tràng và cho rằng bệnh bắt đầu từ RT.
Năm 1827, Melier đã nêu lên những triệu chứng chính của VRT và cách
chẩn đoán phân biệt VRT cấp và VRT mạn.
Năm 1874, Willỏmloy (Pháp) viết báo về VRT [1]. Tháng 6 năm 1886
Reginald Fitz (Boston) là một nhà giải phẫu học đã mô tả tổn thương giải phẫu
bệnh của VRT và đưa ra quan niệm trên cơ sở định khu giới hạn, ông đặt tên
10
cho nó là "Appendicitis "; tác giả đã đề xuất phương pháp điều trị VRTC là
phải phẫu thuật cắt ruột thừa trong giai đoạn sớm của bệnh. Danh từ
"Appendicitis" ra đời từ đấy và nhanh chóng lan rộng trên thế giới [5], [1].
Năm 1889 Charles Mac Burney lần đầu tiên mô tả hình ảnh lâm sàng của
VRTC đến sớm tạo ra những hy vọng mới cho việc chẩn đoán và điều trị. Mac
Burney mở sự chuyển biến có tính lịch sử trong việc điều trị VRTC, tên của ông
được đặt cho điểm đau của RT và đường mổ tách cơ vùng hố chậu phải do ông
mô tả. Ngày nay, cả thế giới đều biết đến những đóng góp này và đường mổ Mac
Burney vẫn là đường mổ kinh điển trong những trường hợp VRTC điển hình,
chưa có biến chứng.
Năm 1980, Kurt Seem đã thực hiện thành công trường hợp cắt RT nội soi
đầu tiên, sau đó phẫu thuật này đã nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi ở
nhiều nơi trên thế giới nhờ những ưu điểm vượt trội của nó so với phẫu thuật
cắt RT mổ mở: đây là phương pháp mổ ít xâm hại, cho phép chẩn đoán rõ tổn
thương trong ổ bụng, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, thời gian hồi phục
nhanh và người bệnh nhanh chóng trở về hoạt động bình thường... [1], [5] .
Từ năm 1990 trở lại đây việc cắt RT bằng nội soi đã được thực hiện rộng
rãi và trở thành phẫu thuật thường qui tại các bệnh viện lớn trên thế giới: ở
Italia có 144/182 bệnh viện chiếm 83,2% mổ nội soi thường qui (theo báo cáo
tỉ lệ này khoảng 25% [1].
Kết quả tương tự cũng được thấy trong các nghiên cứu về VRTC ở Việt
Nam. Nguyễn Tòng (1990) [37] thấy chỉ có 58,55% bệnh nhân VRTC được
mổ trước 24 giờ và có tới 41,45% bệnh nhân đựơc mổ sau 24 giờ kể từ khi có
triệu chứng của VRTC. Thống kê của Nguyễn Văn Khoa (1995) [14] thấy chỉ
42,74% các trường hợp VRTC có triệu chứng lâm sàng điển hình. Đa số các
tác giả đều thống nhất đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán VRTC dựa vào:
1.5.1. Đặc điểm lâm sàng
1.5.1.1 Triệu chứng cơ năng
- Đau bụng: đau bụng bao giờ cũng có và là triệu chứng đầu tiên luôn
luôn gặp và quan trọng nhất, cần được khai thác tỉ mỷ [4]. Khởi đầu đau ở
12
HCP hay quanh rốn, có khi ở trên rốn rồi sau nhiều giờ mới khu trú ở HCP.
Đau không xuất hiện ở HCP là lý do dễ chẩn đoán nhầm, bệnh nhân thường
được chẩn đoán là viêm niêm mạc dạ dày, hay cơn đau của loét dạ dày - tá
tràng. Trong VRT thường đau không nhiều, chỉ âm ỉ thỉnh thoảng có lúc trội
lên, đau không thành cơn. Lúc đầu đau ít, sau đó đau tăng dần [1].
- Buồn nôn và nôn: là những dấu hiệu không thường xuyên, xảy ra sau
khi đau. Nếu nôn xuất hiện trước khi có cơn đau cần xem lại chẩn đoán để
loại trừ nguyên nhân khác [1].
- Rối loạn tiêu hoá: có thể gặp dưới các dạng bí trung đại tiện, đi ngoài
phân lỏng... Trước đây, người ta cho rằng người bị táo bón dễ bị VRTC nhưng
dấu hiệu này ít gặp nên giá trị chẩn đoán không lớn.
1.5.1.2. Triệu chứng toàn thân
- Người mệt mỏi, uể oải.
