VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐÌNH TÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC
SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐÌNH TÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC
SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VŨ HÙNG CƯỜNG
HÀ NỘI, năm 2019
1.3.
Các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền
1.4.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo
1.5.
Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước thực hiện chính
nghèo bền vững và gợi mở cho huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam .......................
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ..........................
2.1.
Khái quát về chính sách giảm nghèo và tình hình thực hiện chính
nghèo ở Việt Nam .....................................................................................................
2.2.
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình đói nghèo
Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam ....................................................................................
2.3. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước
Sơn, tỉnh Quảng Nam ................................................................................................
2.4. Đánh giá về thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng
Nam dưới góc độ bền vững .......................................................................................
QLDA
CTXH
DTTS
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp kết quả giảm hộ nghèo, cận nghèo ................................
Bảng 2.2. Kết quả thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo năm 2018
......................................................................................................................... 35
Bảng 2.3. Bảng thống kê diện tích sản xuất và sản lượng lúa nước ...............
năm 2015 và 2018 ...........................................................................................
Bảng 2.4. Tổng hợp số lượng cấp cây, con giống, vật tư nông nghiệp ..........
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra vốn vay ưu đãi người nghèo năm
2018 .................................................................................................................
Bảng 2.6. Kết quả cho vay tín dụng ưu đãi hộ nghèo sản xuất, kinh doanh ..
Bảng 2.7. Thống kê tình hình khám sức khỏe của người dân các năm 2015,
2018 ................................................................................................................. 52
Bảng 2.8. Thống kê tỷ lệ học sinh trung học cơ sở ra lớp các năm 2015, 2018
......................................................................................................................... 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, là một trong những
biện pháp cơ bản để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
một số địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như:
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế “Giảm nghèo trên địa
bàn huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam” (Đà Nẵng năm 2017) của Nguyễn Việt
Linh: Đã nghiên cứu tổng quan về thực trạng thực hiện chương trình giảm nghèo
trên địa bàn huyện Nam Trà My giai đoạn từ năm 2011-2015. Đề tài đã nêu lên
những thành công, đó là: Các chính sách giảm nghèo được các ngành, địa phương tổ
chức thực hiện kịp thời. Việc huy động, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện mục
tiêu giảm nghèo được tăng cường, nhất là nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông, thủy
lợi; lồng ghép nguồn lực thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình
giảm nghèo; tạo sinh kế cho người nghèo thông qua chính sách giao khoán bảo vệ,
chăm sóc rừng, tận dụng tán rừng để trồng cây dược liệu, chăn nuôi gia súc. Ý thức,
trách nhiệm của người dân trong công tác giảm nghèo được nâng lên, nhiều hộ
nghèo tự nguyện đăng ký thoát nghèo bền vững. Sự chung tay, hỗ trợ, sẻ chia của
cộng đồng đã tác động tích cực đến công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 84,77% năm 2011 xuống còn 56,50% năm 2015, tỷ
lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 7%/năm.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như: Công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện
các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo có lúc còn chậm; nguồn lực thực
hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo chưa đáp ứng nhu cầu; chưa khai thác hoặc
khai thác không hết tiềm năng, lợi thế địa phương để phát triển kinh tế, giải quyết
việc làm tăng thu nhập để giảm nghèo. Việc lồng ghép hoạt động giữa chương trình,
dự án giảm nghèo với các chương trình, dự án khác chưa đồng bộ; giải quyết một số
chính sách hỗ trợ về giáo dục còn chậm. Một số hộ nghèo chưa chịu khó làm ăn,
chưa mạnh dạn vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất.
2
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công “Thực hiện chính sách
3
chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; định hướng,
mục tiêu và một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam thời gian tới. Cuốn sách đã bổ sung luận cứ cho công tác hoạch
định chính sách xóa đói, giảm nghèo, bổ sung tư liệu cho công tác đào tạo, nghiên
cứu về chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Hoa “Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015”, Nhà
xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội (2010). Nghiên cứu đã tiến hành đánh
giá tác động của một số chính sách đến công tác xóa đói giảm nghèo. Trong đó tập
trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính
sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho
người nghèo; Và chính sách hỗ trợ y tế cho người ghèo. Ngoài việc phân tích, đánh
giá và phản ánh thực trạng thực hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những
phương hướng nhằm hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của
Việt Nam đến năm 2015.
- Nguyễn Hữu Lợi “Giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số ở huyện
Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí Phát triển Kinh tế xã hội (trang 30-35). Bài
viết nghiên cứu về tình trạng nghèo, chính sách giảm nghèo của huyện Bắc Trà My
trong giai đoạn 2009-2013. Nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp, kiến nghị thực
hiện giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc
Trà My.
Các nghiên cứu trên đã cung cấp các cơ sở lý luận về xóa đói, giảm nghèo,
quan niệm về giảm nghèo, cũng như một số giải pháp giảm nghèo ở Việt Nam.
