Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................3
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................3
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU................................................................................5
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU...............................................................................5
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.............................................................................6
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU...................................................................................6
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................................6
B. PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN..............................................................................8
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC....8
1.1.1. Khái niệm về KT-ĐG............................................................................8
1.1.2. Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá.................................................9
1.1.3. Ý nghĩa của việc KT- ĐG kết quả học tập của học sinh......................10
1.1.4. Chức năng chủ yếu của KT- ĐG trong dạy học...................................11
1.1.5. Vai trò và nhiệm vụ của KT-ĐG trong QTDH.....................................11
1.1.6. Những yêu cầu sư phạm của KT-ĐG...................................................12
1.1.7. Quy trình tiến hành kiểm tra - đánh giá...............................................13
1.1.8. Thực trạng của hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Tin học.........14
1.1.9. Một số nội dung cần lưu ý trong tổ chức KT-ĐG môn tin học............14
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN........................16
1.2.1. Khái niệm TNKQ................................................................................16
1.2.2. Ưu điểm và những hạn chế của phương pháp TNKQ..........................17
1.2.3. Các dạng câu TNKQ...........................................................................18
1.2.4. Quy trình xây dựng một bài TNKQ.....................................................24
1.2.6. Phương pháp phân tích và đánh giá câu hỏi TNKQ............................25
1.2.7. Cách thức ra đề và tổ chức thi.............................................................30
1.2.8. Cách chấm bài kiểm tra trắc nghiệm...................................................31
2.2.1. Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ cho bài 1 - Chương I..............................45
2.2.2. Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ cho bài 3 - Chương II.............................45
2.3. CÁC BƯỚC XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ CHO TỪNG BÀI Ở
CHƯƠNG I, II - SGK TIN HỌC 11...........................................................46
2.3.1. Cách xây dựng bộ câu hỏi...................................................................46
2.3.2. Hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi............................................................48
2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG II..........................................................................48
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆP SƯ PHẠM........................................................50
3.1. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC NGHIỆM...............................50
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm..................................................................50
3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm...................................................50
3.2. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................50
3.2.1. Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm.............................................50
3.2.2. Tiến hành xây dựng bộ đề thi..............................................................51
3.2.3. Tổ chức kiểm tra học sinh...................................................................57
3.2.4. Phân tích, thẩm định bộ câu hỏi TNKQ phần chương I, II-SGK .
...................................................................................................................... 57
3.3. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỘ CÂU HỎI TNKQ.....................................57
3.3.1. Quy trình tiến hành đánh giá bài kiểm tra bằng TNKQ.......................57
3.3.2. Phân tích câu hỏi đề kiểm tra số 1.......................................................58
3.3.3. Xác định độ khó và độ phân biệt của câu hỏi trong đề kiểm tra số 1
...................................................................................................................... 65
C. PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................73
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................75
GVHD: Trương Thế Quy
2
SVTH: Đinh Thị Huyền
gian ngắn, do đó có thể trải ra trên một nội dung rất rộng góp phần chống học tủ, học
lệch…
Ở nước ta việc sử dụng TNKQ để đánh giá kết quả học tập chỉ mới được thí
điểm ở một số môn học ở trường Đại học. Và năm học vừa qua, 2006-2007 trong kỳ
GVHD: Trương Thế Quy
3
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
thi tuyển sinh Đại học đã áp dụng thi TNKQ ở một số môn. Đến nay Bộ giáo dục
đào tạo cùng các Sở giáo dục khởi xướng và khuyến khích nghiên cứu, áp dụng
phương pháp TNKQ trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh.
Việc xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ cho mỗi bài học, mỗi chương còn là bài tập
giúp cho học sinh tự KT-ĐG kết quả học tập nhằm kích thích tinh thần tự lực trong
học tập ở mỗi bài học đồng thời lập ngân hàng câu hỏi kiểm tra theo chương hay
theo từng học kì.
Môn tin học là một môn học còn khá mới mẻ, mặc dù đã được đưa vào giảng
dạy từ những năm 1990, tuy nhiên năm 2006 lần đầu tiên được đưa vào là một môn
học chính thức ở NTPT. Chính vì vậy việc xác định các chuẩn kiến thức, kỹ năng và
cấp độ đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng đó là rất quan trọng, nhằm nâng cao
hiệu quả dạy và học môn tin học ở NTPT.