- Bệnh nhân thường có sốt nhưng không sốt cao, thân nhiệt chỉ thay đổi
trong khoảng 37,50C đến 380C. Khi sốt cao là RT đã hoá mủ hoặc vỡ.
khác như tăng cảm giác da vùng HCP, Obrasov, Rosing... Tuy nhiên, những
dấu hiệu này ít gặp và ít có giá trị nên chỉ mang tính chất tham khảo.
- Thăm trực tràng: Có thể thấy túi cùng bên phải đau. Ngoài ra thăm trực
tràng còn có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt VRTC với một số bệnh lý
khác đặc biệt ở người cao tuổi khi chẩn đoán khó. Đôi khi có thể sờ thấy u
trực tràng, u đại tràng hoặc phân táo... Tuy nhiên, giá trị của việc thăm trực
tràng còn phụ thuộc rất nhiều vào cách thăm khám và đánh giá [4].
1.5.2. Cận lâm sàng
1.5.2.1. Công thức máu và số lượng bạch cầu (BC)
Nhiều công trình nghiên cứu về VRT đã đưa ra độ nhạy của tăng số
lượng BC rất khác nhau, từ 52% đến 96% và tăng BC đa nhân trung tính từ
39% đến 96% [5], [39]. Sự tăng BC thường tỉ lệ với tiến triển của VRTC
14
nhưng cũng không ít trường hợp VRT ở giai đoạn thủng mà BC đa nhân trung
tính hoàn toàn bình thường. Nhìn chung, độ đặc hiệu của các tham số này
thấp (tỉ lệ dương tính giả cao) do vậy tỉ lệ cắt bỏ RT (âm tính) vẫn cao. Ở
người cao tuổi giá trị của xét nghiệm này cần được xem xét kỹ vì trong thực
tế nó rất nhạy cảm với người này nhưng kém nhạy cảm với người khác [39].
Xét nghiệm này có độ nhạy cao nhưng ngược lại độ đặc hiệu thấp.
1.5.2.2. Siêu âm
Siêu âm chẩn đoán VRTC là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được áp dụng
từ năm 1981, siêu âm đã trở thành một phương tiện hữu ích cho các nhà lâm
sàng. Ngày nay kỹ thuật này đã trở nên rất thông dụng không chỉ trong lĩnh
vực chẩn đoán viêm ruột thừa mà còn trong nhiều bệnh lý khác [40]. Hình
ảnh VRTC trên siêu âm là hình bia khi cắt ngang, hình ngón tay đeo găng khi
cắt dọc. Độ nhạy của phương pháp này từ 75-89%, độ đặc hiệu từ 86 - 100%
[41]. Những trường hợp VRT muộn có thể thấy RT to, dịch quanh RT hoặc
được đưa ra sau khi nghiên cứu hồi cứu trên 305 bệnh nhân bị VRTC và đã
được sử dụng rộng rãi do đơn giản, dễ áp dụng.
Thang điểm của Alvarado
Thứ tự
1
2
3
4
5
6
7
8
Cộng
Dấu hiệu
Đau khu trú HCP
Chán ăn, ceton trong nước tiểu
Nôn, buồn nôn
Phản ứng thành bụng HCP
Dấu hiệu Blumberg
Sốt ≥37,30C
Số lượng bạch cầu tăng≥10.000/mm3
Bạch cầu đa nhân trung tính ≥75%
Điểm
1
1
1
2
1
giác da (sờ chỗ nào trên thành bụng BN cũng đau), có khi bụng co cứng dễ
nhầm với thủng tạng rỗng, thăm trực tràng thấy túi cùng Dougla đầy và đau.
1.6.1.2. Triệu chứng cận lâm sàng
- Bạch cầu tăng cao > 10G/L, ở giai đoạn muộn (nhiễm trùng nhiễm độc
nặng) có thể BC giảm < 4G/L.
- Siêu âm ổ bụng có nhiều dịch đục, RT to thành RT không liên tục, có thể
thấy sỏi phân ngoài RT. Trường hợp bụng chướng nhiều siêu âm sẽ bị hạn chế.
17
- CTscanner: hình ảnh khuyết khu trú ở thành RT tăng quang, khí ngoài
lòng RT, sỏi phân ngoài lòng RT, dịch ổ bụng, các quai ruột giãn [43].
- Cấy máu có thể thấy các vi khuẩn hay gặp trong VRT .
