LỜI CẢM ƠN
Xin cảm ơn bạn bè và người thân đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Trọng số chung cho toàn bộ nội dung chương I: Vai trò của các chất
dinh dưỡng, môn Dinh dưỡng và Thức ăn vật nuôi Error: Reference source not
found
Bảng 4.2. Kế hoạch chi tiết xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan đa
phương án chương I: Vai trò của các chất dinh dưỡng, môn Dinh dưỡng và Thức
ăn vật nuôi, trường Trung cấp Nông Nghiệp Hà Nội. Error: Reference source not
found
Bảng 4.3. Mức độ khó của 171 câu hỏi trắc nghiêm khách quan đa phương án. Error:
Reference source not found
Bảng 4.4: Độ phân biệt của 171 câu hỏi trắc nghiệm khách quan đa phương ánError:
Reference source not found
Bảng 4.5. Bảng giá trị ,
∑
=
i
k
i
i
V
1
, , , , R.Error: Reference source not found
iii
tăng cường đầu tư cho nguồn vốn con người bằng những cải cách và đổi mới sâu
sắc nhằm nâng cao chất lượng của sự nghiệp GD&ĐT, đáp ứng những yêu cầu
của nền kinh tế và xã hội mới trong tương lai. Một nền giáo GD cho mọi người,
cho toàn xã hội, được đổi mới và hiện đại hóa cả về phương thức tổ chức và nội
dung GD, kết hợp hài hoà những thành tựu khoa học hiện đại với những tinh hoa
của văn hóa truyền thống sẽ là một bảo đảm chắc chắn cho chúng ta tìm được
một con đường thích hợp, có hiệu quả và có những bản sắc riêng để phát triển, hội
nhập với xu hướng chung của thế giới. Muốn vậy ngành GD& ĐT cần phải quan
tâm đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, các hình thức tổ chức DH nhất là đổi
mới PP và phương tiện DH, PP KTĐG.
Luật GD năm 2005 đã nêu rõ mục tiêu GD của nước ta là: Mục tiêu GD là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giải quyết
vấn đề này nhà trường phải dạy cho người học biết các PP suy luận, PP giải
quyết vấn đề… từ đó loại bỏ dần lối tiếp thu tri thức một cách thụ động thông
qua PPDH truyền thống của GV và thay vào đó là PP DH tích cực “lấy người
học làm trung tâm” trong quá trình DH. Nâng cao chất lượng GD là yêu cầu cấp
thiết của toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Do vậy chúng ta phải tiến hành
đổi mới toàn diện, ở tất cả các cấp học và bậc học theo đúng tinh thần Hội nghị
TW lần thứ IV khóa VII đưa ra là: “Đổi mới DH ở tất cả các cấp, bậc học áp
1
dụng những PP GD hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề”. Bên cạnh việc sử dụng PP truyền thống mà từ trước đến
nay chúng ta vấn áp dụng để KT bằng PP tự luận, nhưng thực tế không phải lúc nào
nó cũng mang lại kết quả khả quan. Trên tinh thần hiện nay là chúng ta đang thực
hiện chương trình đổi mới PP giảng dạy ĐG bằng PP TNKQ. Đây là một PP hết sức
mới mẻ với nền GD nước ta nhưng nó lại ĐG tương đối chính xác và khách quan.
1.1.2. Do yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy
một môn khoa học ứng dụng, có vị trí quan trọng trong hệ thống đào tạo Trung
cấp chuyên nghiệp ngành chăn nuôi, góp phần đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên
lành nghề sẵn sàng phục vụ lợi ích xã hội.
Bên cạnh đó với lợi thế là một nước nhiệt đới, nguồn thức ăn tự nhiên sẵn
có cho vật nuôi rất phong phú. Nhưng muốn sử dụng tốt và hiệu quả những
nguồn thức ăn đó thì HS, người chăn nuôi cần có hiểu biết về vai trò các chất
dinh dưỡng, đặc điểm sử dụng dinh dưỡng của từng đối tượng vật nuôi và từ đó
có khả năng chế biến, lập khẩu phần ăn phù hợp cho từng vật nuôi khác nhau để
có hiệu quả chăn nuôi là cao nhất. Từ vị trí quan trọng như vậy nên môn Dinh
dưỡng và Thức ăn vật nuôi đặc biệt là chương I “Vai trò của các chất dinh
dưỡng” là rất cần thiết cho HS ngành chăn nuôi.