SGK (Sách giáo khoa) Tin học 11 trang bị cho học sinh một số khái niệm cơ
bản về lập trình và ngôn ngữ lập trình bậc cao. Trong đó, chương I giới thiệu về một
số khái niệm về lập trình và ngôn ngữ lập trình. Chương II giới thiệu về chương
trình đơn giản, qua chương này học sinh sẽ biết về cấu trúc chương trình, các kiến
thức cơ bản về kiểu dữ liệu, phép toán, biểu thức, câu lệnh gán, tổ chức vào/ra đơn
học 11 để góp phần nâng cao hiệu quả KT-ĐG thành quả học tập của học sinh trong
quá trình học Tin học ở nhà trường phổ thông.
- Thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm Tin học và hướng dẫn sử
dụng.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nội dung SGK Tin học 11.
Cụ thể hoá mục tiêu, các chuẩn kiến thức, kỹ năng cho từng bài học trong
chương I và II, SGK Tin học 11.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về KT-ĐG kết quả học tập của học sinh.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc xây dựng bộ câu hỏi
TNKQ thông qua các tài liệu tham khảo.
Xây dựng ma trận kiến thức.
Xây dựng câu hỏi TNKQ theo từng đơn vị kiến thức với số lượng khoảng
100 câu của chương I và II, SGK Tin học 11.
Nêu rõ cách thức tiến hành xây dựng câu hỏi TNKQ.
Thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm MC MIX hoặc phần mềm
thi trắc nghiệm trên mạng.
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hệ thống câu hỏi TNKQ về độ tin
cậy, độ giá trị và tính khả thi của nó trong việc học sinh tự KT-ĐG kết quả học tập.
Hoàn thiện kết quả nghiên cứu để báo cáo.
GVHD: Trương Thế Quy
5
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
6
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
- Tham khảo ý kiến giáo viên THPT và các thầy cô giáo chuyên môn có kinh
nghiệm khi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi TNKQ.
- Sử dụng phiếu điều tra để thăm dò thái độ của học sinh đối với việc KTĐG
kết quả học tập bằng phương pháp TNKQ.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Thông qua thực nghiệm sư phạm để thẩm định câu hỏi.
- Xử lý số liệu dựa vào thống kê toán học.
GVHD: Trương Thế Quy
7
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
8
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
trình công nghệ dạy học của mình, tùy theo nội dung và tính chất của những lệch
lạc, nhằm mục đích là uốn nắn, loại trừ lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy
quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học.[6]
Vậy bản chất khái niệm kiểm tra thuộc phạm trù phương pháp, nó giữ vai trò
liên hệ ngược trong QTDH, nó cho biết thông tin về kết quả vận hành, góp phần
quan trọng cho sự điều khiển tối ưu giữa giáo viên và học sinh. Vì thế nếu việc kiểm
tra được tiến hành thường xuyên, đúng yêu cầu thì việc học tập của học sinh sẽ tốt
hơn.
1.1.1.2. Đánh giá
Khái niệm đánh giá có thể hiểu là căn cứ vào những số liệu, những thông tin để
đưa ra những nhận xét và đề xuất các biện pháp để QTDH đạt kết quả tốt hơn. Nói
cách khác, đánh giá là quá trình thu thập và lý giải kip thời, có hệ thống những thông
tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục
căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho chủ trương và biện pháp giáo dục tiếp
theo, nhằm cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng
dạy. Hay là mô tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng đắn, tính
chính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các
khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt
bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của học sinh và cả
thái độ của học sinh trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ việc quan sát,
kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ
tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học.[19]
kết quả học tập của học sinh một cách đúng đắn. Công tác kiểm tra đánh giá trong
dạy học là một việc làm phức tạp, bởi lẽ kết quả kiểm tra đánh giá được chính là kết
quả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động trong quá trình dạy học mang lại.