1.6.2. Áp xe ruột thừa hay viêm phúc mạc khu trú
1.6.2.1. Phân loại apxe ruột thừa
- Apxe ngoài phúc mạc: Khi RT nằm sát thành bụng bên hoặc sau bên
hoặc sau như: RT sau manh tràng khi bị vỡ mủ, lúc đó các tạng lân cận cùng
mạc nối lớn tới bao bọc khu trú ổ mủ lại, biệt lập với các tạng còn lại ở trong
ổ bụng bởi thành trong, còn thành ngoài chính là thành bụng.
- Apxe RT trong phúc mạc: Khi RT nằm quanh rễ mạc treo, RT vỡ mủ
được rễ mạc treo cùng quai ruột và mạc nối lớn tới khu trú ổ mủ lại, hoặc RT
nằm sâu dưới tiểu khung khi vỡ mủ được các tạng xung quanh quây lại thành
ápxe trong tiểu khung.
1.6.2.2. Triệu chứng lâm sàng
- Cơ năng: Ngoài các triệu chứng của VRTC điển hình sau 2 hoặc 3 ngày
BN thấy đau khu trú HCP hoặc hạ vị đau tăng lên, với ápxe ở tiểu khung BN
có thể có tiểu buốt, tiểu dắt, rối lọan tiêu hóa dạng giả lỵ do khối apxe kích
thích bàng quang, trực tràng.
- Toàn thân: sốt cao 39- 400C, dao động, môi khô lưỡi bẩn, mạch nhanh
thời gian từ VRTC đến VPMRT [1], [4]. Có thể cắt RT theo phương pháp mổ
mở kinh điển hoặc mổ nội soi.
1.7.1. Vô cảm
Có thể gây mê nội khí quản, mê tĩnh mạch, tê tại chỗ, tê ngoài màng
cứng, tê tủy sống... tùy thuộc tình trạng bệnh nhân, phương pháp phẫu thuật
để chọn phương pháp vô cảm.
1.7.2. Phẫu thuật cắt RT mở
Đây là phương pháp kinh điển. Năm 1894 Mac-Burney là người đầu tiên
mô tả đặc điểm lâm sàng của VRT. Từ đó điểm đau RT ở HCP (điểm Mac
-Burney) và đường mổ tách cơ (đường Mac-Burney) được mang tên ông.
19
Với các biến chứng như VPMRT thì sau khi cắt RT, lau rửa ổ bụng. Nếu
ổ bụng sạch thì không cần đặt dẫn lưu, với điều kiện phẫu thuật viên phải
chắc chắn là sẽ không để áp xe tồn dư trong ổ bụng. Trường hợp trong ổ bụng
có nhiều giả mạc, mủ, có nhiều mô hoại tử mà trong lúc mổ không lấy hết
được, lúc này dẫn lưu ổ bụng là bắt buộc [25]. Đóng bụng, khâu da thưa, khâu
chỉ chờ hoặc để hở da. Sau phẫu thuật nên sử dụng kháng sinh phổ rộng,
đường tĩnh mạch là tốt nhất nếu có thể.
Với áp xe RT hiện nay có 2 thái độ xử trí: rạch dẫn lưu bằng đường
ngoài phúc mạc theo nguyên tắc không để thông thương giữa ổ áp xe với phúc
mạc, hoặc chọc hút ổ áp xe dưới hướng dẫn của siêu âm kết hợp với dùng
kháng sinh mạnh, liều cao.
Theo Lê Lộc [44], với những ổ áp xe RT ở vùng HCP việc chọc hút mủ
dưới hướng dẫn của siêu âm cho kết quả rất tốt. Yamini D [45] cũng đưa ra
nhận xét tương tự, tác giả khuyên những ổ áp xe RT nằm ở vị trí khác như
giữa các quai ruột thì nên mổ.
Trường hợp đám quánh ruột thừa thì không mổ do lúc này các quai ruột
trước mổ không rõ ràng.
- Giảm bớt chấn thương tổ chức, nhanh chóng lập lại lưu thông ruột.
- Giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian nằm viện, người bệnh nhanh
chóng trở lại hoạt động bình thường.
- Giảm tỉ lệ nhiễm trùng thành bụng sau mổ.
1.7.3.1. Chỉ định phẫu thuật nội soi
Ball C.G và cộng sự (2004) [48], cùng nhiều tác giả cho rằng phẫu thuật
cắt RT nội soi được chỉ định khi: bệnh nhân được chẩn đoán xác định VRTC.
Ngoài ra, trong những trường hợp bệnh nhân đau HCP nhưng chẩn đoán lâm
sàng chưa xác định rõ VRT hay bệnh lý cấp cứu ngoại khoa khác thì việc thực
hiện thăm dò qua nội soi là rất hữu ích.
