B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH TRANG
TìNH TRạNG DINH DƯỡNG Và THựC TRạNG
NUÔI DƯỡNG ngời BệNH TạI KHOA HồI SứC
TíCH CựC
BệNH VIệN LãO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
CNG LUN VN THC S Y HC
H NI - 2017
B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH TRANG
TìNH TRạNG DINH DƯỡNG Và THựC TRạNG
NUÔI DƯỡNG ngời BệNH TạI KHOA HồI SứC
TíCH CựC
BệNH VIệN LãO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
Chuyờn ngnh: Dinh dng
NRS 2002
Sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng (Nutrition Risk Screening)
NUTRIC
Nguy cơ dinh dưỡng bệnh nhân nặng
(Nutric Risk in Critically Ill)
PN
Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch (Parenteral Nutrition)
SOFA
Bảng điểm đánh giá suy tạng
(Sequential Organ Failure Assessment)
VB/VM
Vòng bụng/vòng mông
WHO
Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
MỤC LỤC
kém hơn [6]. Mức độ lợi ích mà bệnh nhân được hưởng từ kế hoạch chăm sóc
dinh dưỡng còn phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật mỗi cá thể, đường nuôi, liều
lượng, thời gian, thành phần các chất dinh dưỡng, sự gián đoạn của việc nuôi
dưỡng, và các nỗ lực cải thiện tình trạng của người bệnh cũng như mức độ
hợp tác của các bác sĩ lâm sàng. Nghiên cứu thuần tập về tình trạng suy dinh
dưỡng của Canada cũng báo cáo rằng chỉ có 7% bệnh nhân nhập viện được hỗ
trợ dinh dưỡng trong tuần đầu nhập viện [7]. Khi tình trạng dinh dưỡng được
8
đánh giá ở các bệnh nhân nằm viện, người ta thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng ở
trẻ em có thể lên tới 50% và lên tới 76% ở người trưởng thành [8-9]. Một
nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng tỷ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng ở bệnh
nhân trên 65 tuổi lúc nhập ICU là rất cao (71,24%) [10].
Tại Việt Nam đã có rất nhiều các nghiên cứu về dinh dưỡng nhưng các
nghiên cứu về dinh dưỡng lâm sàng còn ít. Đặc biệt chỉ có số lượng rất nhỏ
các nghiên cứu dinh dưỡng trên bệnh nhân nặng. Theo báo cáo của Ngô Quốc
Huy và cộng sự (2012) cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người lớn nằm tại
khoa điều trị tích cực là 65% [11]. Hiện có rất ít nghiên cứu về nuôi dưỡng
cho bệnh nhân cao tuổi bệnh nặng cũng như về tỷ lệ suy dinh dưỡng của
người cao tuổi tại khoa ICU.
Bệnh viện Lão khoa Trung ương là bệnh viện chuyên khoa hàng đầu về
Lão khoa, là tuyến cao nhất trong hệ thống thăm khám, điều trị và chăm sóc
sức khỏe cho người cao tuổi tại Việt Nam. Với mong muốn cải thiện tình trạng
dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả điều trị, đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và
thực trạng nuôi dưỡng người bệnh tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện
Lão Khoa Trung ương năm 2017” được tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tại khoa Hồi sức
tích cực, Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2017.
các cuộc Tổng điều tra Dân số Việt Nam cho thấy trong khi tổng tỷ suất sinh
thấp nhất trong giai đoạn 1989 đến 1999 thì tuổi thọ bình quân tăng cao nhất
10
trong giai đoạn 1999-2009 đã khiến cho Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa
dân số từ năm 2010. Lúc này, tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên bắt
đầu tăng, tỷ trọng thanh thiếu niên dưới 15 tuổi bắt đầu giảm và tỷ trọng số
người trong tuổi lao động, sau một thời gian tăng nhanh đã bắt đầu dừng lại
[13]. Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên năm 2010 là 9,3%, năm 2011 là 9,8% và
dự báo tỷ lệ này là 20,7% vào năm 2040 đến 24,8% vào năm 2049. Ngược lại,
tỷ lệ dân số là trẻ em dưới 15 tuổi có xu hướng giảm dần, từ 24,1% năm 2010
còn 23,8% năm 2011 và dự báo là 17,9% năm 2040 và 17,6% năm 2049 [14].
Sau năm 2035, tỷ số già hóa và tỷ số phụ thuộc già sẽ tăng rất mạnh, tạo nên
một đoàn hệ người cao tuổi lớn nhất trong lịch sử [13].