* Kiểm tra đánh giá nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả
dạy và học, trước hết là về mặt tri thức và kỹ năng của học sinh, nhưng cũng lưu ý
cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của học sinh cùng với sự diễn biến của quá
trình dạy học. Kiểm tra và đánh giá là một chức năng được thực hiện rất thường
xuyên trong toàn bộ quá trình dạy học.
* Một mặt kiểm tra cung cấp cho giáo viên những thông tin về tình hình lĩnh
hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh cùng những đặc điểm tâm lý của họ vào
một thời điểm nào đó hay sau một quá trình dài, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dạy
học, tạo tiền đề cho việc đi sâu vào giáo dục cá biệt. Mặt khác kết quả kiểm tra cũng
làm cho học sinh ý thức được họ đã đạt được mục đích đến mức độ nào còn những
chổ nào cần phải nỗ lực khắc phục. Nó còn là động lực thúc đẩy việc học tập có ý
thức, với tinh thần trách nhiệm cao của học sinh.
* Việc kiểm tra thường đi kèm với đánh giá đúng mức và công minh của thầy
giáo và tập thể học sinh. Đánh giá hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các kiểu xác
nhận, đồng tình hay không đồng tình cho đến việc đánh giá bằng lời hay cho điểm.
Cơ sở quan trọng để đánh giá là những bài kiểm tra, nhưng ngoài ra phải căn cứ vào
cả quá trình theo dõi học sinh.
* Mục đích của kiểm tra đánh giá không chỉ ở chỗ cho học sinh một điểm số,
GVHD: Trương Thế Quy
10
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
dạy học hiện đại. Hình 1 bên dưới là sơ đồ thể hiện vai trò, vị trí của KT-ĐG trong
QTDH.[10]
GVHD: Trương Thế Quy
11
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
Mục tiêu
Trình độ
xuất phát
của học
sinh
(kiểm tra
ban đầu)
Kiểm
tra
đánh
giá
Kỹ năng bộ
môn
Kiến thức
bộ môn
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
- Tinh thần, ý thức, thái độ học tập.
- Số lượng, chất lượng lẫn nội dung, hình thức.
- Kết quả cuối cùng lẫn cả quá trình học tập.
1.1.6.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
KT-ĐG phải đảm bảo tính thường xuyên vì:
- Có KT-ĐG thường xuyên, giáo viên và học sinh mới thu được những thông
tin ngược về kết quả dạy học, từ đó có cơ sở để điều chỉnh PPDH.
- Có KT-ĐG thường xuyên mới tạo được động lực kích thích, thúc đẩy tính tích
cực học tập của học sinh.
KT-ĐG phải mang tính hệ thống, nghĩa là giáo viên phải tuân thủ nghiêm ngặt
các quy định về chế độ kiểm tra, thi cử. Các kỳ kiểm tra và thi phải tiến hành một
cách khoa học, có hệ thống, có kế hoạch.
1.1.6.4. Đảm bảo tính phát triển
QTDH luôn vận động và phát triển, việc KT-ĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của
học sinh cũng đòi hỏi phải được xem xét theo hướng phát triển của người học. Cần
đánh giá cả quá trình trên cơ sở xem xét kết quả từng giai đoạn học tập và rèn luyện
của học sinh. Tuyệt đối không được nhầm lẫn giữa kết quả học tập chưa tốt ở một
giai đoạn nhất định với kết quả khả quan chung của cả một quá trình. Giáo viên phải
biết trân trọng những cố gắng, đánh giá cao những nỗ lực, thành tích tốt của học
sinh, không nên có thành kiến với học sinh có kết quả chưa đạt yêu cầu.
1.1.6.5. Đảm bảo tính công khai
Việc tổ chức KT-ĐG phải được tiến hành công khai: công khai về kế hoạch, nội
dung tiến hành kiểm tra, công khai kết quả. Kết quả đánh giá phải được công bố kịp
thời để mỗi học sinh có thể tự xem xét, đánh giá kết quả học tập của chính bản thân
1.1.9. Một số nội dung cần lưu ý trong tổ chức KT-ĐG môn tin học [11], [12]
- Việc KT-ĐG bao gồm cả lý thuyết và thực hành, hình thức có thể là tự luận
hoặc trắc nghiệm, kiểm tra vấn đáp, trên giấy hoặc trên máy. Nội dung môn tin học
rất thuận lợi cho ra đề kiểm tra trắc nghiệm. Cần tăng cường sử dụng phương pháp
kiểm tra trắc nghiệm để có thể kiểm tra phạm vi kiến thức rộng và để tiết kiệm thời
gian.
