Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học môn toán 7 - Pdf 55

MỤC LỤC
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU......................................................................................2
I. Đặt vấn đề............................................................................................................2
II. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................2
Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ....................................................................3
I. Cơ sở lí luận của vấn đề.......................................................................................3
II. Thực trạng vấn đề...............................................................................................4
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề................................................5
IV. Tính mới của giải pháp....................................................................................16
V. Hiệu quả SKKN................................................................................................16
Phần thứ 3: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ..............................................................17
I. Kết luận.............................................................................................................. 17
II. Kiến nghị..........................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................19


Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là
quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành,
lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội”. Trọng tâm là “... đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo phát
triển nguồn nhân lực, phấn đấu trong những năm tới, tạo ra chuyển biến căn bản, mạnh
mẽ chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo làm cho giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách
hàng đầu, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu
học tập của nhân dân, là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêu cầu của hội nhập quốc
tế trong kỷ nguyên toàn cầu hóa”.
Trong chương trình phổ thông, môn Toán là một bộ môn Khoa học tự nhiên. Nó
đóng vai trò rất quan trọng trong thực tiễn cuộc sống, ứng dụng rất nhiều trong mọi

các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương hết sức quan tâm. Đặc biệt sau khi có
chỉ thị 15/1999/CT BGD - ĐT; trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX (2001);
trong Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị 14/2001/CT - TTg của Thủ
tướng chính phủ. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X (2006) có “Giáo
dục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Như vậy, phải nói rằng giáo
dục và công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đã nhận được sự quan tâm đặc biệt
của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục.
Khái niệm hứng thú: Là một thuộc tính tâm lý của nhân cách, là một hiện
tượng tâm lý phức tạp được thể hiện khá rộng rãi trong cuộc sống của mỗi cá nhân
cũng như trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Nhà tâm lý học I.PH. Shecbac cho
rằng, hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người, nó được biểu hiện thông
qua thái độ, tình cảm của con người vào một đối tượng nào đó trong thế giới khách
quan.Annoi nhà tâm lý học người Mỹ lại quan niệm, hứng thú là một sự sáng tạo của
tinh thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào.
Các tác giả Phạm Minh Hạc - Lê Khanh - Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có
hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của
nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó,
do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát
khao tiếp cận đi sâu vào nó.
Có nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú, tuy nhiên có thể coi quan niệm của
GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn là bao hàm nhất: "Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng
mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động".
2. Động cơ và vai trò trong việc hình thành hứng thú học tập của học sinh
Động cơ học tập là cái thúc đẩy hoạt động học, vì nó mà học sinh thực hiện hoạt
động học. Động cơ học tập của học sinh được hiện thân ở đối tượng của hoạt động
học, tức là những tri thức, kỹ năng, thái độ mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ.
Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt, mà phải được hình thành
dần dần trong quá trình học sinh tự phát hiện ra vấn đề và giải quyết các vấn đề, hình
thành ở học sinh nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng


Sĩ số

7B

Đáp án A

Đáp án B

35

SL
11

Tỉ lệ %
31,4

SL
24

Tỉ lệ %
68,6

7E

34

9

26,5


Trung bình

Tỉ lệ

Tỉ lệ

Yếu

Kém

Tỉ lệ

Tỉ lệ

số

SL

7B

35

2

5,7

5

14,3


26,5

2

5,9

TỔNG

69

3

4,3

9

13,1

35

50,7

17

24,6

5

7,3

vào lớp tôi luôn chú trọng đến việc tạo bầu không khí tươi vui, thoải mái cho các em
bằng những câu chuyện hài hước. Tôi luôn nắm bắt các xu hướng mới của học sinh, để
tạo cảm giác cho các em rằng giáo viên cũng là một “người bạn lớn” có thể chia sẽ.
Trong quá trình dạy, tôi luôn tôn trọng ý kiến trả lời của học sinh, không gò ép
các em vào khuôn phép cứng nhắc. Khuyến khích cho điểm động viên học sinh khi
học sinh trả lời đúng hoặc gần đúng câu hỏi. Từ đó tạo cho học sinh có được niềm tin
vào khả năng của bản thân.
Tôi luôn tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, thảo luận với nhau, tìm tòi
học hỏi, nghiên cứu. Nhằm phát huy tích tích cực, chủ động của học sinh, giúp các em
tự học không chỉ ở nhà mà còn tự học trong chính các tiết học.
Tôi thường xuyên giải đáp các thắc mắc của các em với thái độ tôn trọng đồng
thời có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh để có thể gây dựng sự
hứng thú của các em.

