Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn - Pdf 55

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc,
trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính bản thân, không gian lận,
không sao chép từ các tài liệu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa
luận tốt nghiệp
NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Công Oanh


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, điều tra số liệu và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân
trong và ngoài trường.
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ. Nguyễn Thị Thu Hà
Giảng viên bộ môn Xã Hội Học – Khoa Lý Luận Chính Trị Và Xã Hội đã trực
tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Tôi xin gửi
lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Lý Luận Chính Trị Và Xã Hội đã
dạy dỗ trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Phú Thành, các
phòng, ban nghành trong xã đã tạo điều kiện cho tôi trong việc triển khai thực
hiện và hoàn thành đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia
đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình
hoàn thiện đề tài.

Hà Nội, năm 2015
Người thực hiện
Đinh Công Oanh



MỤC LỤC

v

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (NẾU CÓ)

vi


DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
BẢNG


BIỂU ĐỒ


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT

DIỄN GIẢI


1 PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1

DS-KHHGĐ đã góp phần đạt và về đích trước thời hạn các Mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ về nâng cao sức khỏe bà mẹ và giảm tử vong ở trẻ em. Bình quân
hàng năm hiện nay cả nước giảm mỗi năm khoảng 900 nghìn phụ nữ không tham
gia vào sinh đẻ, tránh được nguy cơ tử vong do thai sản, góp phần tăng cường bình
đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ do đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít làm
cho mẹ khỏe, con khỏe, làm cho người phụ nữ có nhiều cơ hội để học tập văn hoá,
khoa học và tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thế
của phụ nữ trong gia đình và xã hội. (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình.
2011)
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, công tác DS-KHHGĐ vẫn
đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân
số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Tuy Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế, nhưng mức sinh vẫn có thể tăng trở lại bất
kỳ thời điểm nào.
Thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ là vô cùng to
lớn. Đặc biệt, đối với địa bàn nông thôn, nơi mức sinh còn khá cao. Để đạt được
mức sinh hợp lý và ổn định, bền vững là một việc khó khăn đòi hỏi tăng cường sự
quan tâm chỉ đạo tập chung sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền, ban nghành
nhằm phối kết hợp chặt chẽ với các ban nghành đoàn thể nhằm đạt hiệu quả cao
trong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình.
Xã Phú Thành tuy là một xã khu vực miền núi đặc biệt khó khăn, thêm vào
đó dân số người dân tộc mường chiếm 63% dân số. Trong toàn xã có 11 thôn và 2
thôn theo đạo thiên chúa. Vì vậy xã Phú Thành được đánh giá là một xã khá phức
tạp nhưng trong những năm vừa qua, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt


được những thành tựu đáng khen ngợi. Trong năm 2013, tỉ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có
chồng đang áp dụng biện pháp tránh thai đạt tỉ lệ 78%, duy trì được mức sinh hợp
lý, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, đảm bảo mức sinh thay thế, từng bước
nâng cao chất lượng DS-KHHGĐ. Trong năm 2013 toàn xã với tổng số hộ dân là

hóa gia đình của phụ nữ ở xã Phú Thành – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình
1.2.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài là những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thuộc hai
dân tộc Kinh và Mường trên địa bàn xã. Ngoài ra, cán bộ địa phương và cán bộ y
tế xã cũng được lựa chọn để tìm hiểu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực
hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ trên ở địa phương.
1.2.3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Phú Thành – huyện Lạc Thủy –
tỉnh Hòa Bình.
Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 1 năm 2015 đến
tháng 6 năm 2015.


2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1

Tổng quan tài liệu

2.1.1 Các nghiên cứu liên quan
Dân số kế hoạch hóa gia đình luôn được xác định là một bộ phận quan trọng
của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu
của quốc gia. Chính vì vậy dân số kế hoạch hóa gia đình là một vấn đề thu hút
được sự chú ý quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Bởi dân số kế
hoạch hóa gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao và ổn định chất lượng cuộc
sống thì gia đình mới hạnh phúc, xã hội mới phát triển, đảm bảo chất lượng cuộc
sống của gia đình nói chung và toàn xã hội nói riêng.
Theo Trương Xuân Trường (2014), hai lĩnh vực chính của hoạt động dân số kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam hiện nay là dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe
bà mẹ - trẻ em và công tác truyền thông dân số. Ngoài các yếu tố kinh tế xã hội,
con đường dẫn đến biến đổi dân số theo chiều hướng tích cực về cơ bản vẫn là tác
động vào nhận thức và năng cao tầm hiểu biết của họ. Do đó, vấn đề cung cấp và

bản hướng dẫn các văn bản, các tin bài, các điển hình tiêu biểu trong chiến lược
triển khai công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Tổ chức triển khai thực hiện
chương trình truyền thông về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, giải
quyết cân bằng giới khi sinh. Tổ chức các hoạt động gắn với cung cấp dịch vụ sức
khỏe sinh sản. Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số,
chủ động điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số, đảm bảo duy trì cơ cấu dân số vàng
hiện nay... Phù hợp với sự phát triển toàn diện của đất nước. Tổng cục Thống kê
Dân số - kế hoạch hóa gia đình (2014).


Chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản là mối quan tâm chung của mọi cấp,
mọi nghành, những năm vừa qua nước ta đã có nhiều chính sách dân số kế hoạch
hóa gia đình hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng, bổ sung
trang thiết bị đào tạo lại cán bộ nhằm kiểm soát một cách hiệu quả nhất gia tăng
dân số. Võ Thanh Hiền (2003) cho rằng cần có các chính sách giúp kiểm soát và
nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản như: Tư vấn, phòng ngừa
và phát hiện sớm tai biến sản khoa, chăm sóc trẻ sơ sinh, kế hoạch hóa gia đình,
sức khỏe sinh sản vị thành niên, bạo lực gia đình, giới trong sức khỏe sinh sản…
nhằm tăng chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản,nâng cao phát triển kinh tế, trình
độ văn hóa của trẻ em và phụ nữ, cải thiện cà nâng cao vị thế của người phụ nữ.
Giáo dục mọi đối tượng có nhận thức tốt, chuyển đổi hành vi có lợi cho sức khỏe
của họ. Giúp duy trì và phát huy vai trò điều phối của Ủy ban dân số - Gia đình và
trẻ em trong công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Theo Mai Quỳnh Nam (1994), với mục tiêu quan trọng nhất của cuộc vận
động dân số và kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có 1 đến 2 con, đề cập đến
dư luận xã hội của những người trong độ tuổi sinh đẻ, đã nói lên sự đánh giá xã hội
đối với mục tiêu quan trọng nhất của cuộc vận động dân số kế hoạch hóa gia đình
đối với toàn xã hội, nhóm xã hội, phản ánh quyền lợi chung của toàn xã hội, thấy
được tính ổn định của dư luận xã hội về số con trong gia đình. Dư luận xã hội,
mang tính nhiều chiều, nó mang ý nghĩa quyết định đến số con không chỉ là sự

con để lỡ có đứa chết vẫn còn con để nuôi. Quan niệm truyền thống của Việt Nam
về sinh sản của gia đình ngoài đẻ nhiều còn có quan niệm về giới tính, đó là
“Trọng nam khinh nữ”. Việc quan niệm phải có con trai để nối dõi cũng bắt nguồn
sâu xa từ những phong tục, tập quán, từ truyền thống chứ hoàn toàn không dựa trên


cơ sở khoa học nào. Những gia đình không có con cháu nối dõi có thể bị liệt vào
hàng ngũ những gia đình kém may mắn nhất. Đối với người chồng, hôn nhân đánh
dấu sự gia nhập địa vị người lớn nhưng chưa hoàn toàn trọn vẹn, chỉ khi sinh con
trai, anh ta mới hoàn thành nghĩa vụ, địa vị anh ta mới trở nên trọn vẹn. Còn với
người vợ, khi sinh con trai, họ đã tiến một bước dài, từ địa vị “người ngoài”, hòa
nhập hoàn toàn với gia đình, được an toàn trong gia đình chồng vì đã tạo ra được
phương tiện tiếp nối gia đình. Nếu không có con trai, họ phải một mình chịu hoàn
toàn trách nhiệm, số phận của họ trở nên bấp bênh, bất kể họ thực hiện tốt các vai
trò khác trong gia đình nhà chồng như thế nào. Một số nghiên cứu khác cũng cho
rằng có con trai là điều quan trọng tất yếu, mặc dù dân gian luôn truyền tụng câu
nói: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” và nhiều người thường
“chấm điểm 10” về thành tích sinh con cho những cặp vợ chồng nào sinh con gái
trước, rồi sau sinh con trai. Trong khi đó, những cặp sinh trai trước, rồi sinh gái chỉ
được điểm 9. Nguyên nhân là do con gái đầu lòng từ nhỏ đã là người giúp việc nhà
đặc lực cho cha mẹ. Nhưng bao nhiêu con gái đi nữa cũng sẽ không bằng một con
trai. Đây cũng là một trong những nguyên nhân đẻ nhiều ở Việt Nam, đẻ cho bằng
được con trai dù đã rất đông con. (Mai Huy Bích, 1991.)
Như vậy có thể nói các nghiên cứu trên đã đề cập đến công tác nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện công tác dân số kế hoạch hóa gia
đình. Kết quả đạt được của các nghiên cứu đã góp phần thúc đẩy quá trình triển
khai và thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình và là cơ sở lý luận quan trọng góp
phần thúc đẩy quá trình thực hiện kế hoạch nghiên cứu đề tài “Những yếu tố ảnh
hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình ở nông thôn”- (Nghiên cứu trường hợp
tại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).