- Việc KT-ĐG không chỉ thực hiện để lấy điểm vào sổ điểm cho học sinh, mà
quan trọng hơn nữa là cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh QTDH giúp nâng
cao hiệu quả của QTDH. Cần khai thác triệt để ba chức năng của kiểm tra đánh giá.
- Đặc điểm đặc trưng của môn Tin học là kiến thức đi đôi với thực hành, kiểm
tra kiến thức có lẽ đã quen thuộc với nhiều giáo viên, còn kiểm tra thực hành ở khía
cạnh nào đó còn chưa quen. Không nên lạm dụng máy vi tính trong kiểm tra. Cần
phân biệt bài tập và thực hành.
- Cũng xin lưu ý có những phần kiểm tra lại không nên thực hiện trên máy vi
tính, ví dụ muốn kiểm tra học sinh về quy tắc đặt tên tệp của hệ điều hành hoặc tên
GVHD: Trương Thế Quy
14
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
biến trong ngôn ngữ lập trình, và sử dụng trắc nghiệm đặt tên tệp đúng hoặc tên biến
đúng, nếu thực hiện trên máy vi tính học sinh có thể chỉ cần gõ vào máy vi tính, và
căn cứ vào thông báo của máy vi tính để chọn đáp án mà không cần biết vì sao.
- Tin học là một môn học mới đưa vào trường phổ thông và có những đặc thù
riêng như liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
đến kết quả cuối cùng đó. Việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh phải được thực
hiện thường xuyên, liên tục.
- Bên cạnh những hình thức kiểm tra miệng kiểm, tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra
cuối học kỳ, kiểm tra cuối năm học, giáo viên cần phải tiến hành quan sát, đánh giá
học sinh trong các giờ thực hành.
- Mỗi một học kỳ, mỗi một học sinh phải có ít nhất một bài kiểm tra thực hành,
đây là yêu cầu bắt buộc trong qui định về kiểm tra, đánh giá môn Tin học của Bộ
GD& ĐT.
- Giáo viên cần căn cứ vào các bài tập, câu hỏi cuối bài để xác định các kiến
thức, kỹ năng cần KT-ĐG. Tuy nhiên, dựa trên thực tế trình độ của học sinh cũng
như điều kiện về trang thiết bị mà giáo viên định ra nội dung, phương thức tiến hành
KT-ĐG phù hợp.
- Giáo viên tự bố trí kiểm tra miệng, kiểm tra dưới 45 phút để đảm bảo đủ số
lượng điểm kiểm tra theo quy định.
- Sau mỗi bài thực hành phải đánh giá và cho điểm. Phải dùng điểm thực hành
làm ít nhất một điểm trong các điểm xếp loại của học sinh.
Như vậy do đặc thù của môn tin học nên việc KT-ĐG bao gồm cả lý thuyết và
thực hành, hình thức có thể là tự luận hoặc TNKQ.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1.2.1. Khái niệm TNKQ [10], [22]
Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò một số đặc
điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng , ghi nhớ…) hoặc để KT-ĐG
một số kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh.
Cho đến nay người ta thường hiểu bài trắc nghiệm là một bài tập nhỏ, hoặc câu
hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh khi suy nghĩ, dùng một ký hiệu đơn
- Kiểm tra trên số lượng học sinh khá đông.
Về lĩnh vực KT-ĐG
Loại TNKQ có thể bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi trong mỗi bài thi. Với
nhiều câu hỏi bao quát khắp nội dung chương trình giảng dạy, độ tin cậy của bài trắc
nghiệm tăng lên.
Sự phân bố điểm rải đều và rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng trình độ của
học sinh.
Về ảnh hưởng đối với học sinh
- Khuyến khích học sinh tích luỹ nhiều kiến thức và khả năng qua bài làm.