Hình 1: Giáo viên kể những mẫu chuyện vui Toán học đầu tiết dạy
2. Tổ chức các trò chơi gây hứng thú trong các tiết dạy.
Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ
chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt
động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi truyền tải mục tiêu của
bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là
phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.Sử dụng trò chơi học tập để hình
thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học. Trong thực tế
dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy


nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới
là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Để tổ
chức được trò chơi trong dạy học Toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải
có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau: Trò chơi
mang ý nghĩa giáo dục. Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu kiến thức.Trò

ảnh hưởng tới việc học tập của lớp học khác.
Giáo viên công bố rõ thời gian cho mỗi trò chơi.
2.3. Điều khiển trò chơi
Đề cao tinh thần tự giác, thẳng thắn, trung thực, chơi “đẹp”
Thông thường với mỗi trò chơi tôi sẽ tìm ra một bạn học sinh khá – giỏi trong
lớp làm “trọng tài” để bắt lỗi của các đội chơi.
Yêu cầu dừng trò chơi đúng lúc khi học sinh có dấu hiệu mệt mỏi, chán nản
hoặc khi đội chơi đã có kết quả thắng thua rõ ràng hoặc vi phạm thời gian quy định
của trò chơi.


Khi chơi, giáo viên cần quan sát học sinh chơi để biết thái độ, cử chỉ, phong
cách của từng học sinh từ đó điều chỉnh phong cách cho phù hợp. Đôi khi trong quá
trình chơi, giáo viên cũng có thể chuyển hướng với những dự kiến để làm không khí
lớp học sôi nổi.
2.4. Giai đoạn kết thúc.
Giai đoạn này tôi để “trọng tài” làm việc. Trọng tài là một học sinh có khả năng
quản lý, điều khiển lớp tốt. Trọng tài sẽ yêu cầu các bạn học sinh là “khán giả” nhận
xét kết quả của các đội chơi, phân xử thắng thua.
Giáo viên là người đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động trò chơi, phải
xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không dễ dãi.
Giáo viên công bố kết quả chung cuộc chơi, có hình phạt đội thua nhẹ nhàng,
thoải mái, khen thưởng các thành viên của đội thắng cuộc bằng quà tặng hoặc khen
thường bằng điểm (mang tính chất khích lệ học sinh).
2.5. Một số trò chơi trong dạy học môn Toán tại trường THCS
2.5.1. Trò chơi “Tiếp sức”
Ví dụ: Khi dạy bài: lũy thừa của 1 số hữu tỉ
Tôi tổ chức chia lớp thành 4 đội, mỗi đội 5 thành viên tham gia chơi trò chơi
tiếp sức, thời gian của trò chơi là 4 phút. Học sinh sẽ điền vào phần để chấm trên 2
bảng phụ (giống nhau).Đội nào hoàn thành trước hoặc khi hết thời gian thì sẽ kết thúc