Hiện nay ở trường trung cấp Nông nghiệp Hà Nội, môn Dinh dưỡng và
Thức ăn vật nuôi thường được KTĐG dưới hình thức tự luận, vì vậy đưa TNKQ
ĐPA vào KT là một điều rất mới mẻ, cần được áp dụng để giúp GV thuận tiện
trong KTĐG môn học, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học bộ môn.
Chính vì vậy việc thiết kế và sử dụng CH TNKQ ĐPA trong KTĐG
chương I là việc làm rất cần thiết để ĐG toàn diện nội dung kiến thức của
chương. Đồng thời khi đã có bộ CH TNKQ ĐPA sẽ giúp cho HS có cơ sở ôn
tập, tự học, tự KT kiến thức của mình một cách chủ động và hiệu quả. Vì vậy,
chúng tôi tiến hành chọn đề tài: “ Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách
3
quan đa phương án, chương I: Vai trò của các chất dinh dưỡng, môn Dinh
dưỡng và Thức ăn vật nuôi ở trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu xây dựng bộ CH TNKQ ĐPA chương I: Vai trò của các chất
dinh dưỡng, môn Dinh dưỡng và Thức ăn vật nuôi ở trường Trung cấp Nông
nghiệp Hà Nội nhằm ĐG kết quả học tập của HS một cách khách quan, chính
xác và góp phần đổi mới PP KT ĐG kết quả học tập của HS.
1.3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Bộ câu hỏi TNKQ ĐPA đã xây dựng có giá trị sử dụng trong DH chương I:
Năm 1916: Terman tu chỉnh TN Stanford- Binet. Lúc bấy giờ ở Hoa Kỳ TN
phát triển nhanh chóng ở các môn tập đọc, viết, làm toán và các môn học khác.
5
Năm 1917: Thorndike, Pintner. Otis, Miller đưa ra công trình sơ khai về
TN thông minh theo lứa tuổi.
Năm 1920, ở Mỹ các TN nhóm trong trường học đã ra đời và phát triển
nhanh chóng, HS được TN nhằm KT khả năng nhớ các tư liệu đã học ở bài giảng
và SGK nhanh chóng như thế nào. TN đó có nhiều thuận tiện (nhanh chóng,
chính xác, khách quan) được nhiều nhà GD hưởng ứng, vì vậy cần phải tiêu
chuẩn hóa các bài TN. Đó chính là cơ sở để ra đời các NXB TN tại các nước phát
triển vào những năm 30 của thế kỷ trước.
Năm 1922: TN thành tích học tập của Đại học Stanford được Kelly Ruch
và Terman thực hiện.
Năm 1928: Merili đã dùng TN để nghiên cứu trí tuệ phục vụ tư vấn nghề
nghiệp và GD phổ thông.
Từ năm 1930 PP TN nhiều lần bị phê phán nghiêm khắc. Ở một số nước hầu
như không thực hiện nữa mà chỉ còn dùng trong bệnh viện thực hành.
Liên Xô cũ, từ năm 1926 đến 1931 một số nhà sư phạm tại Matxcova,
Leeningrat đã sử dụng TNKQ để KT kiến thức của HS và đặc điểm tâm lý của
nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng bị ảnh hưởng bởi một số quan niệm
sai lầm và sử dụng không thấy nhược điểm của nó nên vào năm 1936 TW Đảng
Cộng Sản Liên Xô phê phán việc sử dụng TNKQ.
Từ năm 1937, ở Mỹ lại sử dụng TN rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.
Đến năm 1940: Ở Hoa Kỳ đã xuất bản nhiều hệ thống TN dùng để ĐG
thành tích học tập của HS.
Năm 1945: Bắt đầu giai đoạn mới áp dụng và tinh chế phép thống kê toán
học trong TN.
Năm 1949: Wechsler phổ biến thang điểm trí thông minh của trẻ em.
Năm 1961: Hoa Kỳ đã có 2126 mẫu TN chuẩn.
6
của chương trình Việt Nam – Thụy Điển (30/SIDA) đã mở ra những lớp huấn
luyện về kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ cho toàn bộ Giảng viên trường Y.
Năm 1991 đến năm 1995, Trần Bá Hoành đã chính thức đưa ra bộ câu hỏi
TNKQ di truyền tiến hóa và Sách giáo khoa Sinh học lớp 12 Trung học phổ thông
cho chương trình chuyên ban. Đồng thời ông cũng biên soạn nhiều tài liệu trong đó
trình bày một phần kỹ thuật cơ bản nhất của việc xây dựng và ứng dụng TNKQ
như: “Đánh giá trong giáo dục” (Đại học quốc gia Hà Nội, 1995), “Kỹ thuật dạy
Sinh học” (Nhà xuất bản GD, 1996).