Gìa hóa dân số theo giới tính: Số liệu dự báo dân số của Qũy dân số liên
hợp quốc đến năm 2030 cho thấy ở Việt Nam số cụ bà từ 60-79 tuổi nhiều gấp
khoảng từ 1,2 đến 1,8 lần so với số các cụ ông, nhưng từ 80 tuổi trở lên thì
gấp từ 2 lần tới 4-6 lần. Số liệu Tổng điều tra dân số từ 1979 đến 2009 cũng
cho thấy cùng kết quả [13]. Số liệu trong Bảng sống Việt Nam chia theo giới
tính, điều tra năm 2015, tuổi thọ trung bình chung và của cả hai giới đều tăng
0,1 tuổi so với năm 2014. Cụ thể, tuổi thọ trung bình chung là 73,3 tuổi, của
nam giới là 70,7 tuổi thấp hơn của nữ giới là 76,1 tuổi [15]. Trên phương diện
nhân khẩu học, trong quần thể NCT có sự chênh lệch về cơ cấu giới tính và
nhóm tuổi càng cao thì sự chênh lệch này càng lớn do tuổi thọ của nữ giới cao
hơn nam giới, dẫn đến tình trạng “nữ hóa dân số cao tuổi” [16].
Gìa hóa có liên quan tới những thay đổi về mặt thể chất của con người,
đặc biệt là ở lứa tuổi càng cao. Ở các quốc gia phát triển, mối quan tâm hàng
đầu về sức khoẻ là phòng ngừa và điều trị các bệnh không lây nhiễm, mà chủ
tới tỷ lệ tử vong [22] [23]. Do đó, sự trao đổi chất cơ bản hoặc nhu cầu năng
lượng cho người cao tuổi giảm khoảng 100 kcal/ ngày/ thập kỷ. Mặc dù khối
lượng nạc cơ thể giảm do những thay đổi bình thường liên quan đến tuổi tác
[24] nhưng giảm lớn hơn 4% trên một năm là yêu tố tiên đoán độc lập với tỷ lệ
12
tử vong. Phát hiện và can thiệp dinh dưỡng sớm có thể ngăn ngừa các di chứng
bệnh tật [23] Đối với một số người cao tuổi, có thể khó đáp ứng các yêu cầu về
vi chất dinh dưỡng hàng ngày với lượng calo tiêu thụ giảm. Để phòng chống sự
thiếu hụt này, cần bổ sung thêm vitamin và khoáng chất cho người cao tuổi, đặc
biệt là những người có lượng calo thấp dưới 1500 kcal/ ngày.
- Mất cơ: Trong một số người cao tuổi nhập viện bị suy dinh dưỡng hoặc
có nguy cơ suy dinh dưỡng, mất khối cơ rất phổ biến và làm gia tăng nguy cơ
tử vong trong thời gian ngắn [25]. Tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ
quan trọng nhất đối với suy giảm chức năng với những hậu quả nghiêm trọng
về sức khoẻ bao gồm té ngã và thương tích liên quan, rối loạn chức năng nhận
thức, phụ thuộc, tỷ lệ tử vong. Protein trong chế độ ăn được đề xuất là yếu tố
có khả năng điều chỉnh, duy trì hoạt động thể chất ở người cao tuổi. Tuy
nhiên, ảnh hưởng của việc bổ sung protein vào hoạt động thể chất ở người cao
tuổi và mức độ vẫn phải được làm rõ. Yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến sức
mạnh cơ suy giảm theo thời gian cũng là tuổi tác. Tuy nhiên, sức mạnh cơ bắp
cùng tốc độ suy giảm bị ảnh hưởng bởi sự phân bố hoặc số lượng protein
trong các cơ quan còn hoạt động tốt ở những người cao tuổi [26]. Có sự liên
quan chặt chẽ giữa mất khối cơ, giảm sức mạnh cơ và tăng nguy cơ té ngã
cũng như giảm khả năng hoạt động ở người cao tuổi. Nhiều bằng chứng cho
thấy người có suy dinh dưỡng nhưng được can thiệp dinh dưỡng sẽ giảm nguy
cơ này [27].
- Suy dinh dưỡng protein năng lượng: Suy dinh dưỡng protein năng
dinh dưỡng tối ưu là rất quan trọng để giảm dị hóa, giảm nguy cơ đối mặt
những bất lợi như thở máy kéo dài, nằm lâu, tử vong.