- Do số lượng câu hỏi trong một bài trắc nghiệm lớn và rải đều khắp chương
của môn học nên học sinh phải tự giác, tích cực học tập. Tránh tình trạng học tủ, học
lệch.
Về công việc soạn thảo đề thi
- Có thể kiểm tra được phổ rộng.
- Chia nhỏ vấn đề hỏi tránh được sự hiểu nhầm.
- Trong câu hỏi thiết kế các phương án nhiễu căn cứ vào những sai lầm, ngộ
GVHD: Trương Thế Quy
17
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
nhận,…của học sinh.
Về công việc chấm điểm
- Việc chấm điểm loại TNKQ sẽ nhanh chóng và chính xác hơn do các câu trả
lời đã được chọn sẵn khi ấn định khóa chấm điểm theo tiêu chuẩn đúng hay sai.
18
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
Nếu được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ chúng ta gọi là
loại điền khuyết, loại câu này thích hợp cho những vấn đề tính toán, đánh giá các
biểu thức hiểu biết về khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt
ý kiến.
b. Ưu điểm và hạn chế.
Ưu điểm:
- Loại câu hỏi này tạo cho học sinh có cơ hội được trình bày câu trả lời, phát
huy được óc sáng kiến.
- Học sinh mất cơ hội đoán mò vì phải nhớ hoặc nghĩ ra cách trả lời.
- Loại câu hỏi này giúp học sinh luyện trí nhớ về những điều căn bản để áp
dụng và suy luận trong những tường hợp cụ thể.
Hạn chế:
- Khó soạn thảo những câu hỏi đòi hỏi mang tính suy luận cao.
- Thiếu yếu tố khách quan khi chấm điểm vì giáo viên có thể hiểu sai giá trị của
câu trả lời mang tính sáng tạo.
- Giáo viên thương trích nguyên văn từ trong SGK
- Sự chấm điểm cũng mất thời gian vì các khoảng trống để điền vào thường
nằm rải rác khắp trang giấy thay vì được xếp thành cột.
c. Phạm vi áp dụng
Thích hợp cho các câu KT-ĐG ở các mức hiểu biết các nguyên lý, giải thích
các dữ liệu, diễn đạt ý kiến, thái độ,…
d. Những lưu ý khi viết loại câu hỏi này.
- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn từ sách ra để khỏi khuyến
- Loại câu hỏi này chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức mang
tính gợi nhớ, tổng quát như định nghĩa, khái niệm,…
- Hình thức trắc nghiệm này tương đối dễ viết. Giáo viên có thể soạn câu hỏi
trong một bài trắc nghiệm và học sinh có thể trả lời trong một thời gian ổn định.
- Sự chấm điểm loại này nhanh và dễ dàng, do đó ít phạm lỗi hơn về mặt kỹ
thuật.
Hạn chế: Khuyến khích sự đoán mò, độ tin cậy thấp, không kiểm tra được
khả năng suy diễn cao.
c. Phạm vi áp dụng
Thích hợp đối với các câu kiểm tra mức độ nhớ các định nghĩa, định luật,
nguyên lý.
d. Những lưu ý khi viết loại câu hỏi này
- Nên dùng từ chính xác và thích hợp để câu hỏi được rõ ràng.
- Nên soạn các câu hỏi sao cho nội dung có ý nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn
toàn sai.
- Tránh dùng các câu ở thể phủ định, nhất là thể phủ định kép.
GVHD: Trương Thế Quy
20
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
- Nên viết những câu hỏi mang tính vận dụng, không nên trích nguyên văn câu
hỏi từ SGK.
- Tránh làm những câu trở nên sai vì một chi tiết vụn vặt hoặc vì ý tưởng muốn
đánh bẫy học sinh.
- Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn đạt một ý độc nhất tránh bao gồm nhiều chi
- Nếu số câu hỏi ở hai dãy khác nhau thì yếu tố may rủi càng giảm đi.
Hạn chế: Học sinh mất nhiều thời gian đọc trước khi trả lời các câu hỏi loại
này.
c. Phạm vi áp dụng
GVHD: Trương Thế Quy
21
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
Thích hợp nhất trong việc đánh giá các khả năng nhận biết các hệ thức, thiết
lập các mối tương quan giữa giả thiết và kết quả.
d. Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi
- Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên
quan với nhau, học sinh có thể dễ nhầm lẫn.