Năm 1994, Bộ GD&ĐT theo hướng dẫn đổi mới KTĐG đã phối hợp với
Đại học công nghệ Hoàng gia Melbourne của Australia tổ chức các hội thảo với
chủ đề “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà
Nội. Cũng trong năm này, Vụ Đại học cho in cuốn “Những cơ sở của kỹ thuật
trắc nghiệm” (Tài liệu sử dụng nội bộ) của tác giả Lâm Quang Thiệp.
Năm 1995, nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về TNKQ được thực thi
hầu hết ở các trường Y, Dược và Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh với
việc áp dụng công nghệ tin học TNKQ vào đánh giá kết quả học tập.
Từ năm 1995 đến nay, một nhóm các nhà khoa học thuộc trung tâm Bảo đảm
chất lượng và nghiên cứu phát triển GD, đứng đầu là Đặng Ứng Vận đã triển khai
xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ ĐPA dùng trong việc KTĐG kết quả học tập của
SV thuộc Đại học đại cương. Trung tâm nghiên cứu đã thử nghiệm cài đặt hệ thống
CH vào máy tính và chấm điểm, cho kết quả ngay sau khi làm bài xong.
Điểm đáng ghi nhận là kỳ thi Đại học thí điểm tại trường Đại học Đà Lạt
(7/1996) bằng phương pháp TNKQ có 2700 thí sinh, có 2 loại đề thi là thi TN và
thi tự luận thì có tới 70% thí sinh chọn đề TN, bài thi được chấm bằng máy
Opscan 7. Trong 60 trường hợp vi phạm kỷ luật do quay cóp chỉ có 4 thí sinh từ
nhóm thi TN.
8
Năm 1996, tại khoa Sinh – Kĩ thuật Nông nghiệp trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tổ chức hội thảo bàn về vấn đề “Phương pháp xây dựng hệ thống câu
hỏi lựa chọn ĐPA”. Phát huy kết quả cuộc hội thảo, khoa Sinh – Kĩ thuật Nông
vật nuôi ở trường trung cấp Nông nghiệp Hà Nội.” với những đóng góp mới:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xây dựng và sử dụng CHTNKQ ĐPA trong
KTĐG môn Dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi ở trường trung cấp Nông nghiệp Hà Nội.
- Thiết kế bộ CH TNKQ để KTĐG chương I: Vai trò của các chất dinh dưỡng,
môn Dinh dưỡng và Thức ăn vật nuôi ở trường trung cấp Nông nghiệp Hà Nội.
2.1.2. Cơ sở lí luận
2.1.2.1. Các khái niệm cơ bản
a. Câu hỏi và câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học
* Khái niệm câu hỏi trong dạy học
Aistole là người đầu tiên đã phân tích CH dưới góc độ logic, theo ông:
“CH là một mệnh đề trong đó chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết”.
Theo từ điển GD học (2005): “CH là câu nói nêu lên vấn đề đòi hỏi phải
suy nghĩ, cân nhắc rồi đưa ra câu trả lời tương ứng”.
“CH là kiểu câu nghi vấn, có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện hay sự vật
nhất định, đòi hỏi cung cấp, giải thích, nhận xét, ĐG thông tin về sự vật, sự mô
tả, phân tích, so sánh có liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dưois hình thức
trả lời, đáp lại.” (Đặng Thành Hưng, 2002)
“Bản chất của CH chính là sự xuất hiện điều chưa rõ cần được giải quyết
từ điều đã biết.” (Đặng Đức Thành, 2001)
Tùy theo bản chất, mục đích,cách sử dụng mà người ta phân CH thành
nhiều loại khác nhau.
• Dựa vào mức độ nhận thức của HS:
+ CH yêu cầu tái hiện sự kiện, hiện tượng, quá trình.
+ CH yêu cầu hiểu khái niệm.
10
+ CH yêu cầu mức vận dụng khái niệm.
+ CH yêu cầu mức tổng hợp.
+ CH yêu cầu mức độ sáng tạo.
• Dựa vào các khâu của quá trình DH:
+ CH sử dụng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới.
HS (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để KT một số kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo của HS thuộc một chương trình nhất định” .
Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: TNTL và TNKQ.
