VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH ĐÔNG
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH ĐÔNG
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số
: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN MINH ĐỨC
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NAM. .........................33
2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam có liên quan
đến giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự. .............................33
2.2. Tình hình khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam.
...................................................................................................................................35
2.3. Tình hình giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh
Quảng Nam ...............................................................................................................39
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc giải quyết khiếu nại về cưỡng
chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam .....................................................42
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM .........................................................50
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án
dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam .........................................................................50
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. ...........................................................55
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. ...........................................................56
KẾT LUẬN ..............................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung
và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động
tố tụng, bảo đảm bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền được chấp hành
nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính ngiêm minh của pháp luật, qua đó góp
phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu quả của bộ máy Nhà
nước.
thực tiễn của tỉnh Quảng Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Liên quan đến đề tài “Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án
dân sự từ thực tiễn của tỉnh Quảng Nam” đã có một số công trình nghiên cứu như:
Luận án tiến sỹ luật học “ Hoàn thiện thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại của
công dân” của tác giả Nguyễn Hạnh, luận án đã nghiên cứu toàn diện hệ thống lý
luận và các quy định của pháp luật về khiếu nại của công dân, đưa ra những đánh
giá, nhận xét cũng như đề ra các biện pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hơn nữa
các thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại của công dân. Tuy vậy luận án không đề
cập đến thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân
sự.
Luận án tiến sỹ“Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền khiếu nại hành chính của
công dân ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh, luận án đã nghiên
cứu, phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng từng yếu tố pháp lý bảo đảm
thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân, làm cơ sở cho việc đề xuất các
giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền khiếu nại
hành chính của công dân. Tuy nhiên nội dung của luận án không đề cập đến quyền
khiếu nại của công dân trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung cũng như việc
giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự nói riêng.
Nhìn chung, các công trình, bài viết nghiên cứu đó mới dừng lại ở việc
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có tính chất chung, tổng quát. Các
công trình nghiên cứu đó đã ít nhiều làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của tình hình khiếu nại, giải quyết khiếu nại nói chung, khiếu nại, giải quyết khiếu
2
nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào
nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn
công tác giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh
5.1. Cơ sở lý luận.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân và các vấn đề về bảo đảm
quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dân sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so
sánh… được tác giả sử dụng để đánh giá và rút ra nhận xét, kết luận phục vụ cho đề
tài của mình.
6. Ý nghĩa của đề tài.
Đề tài nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết
khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc hoàn thiện pháp luật
và nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
Kết quả nghiên cứu luận văn cũng có thể sử dụng là tài liệu phục vụ cho các
sinh viên, học viên tham gia học tập, nhất là đối với cán bộ, công chức ngành Thi
hành án dân sự, cho các hoạt động nghiên cứu về giải quyết khiếu nại nói chung và
giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
cơ cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của giải quyết khiếu nại về
cưỡng chế trong thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại
tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu
nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
4
5
quy định của pháp luật.
Mỗi loại quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng, tuy nhiên
theo tác giả thì thi hành án là một thủ tục tố tụng và chỉ cần xác định thi hành án là
thủ tục tố tụng thi hành án, không nên coi đó là một giai đoạn của thủ tục tố tụng
hình sự, dân sự, hành chính hay tố tụng khác và cần hiểu thi hành án là thủ tục tố
tụng độc lập so với các thủ tục tố tụng khác như điều tra, kiểm sát hoặc xét xử. “Tố
tụng” không nên hiểu chỉ là "thưa kiện tại Toà án nói chung", là hoạt động của cơ
quan Toà án xét xử để đi tìm “chân lý”, mà cần xem xét đến bản chất của tố tụng.
Về bản chất, thực ra tố tụng chỉ là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình
thức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều chỉnh
của pháp luật nội dung. Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tuỳ theo tính
chất và mức độ do pháp luật quy định. Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nói
chung, cơ quan thi hành án nói riêng nhằm mục đích bảo đảm để bản án, quyết định
của Toà án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác được thực thi
trên thực tế. Hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là
hoạt động tố tụng, do đó có nhiều loại tố tụng, như: Tố tụng dân sự, tố tụng hình sự,
tố tụng hành chính, tố tụng trọng tài, tố tụng thi hành án.
