Quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH THÔNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH THÔNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số

: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN NGỌC NGOẠN

HÀ NỘI, năm 2019


TRONG THỜI GIAN TỚI ........................................................................... 64
3.1. Bối cảnh trong nước và tỉnh Quảng Nam tác động đến hoạt động quản lý
nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Bắc Trà My ............................... 64
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện
Bắc Trà My trong thời gian tới ....................................................................... 67
3.3. Một số kiến nghị....................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 77

ii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Tên đầy đủ

UBND

:

Ủy ban nhân dân

TNHH

:

Trách nhiệm hữu hạn

VLXD

2012 - 2017
3.1
3.2

Mẫu bảng thống kê các văn bản pháp luật về khoáng sản
Mẫu bảng thống kê liên kết phần mềm giữa Microsoft
Excel, Microsoft World và Mapinfo

74
75

DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

hình
1.1

2.1

3.1

Sơ đồ tổ chức và phân cấp quản lý nhà nước về khoáng
sản
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khoáng sản
trên địa bàn huyện Bắc Trà My.
Bản đồ dự kiến quy hoạch điều tra, đánh giá bổ sung và
thăm dò khoáng sản huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam


so với số giấy phép hoạt động khoáng sản được UBND các tỉnh cấp, tuy nhiên
qua thanh tra, kiểm tra cho thấy, nhiều bất cập trong quản lý và khai thác tài
nguyên đặc biệt là những sai phạm về cấp phép.
Buông lỏng quản lý đã khiến nhiều nguồn tài nguyên rơi vào tình trạng
cạn kiệt. Ngoài ra tình trạng “chảy máu” tài nguyên cũng đang diễn biến phức

1


tạp. Đó là chưa kể đến nạn khai thác khoáng sản không phép, khai thác tự do,
nhất là đối với vàng sa khoáng, đá quý, chì, kẽm, titan... chưa thể ngăn chặn.
Huyện Bắc Trà My là một trong những huyện thuộc vùng núi cao của
tỉnh Quảng Nam, là địa bàn phong phú về các loại hình khoáng sản và có hoạt
động khoáng sản tương đối sôi động, trong đó khoáng sản có tiềm năng và giá
trị là: vàng gốc, thiếc - volfram, các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng
thông thường. Cùng với sự bùng nổ phát triển khai thác khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam, huyện Bắc Trà My cũng đã thu hút một số doanh
nghiệp đầu tư vào khai thác khoáng sản, đóng góp một phần vào thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại
như: tình trạng chưa thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình khai thác
của các doanh nghiệp được cấp phép. Do điều kiện phân bố của khoáng sản
dẫn đến số lượng mỏ đưa vào khai thác trong thời gian qua tương đối nhiều
nhưng phần lớn là khai thác quy mô nhỏ và chủ yếu được thực hiện bởi các
doanh nghiệp nhỏ và vừa, với công nghệ đơn giản, đầu tư còn manh mún nên
hiệu quả thấp, ảnh hưởng đến môi trường; tỷ lệ sử dụng lao động tại địa
phương nơi có mỏ của một số doanh nghiệp còn thấp, nhất là khai thác vàng
gốc. Các tồn tại nên trên và lĩnh vực khác liên quan dẫn đến chưa phát huy hết
tiềm năng, giá trị của nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện, còn gây tác
động tiêu cực đến môi trường, dân cư, có lúc gây bức xúc trong nhân dân.

trạng, kết quả quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản, bất cập và nguyên
nhân, từ đó đề xuất các kiến nghị.
- Ngân hàng Thế giới, 2011, Báo cáo phát triển Việt Nam. Báo cáo với
chủ đề Quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam cho thấy, phần lớn sự
tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay dựa vào yếu tố khai thác mạnh mẽ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hệ số sử dụng đất tăng mạnh, tài nguyên nước
lãng phí, rừng tự nhiên bị khai thác lấy gỗ, trữ lượng cá cho hoạt động đánh