Khi thực hiện các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình thì các cá nhân
luôn tính toán lợi ích giữa chi phí bỏ ra, lợi ích thu được cũng như kết quả đạt được
nhằm bảo vệ lợi ích cao nhất đối với mình. Do đó phụ nữ lựa chọn các biện pháp
tránh thai một cách hiệu quả tối đa và với chi phí hợp lý nhất phù hợp với mục đích
của bản thân. Đổi lại họ có điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế, xây dựng gia
đình cũng như tạo thuận lợi cho công việc và thực hiện tốt các chính sách dân số
kế hoạch hóa gia đình của nhà nước
2.2.3 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber
Lý thuyết hành động xã hội gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học
Pareto, Max Weber, T.Parson. Max Weber được xem là nhà Xã hội học có đóng
góp lớn nhất với lý thuyết hành động xã hội.Max Weber là nhà kinh tế học, sử học,
nhà xã hội học bách khoa toàn thư, sinh năm 1864 tại Đức, mất năm 1920. Một
trong những khái niệm quan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hành
động xã hội. Theo ông hành động xã hội là hành động được chủ thể gắn cho một ý
nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác và vì vậy
được đình hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó.
Hành động xã hội là một trong những phạm trù phương pháp luận trung tâm
của xã hội học Weber. Hành động, cái ý nghĩa mà các tác nhân ám chỉ, có quan hệ
với hành động của những người khác và diễn ra do những định hướng của hành
động này. Như vậy, hành động xã hội đòi hỏi có động cơ chủ quan của cá nhân hay
nhóm và sự định hướng đến người khác. Đây là hai yếu tố mà thiếu nó thì không
thể nói đến hành động xã hội.
Weber đã phác thảo hướng tiếp cận của mình từ góc độ hiểu “tính đơn nhất
đặc thù” của thực tiễn mà chúng ta hoạt động trong đó, một thực tiễn trong đó vô
vàn những sự kiện lần lượt đồng thời xuất hiện và biến mất. Cái gọi là những quy


luật khách quan, hay các mối quan hệ giữa vô vàn yếu tố bên ngoài cấu thành một
hệ thống xã hội, bản thân nó không sản sinh ý nghĩa. Weber nhấn mạnh rằng, phàm
trù ý nghĩa chỉ được sản sinh ra thông qua hành động xã hội, khi chủ thể hành động

2.3.2 Khái niệm kế hoạch hóa gia đình
Kế hoạch hóa gia đình được hiểu là sự nỗ lực của nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân,
cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng
cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dậy con có trách nhiệm, phù
hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình (khoản 9 điều 3 pháp
lệnh dân số 2003)
2.3.3 Khái niệm gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết xã hội con người lại với nhau
nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Các mối quan
hệ gia đình còn được gọi là các mối quan hệ họ hàng. Đó là sự liên kết ít nhất từ
hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân, việc nhận nuôi con. Những người
này có thể sống cùng hoặc sống khác mái nhà với nhau.( Đặng Cảnh Khanh- Lê
Thị Quý, 2009)
2.3.4 Khái niệm phụ nữ
Phụ nữ là một khái niệm chung dùng để chỉ một một người hay một nhóm người
hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc
điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể
họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.(Nguồn: Vi.
Wikipedia.org).