Từ nhận định trên, để làm rõ khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự cần tìm
hiểu về bản chất của cưỡng chế. Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như
Ý (chủ biên), Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo
do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998 thì cưỡng chế là“bắt buộc
phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế của pháp luật”. Từ
điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành 2001
thì “cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1996 thì cưỡng chế là “dùng
quyền lực của Nhà nước để bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái với ý
chủ thể tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế
bằng pháp luật. Cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, là
hiện tượng gắn liền với Nhà nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực dựa trên sức
mạnh của Nhà nước, khả năng sử dụng Nhà nước thực hiện ý chí của giai cấp thống
trị buộc xã hội phải phục tùng ý chí đó; quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị
được thực hiện bằng Nhà nước và là trung tâm của quyền lực chính trị bởi vì Nhà
7
nước là tổ chức rộng lớn nhất, bao trùm lên toàn bộ xã hội, quản lý mọi tầng lớp
dân cư trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Như vậy, cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất
định phải tuân theo, đó là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho quyền lực nhà
nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có thẩm quyền tiến
hành. Theo Điều 45 và 46 Luật Thi hành án dân sự, quy định: Hết thời hạn tự
nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết
định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, người phải thi
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế
và Điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định 07 biện pháp cưỡng chế thi hành án
bao gồm: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án; (2) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (3) Kê
biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba
giữ; (4) Khai thác tài sản của người phải thi hành án; (5) Buộc chuyển giao vật,
chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (6) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc
không được thực hiện công việc nhất định.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm cưỡng chế thi hành án dân
sự như sau: Cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền dùng
quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về
thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế
quyết khiếu nại, tố cáo mà Tổng cục Thi hành án dân sự đã xây dựng. Khiếu nại về
thi hành án dân sự là khiếu nại hành chính nhưng nội dung liên quan đến vấn đề tư
pháp. Trong giới khoa học, các nhà nghiên cứu cũng xác nhận tính chất hành chính
của loại khiếu nại nêu trên. Theo giáo sư, viện sỹ Nguyễn Duy Quý và phó giáo sư,
tiến sỹ Nguyễn Tất Viễn thì “cơ quan Thi hành án dân sự cần xác định rõ là cơ
quan hành chính - tư pháp (tác giả nhấn mạnh), hướng là phải tập trung nhiệm vụ
thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào một đầu mối. Đồng thời,
từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án và quy định hình thức, thủ
tục đã giao cho tổ chức không phải là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện một số
công việc thi hành án”. Chính vì vậy mà khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự
có những đặc điểm khác biệt so với khiếu nại hành chính theo qui định của luật
Khiếu nại, điều này thể hiện ở chỗ:
9
Khiếu nại hành chính thì công dân, tổ chức, cơ quan có quyền đề nghị cơ
quan nhà nước xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ
cho rằng quyết định, hành vi đó là trái luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp
của họ. Việc khiếu nại hành chính xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau (đất đai, lao
động, môi trường...), tuy nhiên ở đây chúng ta thấy rằng chỉ khi quyết định, hành vi
hành chính nào đó của hoặc cơ quan có thẩm quyền mà ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó thì họ mới thực hiện được
quyền khiếu nại của mình.
Khiếu nại về lĩnh vực thi hành án dân sự thì không chỉ người được thi hành
án, người phải thi hành án có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của thủ
trưởng cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên mà ngay cả những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án, không phải người được thi hành
án, phải thi hành án cũng có quyền khiếu nại.
Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung và về cưỡng
quyết khiếu nại thể hiện trong hoạt động việc tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp
luật trong giai đoạn áp dụng biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên và bảo đảm
quyền khiếu nại của đương sự khi họ không đồng ý với việc áp dụng các thủ tục và
biện pháp cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên.
Thứ hai, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân là hoạt
động giúp người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan bảo vệ được lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình, theo yêu cầu, đề
nghị của họ. Kết quả giải quyết khiếu nại có tác động lớn đến tâm lý cũng như lợi
ích vật chất của các bên trong quan hệ khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
Thứ ba, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự là nhân tố
quan trọng thúc đẩy hoạt động thi hành án dân sự. Thi hành án dân sự luôn là điểm
nóng trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam. Việc giải quyết đúng đắn khiếu nại không
những làm bảo đảm pháp chế trong lĩnh vực cưỡng chế thi hành án mà còn bảo vệ
quyền của các đương sự liên quan đến bản án, quyết định của Tòa án mà còn tạo ra
sự tôn nghiêm trong hoạt động thi hành án dân sự, hạn chế khả năng vi phạm trong
lĩnh vực này.