3


bắt bị cạn kiệt và tài nguyên khoáng sản ngày càng bị khai thác nhiều hơn.
Để đảm bảo đóng góp tích cực của ngành khoáng sản cho phát triển đất
nước, Bộ chính trị đã có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 01/3/1996 và Nghị
quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 về định hướng chiến lược khoáng sản và
công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quốc hội
khóa IX cũng đã thông qua Luật khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 01/9/1996
(được sửa đổi bổ sung năm 2010). Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã ban hành các văn bản pháp luật trong quản lý nhà nước về khoáng
sản. Các nghiên cứu về các chính sách quản lý của nhà nước về khoáng sản và
các vấn đề đặt ra trong thực trạng khai thác khoáng sản thời gian qua được
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chú trọng. Có thể kể đến các nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Phạm Chung Thủy, 2012, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế
biến khoáng sản ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ ngành Luật kinh tế, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu làm rõ khái niệm, phân loại
khoáng sản, một vài nét về vai trò, ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế
biến khoáng sản và điều chỉnh pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến
khoáng sản ở Việt Nam; phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt
động khai thác, chế biến khoáng sản, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược

trong khai thác khoáng sản.
Bên cạnh các luận văn, các công trình nghiên cứu, các báo cáo trong
các hội thảo khoa học nêu trên còn có nhiều bài báo viết về lĩnh vực khai thác
khoáng sản và quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản nói chung, chủ yếu
phản ánh những bất cập trong thực tiễn.
Trong giới hạn tài liệu tác giả luận văn tìm được, chưa có một luận văn,
công trình nào nghiên cứu và xây dựng một cách đầy đủ khung lý thuyết quản
lý nhà nước về khoáng sản, cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn
diện quản lý nhà nước về khoáng sản ở cấp huyện nói chung và trên địa bàn

5


huyện Bắc Trà My nói riêng. Đây chính là khoảng trống để tác giả luận văn
nghiên cứu và có đóng góp ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Với đề tài “Quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Bắc
Trà My, tỉnh Quảng Nam”, luận văn định hướng nghiên cứu tổng quan về cơ
sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về khoáng sản, đối chiếu để đánh giá
thực trạng quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Bắc Trà My, từ
đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về khoáng sản tại cấp huyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về khoáng
sản trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam; chỉ ra những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về khoáng sản
trên địa bàn cấp huyện.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà về khoáng sản

- Phương pháp hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp văn bản pháp luật
quản lý nhà nước về khoáng sản thành hệ thống trên cơ sở tổng hợp, xét
khoáng sản như một đối tượng có nhiều khía cạnh làm cho sự hiểu biết của ta
về khoáng sản được toàn diện và sâu sắc hơn.
Phân loại và hệ thống hóa là hai phương pháp đi liền với nhau. Trong
phân loại đã có yếu tố hệ thống hóa, hệ thống hóa phải dựa trên cơ sở phân
loại. Hệ thống hóa làm cho phân loại được đầy đủ và chính xác hơn.
Sử dụng hai phương pháp trên, soi rọi trong thực tiễn quản lý nhà nước
về khoáng sản, xác định các tồn tại, bất cập để chỉnh sửa, thay thế những nội
dung quy định còn cách xa với thực tiễn, không ăn khớp với thực tiễn sau đó
ban hành, cập nhật các văn bản pháp luật mới có tính phù hợp với thực tiễn.

7


5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu được thu thập là tài liệu từ các
cơ quan nghiên cứu của Tổng hội Địa chất Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật, các cơ quan quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường như
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, các báo cáo tổng kết công tác
quản lý nhà nước về khoáng sản và tình hình hoạt động khoáng sản của Bộ
Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Quảng Nam và UBND huyện Bắc Trà
My trong giai đoạn 2012 đến 2017. Ngoài ra, còn thu thập thông tin từ phân
tích, đánh giá kinh nghiệm trong công tác quản lý tại các buổi họp, hội nghị
chuyên ngành do UBND tỉnh Quảng Nam và UBND huyện Bắc Trà My tổ
chức và qua các đợt kiểm tra các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản, các đợt
truy quét khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn.
- Phương pháp phân tích đánh giá: Như phương pháp phân tích hệ
thống, phân tích thống kê, phân tích chính sách...và đưa ra kết luận đánh giá.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về
khoáng sản trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.