Các bệnh nhân bị tổn thương mô nặng thường phát triển hội chứng đáp
ứng viêm toàn thân có tên gọi là SIRS, được xác định bởi sự có mặt của 2
hoặc nhiều yếu tố sau: sốt (hoặc hạ nhiệt sâu), nhịp tim nhanh, thở nhanh và
14
tăng bạch cầu. Các đặc điểm khác của SIRS bao gồm sự thay đổi nồng độ
protein huyết thanh giai đoạn cấp, tăng nhu cầu năng lượng và protein trong
cơ thể, chán ăn và mất protein [31]. Việc mất protein là biểu hiện chuyển hóa
cho việc huy động các axit amin để chữa lành vết thương và tổng hợp các tế
bào miễn dịch và protein [32]. Hỗ trợ dinh dưỡng là một phần quan trọng của
liệu pháp nhưng nó được mong đợi hạn chế hơn là có thể đảo ngược sự mất
mát protein trong cơ thể. Sự trao đổi chất bất thường do lượng chất đạm
không đủ, cũng như ảnh hưởng của bệnh gan, thận hoặc ruột, sẽ làm giảm
thêm tình trạng dinh dưỡng tổng thể của bệnh nhân cao tuổi. Suy dinh dưỡng
protein làm tăng nguy cơ chấn thương như gãy cổ xương đùi ở bệnh nhân cao
tuổi [33] [34]. Trong khi đó, việc bổ sung protein đã giúp nâng cao hiệu quả
điều trị ở bệnh nhân trên 65 tuổi [35].
- Loét do tỳ đè ở bệnh nhân cao tuổi khoa ICU: Sau khi duy trì được
chức năng sống cho bệnh nhân thì việc chăm sóc dinh dưỡng chống loét đảm
bảo cho công tác hồi sức thành công một nửa [36]. Nhiều nghiên cứu cho thấy
mối liên hệ giữa các biểu hiện suy dinh dưỡng (albumin máu giảm, giảm
lượng protein ăn vào, không tự ăn được, sụt cân) và loét. Những nghiên cứu
khác đã chứng minh độ loét liên quan với mức độ nặng của suy dinh dưỡng.
Những bằng chứng mới nhất cho thấy bổ sung dinh dưỡng cho đối tượng có
nguy cơ giúp giảm nguy cơ tương đối bị loét lên tới 25%. Một vài bằng chứng
cho thấy bổ sung dinh dưỡng giàu protein (24%-25% protein) cải thiện tình
làm tăng khả năng nhận thức ở người lớn tuổi [43]. Can thiệp các biện pháp
đơn giản để quản lý tình trạng thiếu dinh dưỡng bằng một ngành liên ngành
bác sĩ lâm sàng, bác sĩ dinh dưỡng, điều dưỡng có thể tạo ra sự khác biệt đáng
kể để cải thiện sức khoẻ dinh dưỡng của người cao tuổi [44].
16
1.3. Phương pháp sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân
người cao tuổi tại ICU
1.3.1. Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu [3]
Tất cả bệnh nhân người cao tuổi đều cần được sàng lọc dinh dưỡng ban
đầu trong vòng 48 giờ kể từ khi nhập viện. Tuy nhiên, bệnh nhân nhập khoa
ICU đòi hỏi đánh giá dinh dưỡng một cách đầy đủ hơn. Có nhiều phương
pháp xác định nguy cơ suy dinh dưỡng, bao gồm chẩn đoán lâm sàng, cận lâm
sàng, khám thực thể, số liệu nhân trắc, khẩu phần ăn và đánh giá chức năng.
Trong đó, phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu MNA là công cụ sàng
lọc dinh dưỡng phù hợp để sử dụng ở người cao tuổi [45]. Được phê chuẩn
vào năm 1994, MNA đã được sử dụng trong hàng trăm nghiên cứu và được
dịch sang hơn 20 thứ tiếng. Nó là một công cụ có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ
tin cậy cao. Ở những người cao tuổi sống ngoài cộng đồng, MNA giúp phát
hiện nguy cơ suy dinh dưỡng và các đặc điểm cuộc sống liên quan đến nguy
cơ dinh dưỡng trong khi mức albumin và BMI có thể vẫn ở giới hạn bình
thường. Ở bệnh nhân nằm viện, MNA dự đoán kết cục và chi phí chăm sóc. Ở
các nhà dưỡng lão hoặc trong điều kiện có điều dưỡng chăm sóc tại nhà,
MNA có liên quan đến điều kiện sống, mô hình bữa ăn và bệnh lý mãn tính và
cho phép can thiệp có mục đích. MNA đã được sử dụng thành công trong việc
đánh giá kết quả can thiệp dinh dưỡng, các chương trình giáo dục dinh dưỡng,
và các chương trình can thiệp về thể chất ở người cao tuổi [46]. MNA-SF cho
phép sàng lọc nhanh để xác định nguy cơ suy dinh dưỡng của một người. Phát
người cao tuổi, tỷ lệ suy dinh dưỡng do MNA đánh giá là 1% đến 5% đối với
người cao tuổi và bệnh nhân ngoại trú ở cộng đồng, 20% số bệnh nhân nhập
viện, 37% số người cao tuổi tại các cơ sở từ thiện. Sự can thiệp về mặt dinh
dưỡng rõ ràng là cần thiết và phải dựa trên những mục tiêu có thể đạt được
được thiết lập sau một cuộc đánh giá toàn diện về người cao tuổi. MNA có ích
cho sự can thiệp dinh dưỡng cũng như theo dõi. Hơn nữa, khi can thiệp dinh
18
dưỡng thành công, điểm số MNA tăng [47]. Tuy nhiên, MNA cũng như các
công cụ khác như SGA, MUST,…tập trung hầu hết chỉ vào tình trạng dinh
dưỡng và có nguy cơ suy dinh dưỡng hay không nhưng không thực sự phù
hợp để sử dụng tại ICU [48]. Nhiều tiêu chuẩn khó thu thập ở bệnh nhân
nặng, ví dụ bệnh nhân thở máy, tai biến mạch não, lú lẫn nên khó thu thập
khẩu phần ăn. Các thông tin về triệu chứng tiêu hóa trước khi nhập viện cũng
khó thu thập do thay đổi người chăm sóc thường xuyên. Đánh giá thay đổi
cân nặng bị ảnh hưởng bởi tình trạng ứ dịch toàn thân hay cục bộ (bệnh nhân
có phù hoặc cổ chướng), vì bệnh nhân được truyền nhiều dịch nhằm duy trì
huyết động. Việc giảm khối cơ, mỡ có thể bị che lấp bởi triệu chứng phù của
bệnh nhân. Nhiều công cụ truyền thống không cung cấp thông tin về tình
trạng bệnh lý của bệnh nhân.