1.3. Nội dung giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự các khiếu nại liên quan tới các quyết định,
11
hành vi về cưỡng chế của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án và
trong cả quá trình giải quyết khiếu nại, nội dung khiếu nại trong lĩnh vực về cưỡng
chế thi hành án dân sự rất đa dạng như chậm ra quyết định thi hành án cưỡng chế kê
biên tài sản, chậm tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án, kê biên tài sản sai
đối tượng, bán đấu giá tài sản không đúng trình tự thủ tục, thanh toán tiền thi hành
án không đúng quy định…
Khác với đặc điểm về khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung,
khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự mang những đặc điểm khác biệt về
đối tượng bị khiếu nại:
+ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người
phải thi hành án.
+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
+ Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
+ Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
+ Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
+ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc
nhất định.
Hoặc các hành vi thực hiện hoặc không thực hiện các biện pháp cưỡng chế nêu
trên cũng là đối tượng bị khiếu nại.
Đối tượng bị khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự ngoài các
quyết định, hành vi nêu trên của Chấp hành viên thì còn có các hành vi của Chấp
hành viên khi thực hiện không đúng hoặc không thực hiện việc mà theo qui định
của luật phải làm như hành vi không thông báo, thông báo không đúng quy định về
áp dụng biện pháp cưỡng chế, kết quả thẩm định giá, bán đấu giá, kê biên thiếu
hoặc dư tài sản, kê biên tài sản không được quyền kê biên, không thực hiện giao tài
sản bán đấu giá thành …
1.4. Phương thức giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án
dân sự.
1.4.1. Cơ sở làm phát sinh khiếu nại và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế
trong thi hành án dân sự.
Việc thi hành án dân sự không tự nhiên mà phát sinh. Khi bản án đã có hiệu
13
lực thì điều kiện bắt buộc để thực hiện bản án dân sự là cơ quan Thi hành án dân sự
phải ban hành quyết định thi hành án theo một thủ tục nhất định. Cụ thể là, sau khi
án dân sự nói riêng là hoạt động có bản chất là tổ chức, điều hành thuộc lĩnh vực
hoạt động quản lý hành chính do luật hành chính điều chỉnh. Ở trên, luận văn đã
dẫn ra các ý kiến tán thành quan điểm này của Tổng cục Thi hành án Bộ Tư pháp và
quan điểm của một số nhà khoa học.
1.4.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành
án dân sự.
1.4.2.1. Các nguyên tắc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án
dân sự.
Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự là hoạt động
mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại theo một trình tự, thủ tục do pháp luật qui định. Các thủ tục này chứa
đựng và thể hiện những tư tưởng cơ bản được gọi là nguyên tắc. Các nguyên tắc này
bao gồm các nguyên tắc chung của việc thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời nó
phải thể hiện tính đặc thù của hoạt động giải quyết khiếu nại. Đó là các nguyên tắc:
1/ Chỉ có cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền do pháp luật quy định mới
được tiến hành các thủ tục hành chính nhất định và phải thực hiện đúng trình tự và
cách thức thể hiện trong các phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luật
cho phép.
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong
thi hành án dân sự phải tuân thủ các quy định của pháp luật về khiếu nại và các quy
định về khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Nguyên
tắc này đặt ra yêu cầu đối với người giải quyết khiếu nại là phải tuân thủ và thực
hiện đúng theo các qui định của Luật khiếu nại năm 2011, Luật Thi hành án dân sự
năm 2008 (được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2014) trong việc giải quyết khiếu
nại. Việc giải quyết khiếu nại phải căn cứ vào qui định của Luật Thi hành án dân sự,
qui chế giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, phải đánh giá vấn đề khiếu nại
một cách khách quan, công minh, không bao che, phải trung thực trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, từ đó đưa ra quyết định giải quyết
khiếu nại một cách chính xác, đúng qui định.
Nguyên tắc này tể hiện ở chỗ các cơ quan hành chính nhà nước phải đáp ứng đề
nghị của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện do pháp luật quy định
và phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền,
16
lợi ích hợp pháp của đương sự.
7/ Khi thực hiện việc xem xét, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế thi hành án,
thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của cơ
quan cấp trên trực tiếp. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự đồng
thời là Chấp hành viên đã thực hiện hành vi, ban hành quyết định để thực hiện việc
cưỡng chế thi hành án mà sau đó bị khiếu nại thì không được xin ý kiến chỉ đạo
nghiệp vụ về nội dung liên quan đến quyết định hành vi bị khiếu nại của mình mà
phải hướng dẫn người có đơn khiếu nại gửi đơn đến người có thẩm quyền để giải
quyết. Đây là nguyên tắc phản ánh rõ sự khác biệt của giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực thi hành án dân sự thể hiện tính khách quan trong việc giải quyết khiếu nại.