3 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4 Chọn điểm nghiên cứu
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Xã Phú Thành là một xã nằm ở phía Bắc huyện Lạc Thủy. Chạy dọc theo
tuyến quốc lộ 21A, phía Đông Nam giáp với 2 xã Phú Lão và xã Cố Nghĩa. Phía
Tây giáp với xã Hưng Thi, phía Bắc giáp với 2 xã Thanh Nông và Thanh Hà. Xã có
tổng diện tích tự nhiên là 37,097 ha với tổng số hộ là 1985 hộ với số nhân khẩu là
7812 người. Trong đó có 3459 người là nữ. Tổng số phụ nữ từ 15 - 49 có 2122
người. Tổng số phụ nữ từ 15 - 49 tuổi có chồng là 1424 người. Tổng số cặp vợ


tin có sẵn từ các phòng ban trong ủy ban nhân dân xã Phú Thành. Đặc biệt là các
thông tin và tài liệu từ Hội phụ nữ xã như các báo cáo cuối năm, các số liệu thống
kê, các bài báo cáo tổng kết hàng năm về dân số, kế hoạch hóa gia đình. Thu thập
các số liệu và báo cáo tại phòng dân số thuộc trạm y tế xã. Ngoài ra còn tiến hành
tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan về tình hình kế hoạch hóa gia
đình. Thu thập qua các sách báo tạp chí chuyên nghành, các bài viết về chính sách
kế hoạch hóa gia đình va các sách chuyên khảo, các nghiên cứu về dân số kế hoạch
hóa gia đình.
2

Thu thập thông tin sơ cấp:
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với 60 phụ nữ để thu thập thông tin về

việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố tác động tới dân số
kế hoạch hóa gia đình tại địa phương.


- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Nhằm tìm hiểu cụ thể hơn các yếu tố tác động tới dân số kế hoạch hóa
gia đình tại địa phương, tiến hành 8 phỏng vấn sâu gồm: 1 phỏng vấn sâu chủ tịch
hội phụ nữ xã, 1 cán bộ y tế, 3 phụ nữ đã sinh con, 3 người nam giới đã có con.
1.6 Khung phân tích

Chính sách kế hoạch
hóa gia đình
3.4 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Phương pháp so sánh: Xem xét sự khác nhau về việc thực hiện kế hoạch hóa gia
giữa

bảo nữ
độtạitin
chính xác cao.
phong tục tập
phương
quán

• Các hình thức

• Thu nhập


PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thực trạng việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ
tại địa phương.
Đối với công tác Y tế, Dân số kế hoạch hóa gia đình và trẻ em tại địa phương đã
đạt được một số thành công nhờ sự quan tâm của cán bộ trạm được thường xuyên
bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ về chuyên môn. Trú trọng thực hiện phòng
chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Kết quả thăm khám
chữa bệnh trong năm đạt gần 8000 lượt người. Đối với công tác dân số kế hoạch
hóa gia đình và trẻ em thì nhờ sự phối hợp chặt chẽ của ban dân số kế hoạch hóa
gia đình và các cộng tác viên dân số ở các khu mở các lớp truyền thông giáo dục
đến nhân dân pháp lệnh dân số, luật bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em, thực hiện
các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Để thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch
hóa gia đình xã Phú Thành luôn tuyên truyền vận động các chị em thực hiện tốt các
chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Cùng với các buổi hội họp các cán bộ
phụ nữ đến tận nhà động viên tư vấn và vận động từng chị em. Qua đó đẩy lùi và
giúp các chị em từ bỏ những tập quán sinh đẻ lạc hậu. Tư vấn và phổ biến các biện
pháp tránh thai hiện đại như dùng bao cao su hay đặt vòng…Do đó tỉ lệ các chị em
phụ nữ sinh con thứ ba giảm hẳn. Trong năm 2014 vừa qua áp dụng các biện pháp


23

14

20

9

5

Tuyên truyên, tư vấn về hậu quả của việc nạo phá thai
13
8
và các bệnh lây qua đường tình dục
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)
Theo kết quả điều tra, những nội dung về dân số kế hoạch hóa gia đình được
phổ biến tại xã Phú Thành thì hình thức tuyên truyền tại xã tương đối đa dạng chủ
yếu nhất vẫn là tuyên truyền tư vấn về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Với
23 lượt chọn của phụ nữ dân tộc Mường và 28 lượt chọn đối với phụ nữ dân tộc
Kinh (Xem bảng 4.1). Nội dung của các buổi tuyên truyền được các cán bộ tư vấn
tới các chị em phụ nữ với các chủ đề về kế hoạch hóa gia đình, thông báo tới các
chị em về các chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân số kế hoạch hóa gia
đình, các quy định về số con cũng như tư vấn chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ
em…
Bên cạnh đó, ở đây còn được phổ biến nội dung tuyên truyền tư vấn về các
biện pháp phòng tránh thai và chăm sóc sức khỏe sinh sản với 20 lượt chọn của
phụ nữ người dân tộc Mường và 14 lượt chọn đối với người dân tộc Kinh do trình
độ nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mường và khả năng tiếp cận với các chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status