�y � y
4)  x m   x m.n
n

5) x m : x n  x m n ( x �0, m �n)
2.5.2. Trò chơi: “Trò chơi ô chữ”
Ví dụ: Tiết dạy ôn tập chương I – Hình học 7 tôi có thể cho các em học sinh
cùng chơi trò trơi ô chữ để củng cố kiến thức của học sinh.
Từ hàng dọc:
Gợi ý:Gồm 9 chữ cái. Đây là 1 kinh đô xưa của nước ta.
Đáp án: THĂNG LONG
Hàng ngang:
Số 1: Có 3 chữ cái: là hình gồm 1 điểm gốc O và 1 phần của đường thẳng bị
chia ra bởi điểm O được gọi là … gốc O.
Đáp án: TIA
Số 2: Có 7 chữ cái: hai đường thẳng phân biệt thì song song hoặc …
Đáp án: CẮT NHAU
Số 3: Có 9 chữ cái. Là hình gồm 2 điểm và tất cả các điểm nằm giữa 2 điểm đó
Đáp án: ĐOẠN THẲNG
Số 4: Có 7 chữ cái. Hai góc … là 2 góc mà mỗi cạnh góc này là tia đối của một
cạnh của góc kia.
Đáp án: ĐỐI ĐỈNH
Số 5: Có 8 chữ cái. Góc có số đo bằng 900.
Đáp án: GÓC VUÔNG
Số 6: Có 5 chữ cái: Qua 1 điểm ở ngoài 1 đường thẳng chỉ có 1 đường thẳng
song song với đường thẳng đó chính là nội dung của tiên đề….
Đáp án: Ơ CLIT
Số 7: Có 8 chữ cái:2 đường thẳng …là 2 đường thẳng không có điểm chung.
Đáp án: SONG SONG
Số 8:Có 9 chữ cái:Là đường thẳng vuông góc với đoạn thẳng tại trung điểm của

vua Minh Mạng khi bãi bỏ Bắc Thành tổng trấn và thành lập tỉnh Hà Nội, năm 1831
niên hiệu Minh Mạng thứ 12.


Từ tháng 12 năm 2002 đến nay, trên khu vực thuộc Hoàng thành Thăng Long
xưa (khu vực giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở Hà
Nội), các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên một diện tích khoảng hơn 19
nghìn m², phát lộ một phức hệ di tích - di vật rất phong phú, đa dạng từ La Thành - Đại
La (thế kỉ 7-9) đến thành Thăng Long (thế kỉ 11-18) và thành Hà Nội (thế kỉ 19).
2.5.3 Trò chơi “Lật mảnh ghép”.
Ví dụ 1: Đối với tiết ôn tập chương II – Hình học 7, tôi thiết kế trò chơi với các
câu hỏi trắc nghiệm để các em ôn lại kiến thức trong chương.
Hệ thống câu hỏi:
Câu 1. Trong một tam giác vuông, kết luận nào sau đây là đúng ?
A. Tổng hai góc nhọn bằng 1800

B. Hai góc nhọn bằng nhau

C. Hai góc nhọn phụ nhau

D. Hai góc nhọn kề nhau .

Đáp án: C

�  500;B
�  600 thì C
�?
Câu 2: Chọn câu trả lời đúng. Cho tam giác ABC có A
A. 700


B. Tam giác có ba cạnh bằng nhau là tam giác đều.
C. Tam giác cân là tam giác đều.
D. Tam giác đều là tam giác cân.
Đáp án: C
Câu 6: Tam giác ABC vuông tại B theo định lý Pytago thì:
A. AB2 = BC2 + AC2

B. BC2 = AB2 + AC2

C. AC2 = AB2 + BC2
Đáp án: C
Câu 7:Cho ABC vuông tại A có AB = 8 cm; AC = 6 cm thì BC bằng :


A. 25 cm

B. 14 cm

C. 100 cm

D. 10 cm

Đáp án: D
Câu 8:  ABC =  DEF Trường hợp cạnh – góc – cạnh nếu
�F
� ; BC = EF
A. AB = DE; B

�F
� ; BC = DF


Đáp án: A
Tất cả các câu hỏi được trình chiếu trong power point.
Bức tranh là hình ảnh của PYTAGO, ông là một nhà Toán học người Hy Lạp
Có thể yêu cầu HS nhắc lại định lí Pytago và về nhà tìm hiểu thêm thông tin về
ông


Ví dụ 2: Đối với tiết nghiệm của đa thức một biến – Đại số 7,
tôi thiết kế trò chơi ở giữa tiết học với các câu hỏi trắc nghiệm để các
em cũng cố lại kiến thức trước khi bước vào làm bài tập cũng cố.