- Cột câu hỏi và cột câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời
dư ra để câu tiêu đề cuối cùng vẫn còn nhiều khả năng để lựa chọn, làm cho học sinh
có sự cân nhắc kỹ cả câu cuối cùng.
- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khó
khăn khi lựa chọn. Phải xác định hướng làm cơ sở cho việc kết hợp và chỉ rõ một
câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay nhiều hơn.
e. Ví dụ
Ghép mỗi câu ở cột 1 với một câu thích hợp ở cột 2 trong bảng sau:
Cột 1
(1) Biên dịch
GVHD: Trương Thế Quy
22
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
- Có độ giá trị cao nhờ tính chất có thể đo được những mức trình độ khác nhau
(khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, suy diễn,…) rất hữu hiệu.
- Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi: câu nào quá dễ, quá khó, hay
không có giá trị đối với các mục tiêu cần trắc nghiệm.
- Khách quan khi chấm điểm.
Hạn chế:
- Việc soạn thảo câu hỏi khó.
- Có thể không đo được các khả năng phán đoán tinh vi.
c. Phạm vi áp dụng
- Có thể dùng để kiểm tra những trình độ cao hơn về nhận thức đồng thời có
thể KT-ĐG nhiều mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau.
d. Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi
- Phần dẫn câu hỏi phải diễn đạt một cách rõ ràng, mang trọn ý nghĩa của một
vấn đề cần hỏi. Các câu trả lời để chọn phải là những câu khả dĩ thích hợpvới những
vấn đề đã nêu.
- Đảm bảo các câu trả lời phải rõ ràng, ngắn gọn và phù hợp với câu dẫn.
- Học sinh phải xem xét và phân biệt kỹ càng khi lựa chọn câu trả lời, do đó
tính chất tuyệt đối trong trắc nghiệm đúng sai được nhường chỗ cho tính chất tương
đối khi học sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất trong số các
phương án trả lời đã cho.
một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình một lớp, một cấp học. Tuỳ theo
yêu cầu đề ra để kiểm tra 15 phút, 1 tiết, cuối kỳ hay thi cuối cấp.
Đề ra phải đảm bảo được độ khó nhằm đánh giá được kiến thức của học sinh
nắm được. Bên cạnh đó cũng cần có độ phân biệt trong mỗi câu hỏi để phân biệt
được trình độ của mỗi học sinh. Từ đó có PPDH hiệu quả hơn cho từng loại học
sinh.
Bước 2: Xác định nội dung của đề
Muốn xây dựng tốt bài kiểm tra TNKQ người ra đề cần nắm được những nội
dung nào cần kiểm tra, đánh giá theo ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Trong đó kiến thức và kỹ năng lại nêu rõ hơn thành các mức độ: nhận biết, thông
hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá (sẽ được trình bày kỹ hơn ở phần sau).
Bước 3: Bảng đặc trưng câu hỏi
Để chuẩn bị biên soạn các câu hỏi TNKQ, thông thường sau khi đã phân tích
nội dung dạy học thành các mục tiêu giảng dạy cụ thể, người ta phải thiết lập bảng
đặc trưng phân phối các câu hỏi một cách chi tiết. Hiện nay người ta sử dụng các
loại bảng khác nhau như: bảng đặc trưng các câu hỏi theo các đề mục trong nội dung
chương trình giảng dạy, bảng đặc trưng các câu hỏi theo mục tiêu giảng dạy.
Trong thực tế người ta sử dụng kết hợp cả hai loại bảng đặc trưng trên, đó là
một ma trận hai chiều. Bảng đặc trưng này đã phân loại từng câu hỏi TNKQ ra thành
hai chiều cơ bản: một chiều là các chủ đề dạy học hay các đề mục, các mục tiêu
giảng dạy hay các nội dung quy định trong chương trình theo hàng dọc, hàng ngang
GVHD: Trương Thế Quy
24
SVTH: Đinh Thị Huyền
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.6.2. Phân tích câu hỏi [9]
GVHD: Trương Thế Quy
25
SVTH: Đinh Thị Huyền