Nhưng các nghiên cứu trên chưa đề cập đến tính bền vững của chính sách giảm nghèo.
Mặt khác, từ khi Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
tiếp cận đơn chiều và đa chiều. Luận văn tập trung phân tích, đánh giá 03 chính sách
giảm nghèo bền vững, đó là: (1)Chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông,
thủy lợi; (2)Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm
nghèo; (3)Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo phát triển sản xuất, kinh
doanh; đây là các chính sách tác động trực tiếp đến vấn đề nâng cao thu nhập cho
người nghèo. Sở dĩ luận văn lựa chọn 03 chính sách trên làm đối tượng nghiên cứu
đó là: (i) trong các giai đoạn của chương trình giảm nghèo do Chính phủ ban hành,
sự xuất hiện của 03 chính sách trên đã chứng tỏ được tầm quan trọng của các chính
sách giảm nghèo, nó có tác động rất lớn đến việc cải thiện khả năng thỏa mãn nhu
cầu tối thiểu để trì cuộc sống của người nghèo về ăn, ở, mặt và một số vấn đề về
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo; (ii) khi nghiên cứu về thực
5
trạng nghèo đa chiều ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, phần lớn hộ nghèo chủ
yếu thiếu hụt về tiêu chí thu nhập; (iii) trong phạm vi giới hạn của luận văn không
thể phân tích, đánh giá hết các chính sách giảm nghèo. Vì vậy Luận văn chỉ tập
trung phân tích, đánh giá 03 chính sách giảm nghèo như trình bày trên.
- Về không gian: Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phước Sơn.
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2016-2018. Thời gian phát sinh
số liệu từ năm 2015-2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyên Phước Sơn luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Để tổng hợp và hệ thống hoá các cơ sở lý
thuyết và hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước, của tỉnh Quảng Nam và các
và thực tiễn kết quả việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước
Sơn, từ đó giúp cho việc định hướng trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Phước Sơn đạt kết quả tốt hơn
trong thời gian đến, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng
biểu; luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện
Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Một số khái niệm về nghèo, giảm nghèo bền vững
1.1.1. Khái niệm về nghèo
Nghèo là một vấn đề xã hội mang tính chất toàn cầu. Nghèo không chỉ tồn tại
ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở cả quốc gia có nền
kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào thể chế chính trị, điều kiện tự nhiên và
điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà có quan niệm nghèo của từng quốc
gia có khác nhau.
Trong một bản báo cáo nhanh của Chương trình phát triển liên hợp quốc với
mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng
trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín
dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị
bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và
công trình vệ sinh”.
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu
nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật,
bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa
chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các
cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh
tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản .
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến
mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản. Chỉ số nghèo đa chiều của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: ytế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho
phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính
trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý
nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con
người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu
các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
9
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường
nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện
hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Dựa trên tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ,
từng khu vực Việt Nam thực hiện đánh giá đói nghèo theo các tiêu chí theo các giai
đoạn, như: Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 và Chuẩn nghèo theo
phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.
Về tiêu chí xác định hộ nghèo
* Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
* Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000
đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.4. Khái niệm về giảm nghèo bền vững
“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước
2000. Nhưng đến năm 2008, cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức
trong văn bản hành chính ở Việt Nam, đó là: Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối
với 61 huyện nghèo; Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về định
hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 và một số văn bản hành chính của
Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào
ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên
và xã hội.
12
Về nguyên tắc, giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững cần đảm bảo trên cả 2
phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ
nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định. Về chất lượng, kết quả
giảm nghèo phải thực chất, vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo phải được
nâng lên sau khi có hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, khoảng cách thu nhập của
người nghèo với các nhóm dân cư khác được rút ngắn, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ
không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo
suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Giảm nghèo bền vững ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo
đã được xác định trong từng giai đoạn, từng thời kỳ của từng địa phương. Cần hướng
đến việc khắc phục một cách có hiệu quả nhất những bất cập, hạn chế trong giảm
nghèo để tránh tình trạng tái nghèo, cải thiện ở mức tốt nhất thu nhập và điều kiện sống
của người nghèo. Từng bước giúp họ có thể tự vươn lên một cách vững vàng thông qua
việc họ có các điều kiện và cơ hội khai thác các nguồn lực xã hội cơ bản để phát triển.
Đồng thời, hướng tới việc nắm bắt các xu hướng tác động đến chất lượng giảm nghèo
để có cách thức bảo đảm tính bền vững cho thành quả giảm nghèo.
Như vậy khái niệm giảm nghèo bền vững có thể được khái quát là tình trạng dân
cư (người nghèo) đạt được mức độ thỏa mãn hay mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản và có mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo, đồng thời duy trì lâu dài mức độ tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản và mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo ngay cả khi gặp
những sự cố bất lợi, rủi ro. Giảm nghèo bền vững có thể được hiểu đơn giảm là hộ
nghèo hay người nghèo “thoát nghèo bền vững” hay không “tái nghèo”.