Câu 1. Nghiệm của đa thức P(x) = 3x - 1 là:

A.

1
3

B. 

1
3

C. 3

D. - 3

Đáp án: A
Câu 2. Nghiệm của đa thức Q(x) = x2 + 9 là:


Đáp án: D
Câu 5. Bạn Hùng nói : “Ta chỉ có thể viết được một đa thức một biến có một

nghiệm bằng 1”
Bạn Sơn nói : “Có thể viết được nhiều đa thức một biến có một nghiệm bằng 1”
A. Cả 2 đều đúng

C. Hùng đúng, Sơn sai

B. Cả 2 đều sai

D. Hùng sai, Sơn đúng

Đáp án: D
Câu 6. a là nghiệm của đa thức P(x) khi:

A. P(a) = 0
Đáp án: A

B. P(a) > 0

C. P(a) < 0

D. P(a) ≠ 0


Câu 7. Chúc mừng bạn! Bạn đã được cộng 10 điểm
Câu 8. Trong các đa thức sau đa thức nào không có nghiệm


3. Khai thác sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả.
Để hỗ trợ cho quá trình dạy học được hiệu quả, giúp học sinh tự tìm hiểu, tự
chiếm lĩnh kiến thức mới, tôi đã sử dụng đồ dùng dạy học để kích thích hứng thú học
tập cho các em. Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong dạy học nói chung và
dạy học Toán nói riêng. Trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức nội dung bài học
dưới sự tổ chức dẫn dắt của giáo viên, với sự hỗ trợ của đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy
học đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, các khái niệm, quy tắc. Đồ
dùng dạy học giúp cho học sinh quan sát một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức
sâu hơn nội dung bài học. Đồ dùng dạy học làm tăng hứng thú, nhận thức của học
sinh. Không nên sử dụng những phương tiện mà giáo viên chưa có khả năng khai thác
và phát huy. Điều đó làm giáo viên cảm thấy lúng túng, mất thời gian dạy học. Phương
tiện cần phải gần gũi và có ích cho học sinh, nếu sử dụng phương tiện quá mới lạ, làm
các em phân tán sự tập trung, kết quả học tập cũng bị hạn chế.
4. Phân chia các đối tượng học sinh
- Đối với những em hỏng kiến thức: những em học sinh này thường dễ chán
học, không thích làm bài tập. Vì vậy tôi đã dành nhiều thời gian để hỏi han và động
viên các em hướng dẫn các em bài tập.
- Đối với những học sinh yếu toán tôi đã sử dụng các biện pháp linh hoạt, vui
nhộn để động viên tinh thần học toán của các em. Những học sinh yếu toán thường
mặc cảm, rụt rè, sợ sệt mỗi khi giáo viên hỏi bài. Tôi đã chú ý đến việc xây dựng hệ
thống câu hỏi dẫn dắt bài hợp lý, phù hợp với trình độ của học sinh.


- Đối với những học sinh chưa chú ý học: Đối với những em ham chơi, lơ đãng
trong giờ học. Tôi áp dụng nhiều phương pháp dạy trong một tiết học và liên tục đưa
ra những tình huống mới để lôi cuốn các em, giúp các em có thêm hứng thú học tập và
ngày càng yêu thích môn Toán.

Hình 3: Học sinh sôi nổi phát biểu xây dựng bài
IV. Tính mới của giải pháp

30

19

63,3

11

36,7

7B

35

21

60

14

40

TỔNG

65

40

61,5



SL

7A

30

5

16,7

7

23,3

11

36,7

5

16,7

2

6,6

7B

35


26,2

26

40

10

15,4

3

4,6

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
(Ký tên, đóng dấu)

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................


TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT

Tên tài liệu

Tác giả - nhà xuất bản

1

150 trò chơi thiếu nhi

Bùi Sĩ Tùng

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status