1.4.2.2. Thủ tục giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Thủ tục hay là trình tự - cách thức tiến hành việc giải quyết khiếu nại về thi
hành án dân sự nói chung và về cưỡng chế thi hành án nói riêng thuộc thẩm quyền
của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự bao gồm các giai đoạn và các cách thức
thực hiện các hành vi thủ tục dưới dạng là quyền và nghĩa vụ của các bên tiến hành
thủ tục và tham gia thủ tục hướng tới việc ra quyết định giải quyết khiếu nại. Thủ
tục pháp lý nói chung, thủ tục hành chính nói riêng, trong đó có thủ tục giải quyết
khiếu nại việc thi hành án dân sự được khoa học cũng như thực tiễn pháp lý quan
niệm là bảo đảm pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ (quy phạm vật chất) của
cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa vai trò bảo đảm pháp lý đó của thủ tục
hành chính trong việc giải quyết khiếu nại việc thi hành án dân sự. Bởi vì, thủ tục
hành chính, dù là thủ tục cho việc giải quyết vụ việc nào cũng chỉ tạo ra điều kiện
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn thi hành Luật, Thông tư 02/2016/TTBTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp quy định về quy trình giải quyết đơn khiếu
nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự, Quy chế giải
quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án dân sự do Tổng Cục Thi hành án dân sự ban
hành kèm theo quyết định 1318/QĐ-TCTHADS ngày 30/9/2013. Ngoài ra, còn phải
kể đến văn bản luật rất quan trọng quy định trực tiếp về khiếu nại, đó là Luật Khiếu
nại áp dụng trong lĩnh vực hoạt động hành chính nhà nước. Các luật và văn bản trên
đã quy định thẩm quyền, trình tự giải quyết khiếu nại cũng như quyền, nghĩa vụ của
người khiếu nại, thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại…
18
Trình tự giải quyết khiếu nại
Từ các quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên, trình tự - cách thức
giải quyết khiếu nại có thể chia thành các giai đoạn với các quy định cụ thể như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Tiếp nhận khiếu nại; vào sổ, phân công việc xử lý đơn
thư và phân loại, xử lý đơn khiếu nại.
1. Việc tiếp công dân đến khiếu nại được thực hiện tại trụ sở cơ quan theo
quy định hoặc tại trụ sở tiếp công dân của cơ quan có thẩm quyền khác theo yêu
cầu.
Trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; người được giao
nhiệm vụ tham mưu giải quyết khiếu nại thực hiện việc xác minh, đối thoại tại địa
phương thì địa điểm tiếp được thực hiện tại trụ sở của Cơ quan thi hành án dân sự
địa phương, hoặc nhà trưởng thôn, trưởng bản, hoặc trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi đang thực hiện việc thi hành án.
2. Tại buổi tiếp dân, sau khi nghe người khiếu nại trình bày về nội dung
khiếu nại, người tiếp phải xem xét để xác định thẩm quyền giải quyết đối với nội
dung khiếu nại đó.
Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại trực tiếp về một nội dung, thì người
tiếp hướng dẫn những người khiếu nại cử người đại diện để trình bày nội dung
lý như sau:
-. Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan
mình theo quy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự, nhưng chưa đủ
điều kiện thụ lý do người khiếu nại chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật thì
công chức tham mưu giải quyết khiếu nại soạn thảo, trình Lãnh đạo xem xét, ký văn
bản hướng dẫn, yêu cầu người khiếu nại thực hiện để được thụ lý, giải quyết.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình theo
quy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự và người khiếu nại đã thực
hiện đúng quy định của pháp luật thì phải thụ lý, giải quyết theo quy định.
- Trường hợp khiếu nại có một phần nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết
của cơ quan mình theo quy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự,
một phần thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác, thì chỉ tiến hành xem xét
những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình. Đối với những nội
dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì chuyển cho cơ quan có
20
thẩm quyền.
- Trường hợp khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan
mình nhưng không xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì công chức
tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo soạn thảo, trình lãnh đạo xem xét, ký công
văn thông báo, trả lời để đương sự biết.
- Trường hợp khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi
hành nhưng không có bằng chứng mới thì không thụ lý nhưng phải có văn bản chỉ
dẫn, trả lời cho người khiếu nại được biết.
- Trường hợp đơn khiếu nại đã được chuyển, chỉ dẫn, thông báo, trả lời, giải
quyết theo quy định của pháp luật nhưng đương sự vẫn tiếp tục có đơn cùng nội
dung; đơn đồng thời đề gửi nhiều cơ quan, trong đó đã đề gửi cơ quan có thẩm
quyền giải quyết; đơn đã mời người khiếu nại hai lần (theo địa chỉ cung cấp trên