9


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN
1.1. Một số vấn đề chung về khoáng sản
1.1.1. Khái niệm khoáng sản
Khoáng sản được hiểu một cách thông dụng nhất là những tích tụ tự
nhiên các khoáng vật và đá có ích được con người khai thác, sử dụng. Những
nơi tập trung khoáng sản gọi là mỏ khoáng sản.
Theo quan điểm địa chất thì: “Khoáng sản là thành tạo khoáng vật
của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng
cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của
cải vật chất của nền kinh tế quốc dân”[15].
Theo giải thích từ ngữ, tại Điều 2 Luật khoáng sản (Luật số
60/2010/QH12) thì: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích
tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao
gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.
Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, Luật Khoáng sản đã quy
định rất rõ ràng và rộng rãi bao trùm lên các khái niệm khác về khoáng sản.
Đặc trưng cơ bản của khoáng sản đó là loại tài nguyên không tái tạo
được và có số lượng hạn chế do đó cần có chiến lược quản lý, bảo vệ, khai
thác để sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của nguồn tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra địa chất và thăm dò khoáng sản đến nay trên lãnh
thổ Việt Nam đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm khoáng với trên 60

Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn.
Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn. Quặng titan

11


sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu có tiềm năng
lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn.
- Nhóm khoáng chất công nghiệp: Các khoáng chất công nghiệp ở
Việt Nam đã được đánh giá cao và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho
các ngành nông, công nghiệp:
+ Apatit: Phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở
phía Bắc đến vùng Văn Bàn có tài nguyên là 2,5 tỷ tấn.
+ Barit: Phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam. Tổng tài nguyên dự
báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn).
+ Graphit: Có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài
nguyên và trữ lượng đạt gần 20 triệu tấn.
- Nhóm vật liệu xây dựng: Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng
như: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp
lát, đá ong. Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát
hiện nhóm đá quý ruby, saphir, peridot, ... nhưng trữ lượng không lớn.
Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào
hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể và phân bố không đồng đều
ở các địa phương.
1.1.3. Đặc điểm thị trường trong lĩnh vực khoáng sản ở Việt Nam
Khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất
quản lý, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước, được
điều tra, thăm dò, đánh giá đúng trữ lượng và có chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch sử dụng hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng chung và bền vững của

nhỏ, trung bình nên thiếu vốn, khó khăn trong việc đầu tư công nghệ và thiết
bị tiên tiến. Trong khi đó, hoạt động khoáng sản đòi hỏi vốn đầu tư lớn, có
nhiều rủi ro nên gặp không ít khó khăn cho việc thăm dò để tìm ra mỏ mới.
Một số loại khoáng sản như thiếc sa khoáng, chì - kẽm, mangan do đã
khai thác lâu năm, trữ lượng đã và đang dần cạn kiệt, hoặc còn lại không

13


nhiều, cần phải tiếp tục đầu tư thăm dò mở rộng trên mặt và bổ sung phần trữ
lượng dưới sâu nhằm gia tăng trữ lượng.
Đầu tư chế biến sâu là chủ trương đúng đắn của Nhà nước. Tuy nhiên,
do quy định của một số địa phương chưa phù hợp, yêu cầu doanh nghiệp khi
xin giấy phép khai thác phải gắn với dự án chế biến sâu loại khoáng sản đó,
nhất là đối với khoáng sản kim loại. Điều này đã và đang xảy ra thực trạng là,
nhiều doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến sâu nhưng dựa trên cơ sở giấy
phép khai thác quy mô nhỏ (ngoài quy hoạch Trung ương), không có nguồn
nguyên liệu bảo đảm cho dự án chế biến sâu hoạt động ổn định, lâu dài, dẫn
tới tình trạng thiếu nguyên liệu, tăng mức độ rủi ro đối với các dự án chế biến
sâu; dễ gây ra tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu.
Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, cạnh tranh mua bán không
lành mạnh vẫn còn xảy ra ở một số địa phương, nhất là đối với khoáng sản
quý hiếm, khoáng sản kim loại. Hậu quả của tình trạng này là gây mất an toàn
lao động, trật tự trị an và ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh.
Hoạt động khai thác nhỏ lẻ, thủ công (cá thể, hộ gia đình) đối với khai
thác cát, sỏi lòng sông, khai thác sét làm gạch ngói thủ công v.v... tại nhiều
địa phương đến nay vẫn chưa được cấp phép theo quy định để quản lý. Do
phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hạn chế về năng lực vốn đầu tư nên
vẫn còn tình trạng chia các khu mỏ có quy mô lớn thành các khu vực nhỏ để
cấp cho nhiều doanh nghiệp.

trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.3.1.1. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước về khoáng sản
- Nguyên tắc sở hữu toàn dân về khoáng sản: Luật Khoáng sản xây
dựng trên nguyên tắc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
thống nhất quản lý là một điều hợp lý. Vì tài nguyên khoáng sản là loại tài sản
đặc biệt, luôn gắn liền với đất đai, sông, hồ, thềm lục địa cũng như vùng biển.
Đất đai, sông, suối, vùng biển thuộc về nhân dân Việt Nam, không thuộc sở

15


hữu đối với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
- Nguyên tắc đảm bảo hài hòa lợi ích của tất cả các chủ thể: Hoạt động
khoáng sản có cả một hệ thống các chủ thể tham gia bao gồm: Các cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền,; các đơn vị chuyên ngành địa chất; các chủ
đầu tư và chủ doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản;…Do vậy, Luật
Khoáng sản năm 2010 đã được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ tính lợi ích.
- Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa để bảo vệ môi trường trong
hoạt động khoáng sản: Khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia, tác
động trực tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo
đảm quốc phòng, an ninh. Chính vì vậy, chúng ta phải quản lý, bảo vệ, khai
thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản…
- Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững: Phát triển bền vững là sự
phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Hoạt động khoáng sản cần được điều chỉnh trên nguyên tắc phát triển
bền vững vì: Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo và tiềm năng
khoáng sản của nước ta là có hạn; Thứ hai, khai thác khoáng sản là một trong
những ngành có tác hại lớn nhất tới môi trường.

sông, hồ, các nguồn nước, thềm lục địa... dự trữ quốc gia, bảo hiểm quốc gia;
vốn và tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp; các loại quỹ chuyên
dùng vào công tác quản lý của Nhà nước.
- Nhóm công cụ quản lý: Đó chính là các cơ quan hành chính Nhà
nước, các công sở và hình thức hoạt động quản lý khoáng sản của Nhà nước.
1.3.2. Đặc điểm về tổ chức, phân cấp quản lý và nguồn nhân lực
quản lý về khoáng sản ở Việt Nam
Theo Luật khoáng sản năm 2010, các cấp quản lý từ Trung ương tới địa
phương được tổ chức theo sơ đồ tổ chức và phân cấp quản lý (hình 1.1).

17


Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức và phân cấp quản lý nhà nước về khoáng sản
Thủ tướng Chính phủ
(Phê duyệt)
Bộ
Công
Thương

Bộ
Xây
dựng

Sở
công
thương

Sở
xây

(Nguyễn Đình Thông, thành lập theo Luật khoáng sản năm 2010).

18


- Trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản của Chính phủ, bộ,
cơ quan ngang bộ:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ
trong quản lý nhà nước về khoáng sản trên phạm vi cả nước, có trách nhiệm:
Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản;
Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản; quy
hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ;
Khoanh định và công bố các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền;
khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá
quyền khai thác khoáng sản;
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực cho công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và
hoạt động khoáng sản;
Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai
thác khoáng sản; chấp thuận trả lại giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép
khai thác khoáng sản; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản;
Hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc đăng ký hoạt động điều tra cơ bản
địa chất về khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản;
Tổng hợp kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, tình hình hoạt
động khoáng sản; quản lý thông tin, mẫu vật địa chất, khoáng sản;
Thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia;
Thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền.
Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status