TNTL là phương pháp ĐG kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo
lường là các câu hỏi, HS trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ của mình
trong một khoảng thời gian định trước.
TNKQ là phương pháp KT, ĐG kết quả học tập HS bằng hệ thống CH
TNKQ. Gọi là khách quan vì cách cho điểm (ĐG) hoàn toàn không phụ thuộc
vào người chấm.
Diễn
giải
Trắc
nghiệm
Trắc nghiệm tự
luận
Trắc nghiệm khách
quan
Tự
luận
Ghép
câu
Điền
thêm
Đúng
sai
Đa phương
án
Luận
văn
12
hỏi; phần sau là các phương án để chọn thường được dấnh dấu bằng các chữ cái A,
B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4. Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một
phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa
vào với tác dụng gây nhiễu, còn gọi là câu mồi. Hiện nay, dạng CH này được rất
nhiều nhà chuyên gia và GV sử dụng và ĐG cao về ưu điểm của nó:
Đo được nhiều mức độ nhận thức khác nhau của HS như: khả năng nhớ,
vận dụng, hiểu, suy diễn, tổng quát hóa…rất hữu hiệu.
- Độ tin cậy cao hơn, giảm khả năng quay cóp bài, suy đoán, loại suy khi
làm bài của HS.
- ĐG được kiến thức của HS với khối lượng kiến thức lớn trong một
khoảng thời gian ngắn. Bài KT yêu cầu số lượng câu nhiều (từ 45 – 60 câu trong
thời gian 45 phút) nên có thể KT một cách có hệ thống và toàn diện kiến thức
của HS và hạn chế tình trạng học tủ, học theo trọng tâm của HS. Đồng thời kích
thích HS tích cực trau dồi kiến thức thông qua các tài liệu tham khảo, báo chí,
rèn luyện khả năng tự học, tự đọc và tự nghiên cứu của HS.
- Giúp HS rèn luyện khả năng nhớ, tư duy sâu, xử lý thông tin nhanh nhẹn,
tự KTĐG kiến thức và kỹ năng của mình.
- Có thể phân tích được tính chất CH bằng cách dùng phương pháp phân tích
tính chất câu hỏi, áp dụng toán học thống kê để xác định giá trị của từng CH. Từ đó
xác định CH nào quá dễ, CH nào quá khó để điều chỉnh cho phù hợp, nâng cao chất
lượng CH mà ở các loại CH khác không thực hiện được.
- Chấm thi khách quan, nhanh chóng, chính xác và GV nhanh chóng thu
được thông tin phản hồi, giúp GV điều chỉnh hoạt động DH của mình.
- Ngày nay, việc áp dụng công nghệ thông tin vào để soạn CH TNKQ
ĐPA, chấm thi, xử lý kết quả…làm giảm sự cồng kềnh trong thi cử và đảm bảo
tính khách quan, nhanh, độ tin cậy cao.
14
Ngoài những ưu điểm trên CH nhiều lựa chọn vẫn còn một số hạn chế sau:
- Để soạn CH có chất lượng thì đòi hỏi GV phải có nhiều thời gian, kinh
nghiệm và năng lực chuyên môn về kỹ thuật thiết kế CH.
những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động”.
P.E Griftin (1994) quan niệm “ĐG là đưa ra phán quyết về giá trị của một
sự kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc xác định giá trị
của một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, một mục tiêu hay tiềm năng
ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm đạt tới một mục tiêu xác định”.
* Vai trò của công tác KTĐG
Thông qua khái niệm về KT, ĐG của nhiều tác giả và sự phân tích cho
thấy, muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học thì cần coi trọng khâu
KTĐG. Bởi ĐG không phải là nêu hiện trạng mà là nhận định hiện trạng, là cơ sở
để đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng. Nên ĐG được coi là một
khâu quan trọng, đan xen với khâu lập kế hoạch và triển khai công việc. KTĐG
tạo ra mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình GD vì
KT làm cơ sở cho việc ĐG đồng thời quyết định nội dung và mức độ kiến thức.