1.2. Khái niệm, nội dung chính sách giảm nghèo bền vững
vấn đề công bằng xã hội... Đây là những chính sách mà trong quá trình triển khai
thực hiện có thể tác động đến kết quả giảm nghèo, nếu thiếu đi các chính sách này
thì việc thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
- Căn cứ vào bản chất đa chiều của nghèo, chính sách giảm nghèo được phân
thành: Nhóm chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nghèo; nhóm chính sách
nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo; nhóm
chính sách giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn thương; nhóm chính sách tăng
cường tiếng nói cho người nghèo.
Mỗi chính sách giảm nghèo bền vững đều được thiết kế theo một cấu trúc cụ
thể, bao gồm các bộ phận cơ bản cấu thành đó là phạm vi và đối tượng áp dụng, nội
14
dung chính sách, mục tiêu, chỉ tiêu, thời gian thực hiện, nguồn lực, cơ quan quản lý
thực hiện. Tất cả các chính sách giảm nghèo bền vững đều cùng chung mục tiêu
cuối cùng đó là cải thiện tình trạng nghèo của hộ nghèo, hộ cận nghèo, xã nghèo,...
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là toàn bộ quá trình đưa chính
sách giảm nghèo bền vững vào đời sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ,
thống nhất nhằm giải quyết vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
người nghèo, giúp người nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo bền vững.
Quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững bao gồm hai nội dung cơ
bản là: (1) ban hành các văn bản, các chương trình, kế hoạch, dự án thực thi chính
sách; (2) tổ chức triển khai thực hiện chính sách nhằm thực hiện mục tiêu giảm
nghèo bền vững.
Trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn ở nội dung thứ hai
của quá trình thực hiện chính sách đó là công tác tổ chức triển khai thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững.
tích cực của hạ tầng giao thông, thủy lợi mang lại. Chính vì vậy, để tăng cường cơ
sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã nghèo;
ngày 02/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg phê
quyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, Chính phủ đề ra mục tiêu là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KTXH ở các
huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đồng bộ theo tiêu chí nông thôn
mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt, y
tế... [20].
1.2.3.2. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo
Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo là một trong
những nội dung quan trọng trong chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2016-2020 theo Quyết định 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Việc ban
hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo nhằm
mục đích hỗ trợ người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất quy mô nhỏ và vừa để
tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững. Hộ nghèo ở vùng KTXH đặc biệt khó khăn
hầu như đều khó khăn về vốn để đầu tư phát triển sản xuất, thiếu kinh nghiệm
16
làm ăn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó khăn
trong việc tiếp cận với thị trường. Chính vì vậy, việc ban hành chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo như là công cụ hữu hiệu để thực
hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Theo quy định tại Quyết định 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, về nội
dung hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo, người nghèo được
hỗ trợ giống cây trồng; con vật nuôi; một số loại vật tư nông nghiệp như phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, máy móc, nông cụ sản xuất... Bên cạnh được nhận hỗ trợ
người nghèo còn được tập huấn, chuyển giao kỹ thuật.
Để được nhận hỗ trợ phát triển sản xuất, tham gia mô hình giảm nghèo, chính
doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững.
Ngân hàng CSXH là cơ quan được giao nhiệm vụ để thực hiện nhiệm vụ này
nhằm tập trung các nguồn vốn tín dụng ưu đãi để đầu tư cho chương trình mục tiêu
xoá đói giảm nghèo. Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP cho
đến nay, đã có nhiều chương trình cho vay ưu đãi đối với người nghèo được ban
hành; hạn mức cho vay luôn có sự điều chỉnh để phù hợp với từng thời kỳ phát triển
nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh của người nghèo. Cụ thể, trước
năm 2014 mức cho vay tối đa là 30 triệu đồng/hộ; từ năm 2014 đến năm 2018 đã
nâng mức cho vay tối đa lên 50 triệu đồng/hộ; từ ngày 01/3/2019 mức vay tối đa
được điều chỉnh lên mức 100 triệu đồng/hộ.
Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho người nghèo phục vụ sản xuất, kinh
doanh ngày càng hoàn thiện và phù hợp với từng nhóm đối tượng hộ nghèo đã giúp
mọi đối tượng nghèo có điều kiện giải quyết những khó khăn, làm quen với cơ chế
thị trường, làm ăn có tính toán và từ bỏ dần nếp nghĩ giản đơn trong sản xuất, chi
tiêu gia đình, thúc đẩy hộ nghèo nỗ lực, sáng tạo vươn lên thoát nghèo bền vững và
làm giàu chính đáng.
Trong thực tế chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi; chính sách
hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo và chính sách hỗ trợ tín
dụng ưu đãi cho người nghèo có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau.
Chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi giúp người nghèo mở
rộng quy mô sản xuất, thuận lợi trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
nâng cao chất lượng, sản lượng, giá trị sản phẩm, điều đó có nghĩa là đã tác động
18