1.7.3.2. Chống chỉ định của phẫu thuật nội soi
Zucker K.A. (1997) [46] và một số tác giả đưa ra một số chống chỉ định
trong phẫu thuật nội soi cắt RT:
+ Bệnh nhân VRTC đã biến chứng đám quánh, áp xe hóa.
+ Bệnh nhân bụng quá chướng do tắc ruột hoặc liệt ruột.
+ Bệnh nhân có chống chỉ định của gây mê: Bệnh tim mạch nặng, tràn
khí màng phổi, bệnh phổi phế quản tắc nghẽn... Do trong phẫu thuật nội soi
21
phải thực hiện gây mê, bơm hơi CO 2 vào ổ bụng. Những trường hợp này tác
giả khuyên nên lựa chọn việc gây tê tại chỗ hoặc gây tê tủy sống và mổ cắt
RT mổ mở.
+ Bệnh nhân có tiền sử mổ bụng vùng dưới rốn có nên mổ nội soi hay
không, nếu có nhiều lần mổ cũ thì việc mổ nội soi sẽ khó khăn, nhất là thì đặt
trocar đầu tiên để đưa camera vào quan sát dễ gây thủng ruột hoặc tổn thương
mạch máu. Baker A (1999) khuyên ở những trường hợp này, nếu mổ nội soi
nên mở bụng môt đường nhỏ qua da vào phúc mạc, sau khi đặt trocar đầu tiên
- Được mổ bằng phẫu thuật nội soi.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân viêm ruột thừa được mổ mở ngay từ đầu.
- Bệnh nhân có chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ không phải là viêm
ruột thừa.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Loại thiết kế nghiên cứu
Mô tả tiến cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu
Chọn mẫu thuận tiện.
2.3. CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân được ghi nhận trong bệnh án từ khi vào viện đến khi ra viện
theo cùng một mẫu bệnh án nghiên cứu.
23
2.3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
2.3.1.1. Các yếu tố dịch tễ học
- Tuổi, giới, nghề nghiệp.
- Thời gian từ khi bị bệnh đến khi vào nhập viện.
- Thời gian từ khi nhập viện đến khi được mổ.
- Có điều trị gì trước khi vào viện.
- Loại thuốc điều trị trước khi vào viện.
- Số lượng thuốc dùng.
2.3.1.2. Tiến sử bệnh tật
- Trước kia có điều trị bệnh gì không.
- Có mổ gì ở bụng không.
Hoại tử ở thành RT:
- Xoắn vặn cấu trúc lớp đồng tâm ở thành RT.
- Dấu hiệu hình hạt cà phê trong áp xe RT.
Chẩn đoán dương tính khi có một dấu hiệu siêu âm. Hoặc có các hình
ảnh: Ruột thừa tăng kích thước, ấn không xẹp và đau có dày đáy manh tràng,
có dịch HCP và Dougla, trên và dưới gan hoặc có hình ảnh mạc nối lớn, các
quai ruột bọc quanh RT và bên trong có hình ảnh ổ dịch bao quanh RT.
+ Chụp XQuang ổ bụng: không có liềm hơi
+ CT Scanner ổ bụng:
Theo Bixby và cộng sự [43] các dấu hiệu CTscaner đặc hiệu cho VRT gồm:
- Tăng bắt thuốc thành ruột thừa
- Đường kính RT ≥ 7mm.
- Dày thành ruột thừa ≥ 3mm
- Độ sâu tối đa của dịch trong ruột thừa ≥ 2.6mm
25
- Thâm nhiễm mỡ xung quanh ruột thừa
- Các dấu hiệu khác như: khuyết bắt quang thành khu trú, sỏi phân và khí
ngoài lòng RT, ổ apxe chứng tỏ RT đã thủng.
2.3.1.5. Giá trị các thang điểm
- Thang điểm Alvarado
Thứ tự
1
2
3
4
5
6
- Số lượng và vị trí trocar
- Tình trạng ổ bụng: sạch hay có dịch đục, đen hay mủ trắng, nhiều hay
ít, vị trí. Có giả mạc không, nhiều hay ít.
- Có dính: RT vào thành bụng bên, sau bên, RT với các quai ruột và mạc
nối lớn, dính giữa các quai ruột với nhau.
- Vị trí RT trong ổ bụng: HCP, sau manh tràng, trong tiểu khung, sau
quai hồi tràng, dưới gan, hố chậu trái.
- Tình trạng RT: xung huyết, viêm mủ, hoại tử, thủng, gốc RT.
- Vị trí lỗ thủng của RT: đầu, thân, gốc
- Phương pháp cắt RT, kỹ thuật cắt RT: cắt xuôi dòng, ngược dòng