Mặt khác, KTĐG là một bộ phận, một chức năng quan trọng trong quá
trình DH của GV, công tác quản lý của nhà trường, là công cụ điều khiển quan
trọng của nhà quản lý GD…Với mỗi hình thức KTĐG đều cung cấp những
thông tin khác nhau về nhà trường, về HS cho nhiều đối tượng khác nhau như
HS, GV, phụ huynh HS…Ở đây chúng tôi đề cập đến vai trò của công tác
KTĐG đối với các đối tượng sau:
• Đối với học sinh
Thông qua việc KTĐG, HS sẽ biết được những mục tiêu và yêu cầu của
chương trình học mà GV truyền đạt. Kết quả của công tác ĐG còn là “thông
tin phản hồi” rất tốt giúp HS biết được những gì mà mình đã đạt được và
những gì mình chưa đạt được khi đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra
16
của từng môn học, từng chương trình học để từ đó có những điều chỉnh phù
hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập.
Qua KTĐG, HS cũng sẽ rèn luyện thêm nhiều kỹ năng như ghi nhớ, tái
hiện, khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức đã học, kỹ năng vận dụng,
phân tích, tổng hợp.
+ Ngắn gọn, súc tích
+ Đảm bảo để chỉ có một câu trả lời chính xác và đúng nhất.
+ Câu nhiễu có vẻ hợp lí đối với những người hiểu không đúng hoặc không am hiểu.
+ Không được có những từ đầu mối gợi ý dẫn đến trả lời trả lời như "luôn
luôn", "chỉ tất cả".
+ Câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau phải phù hợp về mặt cấu trúc
(câu văn, ngữ pháp) thành một nội dung hoàn chỉnh.
+ Các câu trả lời nên có độ dài, lượng từ tương tự như nhau.
* Tiêu chuẩn định lượng:
CH phải có độ khó trong khoảng 20% - 80% (độ khó trung bình với
phương án chọn là 60%), độ phân biệt từ 0.2 trở lên.
Mỗi CH phải có độ nhiễu tối thiểu (3% - 5% tổng thí sinh phải chọn các
câu nhiễu của câu TN mà đối với họ tỏ ra là có vẻ hợp lý).
b. Quy tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đa phương án
* Quy tắc lập câu dẫn
- Câu dẫn cần rõ ràng để phần trả lời có thể ngắn gọn. Các chi tiết nào có thể đưa
được vào câu dẫn thì nên đưa vào để các phương án lựa chọn có thể ngắn gọn lại.
- Diễn đạt trong câu dẫn thể hiện rõ được những nhiệm vụ mà HS phải làm, phải
đưa ra đầy đủ các thông tin cần thiết cho HS để họ xác định được yêu cầu của CH.
- Câu dẫn có thể là một CH, một nhận định không đầy đủ hoặc chưa hoàn thiện.
18
- Câu dẫn có thể là một đoạn văn, một đồ thị, một sơ đồ, một số câu trả lời
sẵn, kết quả thí nghiệm.
- Tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc tạo đầu mối dẫn đến câu trả lời
như : "những câu nào sau đây" trong khi một trong các phương án lựa chọn là tổ
hợp của hai hoặc nhiều câu.
- Hạn chế sử dụng thể phủ định trong CH, nếu dùng phải nhấn mạnh bằng
cách gạch chân, in nghiêng hoặc in đậm thể phủ định, nhằm thu hút sự chú ý của
HS, tránh hiểu nhầm yêu cầu của CH.
- Nên tránh hai thể phủ định liên tiếp, như hai chữ "KHÔNG" trong một CH.
thức được TN.
Tính đơn giản, dễ hiểu: Đảm bảo sự rõ ràng của ngôn ngữ trình bày.
Tính hệ thống, logic: Nội dung các CH phải nằm trong một hệ thống kiến
thức nhất định bao phủ được khối lượng kiến thức đủ rộng.
+ Về mặt sư phạm:
Tính GD: Bồi dưỡng trí dục cho HS, gây được sự hào hứng, động viên khích lệ
HS vươn lên trong học tập, tu dưỡng, nâng cao chất lượng giảng dạy và học.
Tính phù hợp: Phải có sự phù hợp về trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh
lý của đối tượng được TN.
* Các bước xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách qua đa phương án
- Bước 1: Xác định mục đích kiểm tra
Nội dung CH dùng để KT kiến thức phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu bài
dạy. Do đó việc xác định rõ mục tiêu nghĩa là xác định mục tiêu bài học, nội
dung kiến thức cần xây dựng CH là gì, CH nhằm đo cái gì, ĐG ai và ĐG như thế
nào? nghĩa là các loại kiến thức, số lượng kiến thức, đối tượng được KTĐG phải xác
định một cách rõ ràng. Từ đó định hướng trong việc xây dựng các CH TNKQ ĐPA để
đạt được mục tiêu đã đề ra của bài học.
20