1.3.2. Phương pháp sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng 2002
Phương pháp sàng lọc dinh dưỡng NRS 2002 là phương pháp tầm soát
nguy cơ suy dinh dưỡng, gồm 3 thành phần: Thành phần một dựa vào các tiêu
chí: BMI, giảm cân, lượng thức ăn đưa vào trong tuần trước, thành phần hai
và ba đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh và tuổi tác (Nutrition Risk
Screening) [49]. Bệnh nhân cao tuổi đặc biệt dễ bị suy dinh dưỡng. Hơn nữa,
những nỗ lực để cung cấp cho họ đủ dinh dưỡng thường gặp khó khăn. Vì nhu
cầu dinh dưỡng của họ không được xác định rõ. Bởi vì khối nạc cơ thể và tỷ
NRS 2002 và NUTRIC được khuyến cáo sử dụng trên bệnh nhân nặng
do khả năng xác định tình trạng dinh dưỡng liên quan đến mức độ nặng của
bệnh [48]. Sau khi sàng lọc, đánh giá dinh dưỡng được thực hiện để xác định
những bệnh nhân bị suy dinh dưỡng [55]
1.4. Phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân nặng
1.4.1. Các công thức tính toán nhu cầu khuyến nghị
Việc áp dụng phép đo năng lượng gián tiếp để biết nhu cầu năng lượng
bị giới hạn bởi tính sẵn có và giá thành. Tại ICU, sự chính xác của phép đo
20
năng lượng gián tiếp còn bị ảnh hưởng ở những bệnh nhân đeo gọng oxy mũi,
thở máy, chạy thận nhân tạo, gây mê [56]. Theo sự đồng thuận của các chuyên
gia, phương trình ước tính nhu cầu năng lượng dựa trên cân nặng là thích hợp
cho hầu hết các bệnh nhân. Nhu cầu năng lượng có thể được ước tính qua
công thức đơn giản 25-30 kcal/ kg/ ngày. Nếu bệnh nhân có phù hoặc cổ
trướng thì công thức sẽ được tính theo cân nặng bình thường của bệnh nhân
[48]. Ở những bệnh nhân có BMI quá cao hoặc quá thấp, ước tính ít chính xác
hơn [57].
Đối với bệnh nhân nằm tại khoa ICU, protein trở thành chất dinh dưỡng
quan trọng nhất cho việc chữa lành vết thương, hỗ trợ chức năng miễn dịch và
duy trì khối nạc. Hầu hết các bệnh nhân tại ICU có nhu cầu protein cao, và
khó có thể đạt được thông qua công thức nuôi ăn đường ruột [48]. Công thức
ước tính dựa trên cân nặng, ví dụ 1,2-2,0 g/ kg/ ngày có thể được sử dụng để
theo dõi tình hình cung cấp protein thông qua so sánh lượng protein ăn vào và
lượng được chỉ định, đặc biệt khi các nghiên cứu cân bằng nitơ không sẵn có
để đánh giá nhu cầu [58], [59]. Hầu hết các bệnh nhân trong các cơ sở điều trị
tích cực đều sẽ dung nạp với các công thức nuôi dưỡng đường ruột chuẩn (đa
phân tử, liều 1,0 – 1,5 kcal/mL) nhưng cũng có thể dùng các công thức khác
và chức năng của ruột bằng cách duy trì mối liên kết chặt chẽ giữa các tế bào,
kích thích lưu thông máu và kích thích sự phóng thích các tác nhân nội sinh
(ví dụ, cholecystokinin, gastrin, bombesin, và muối mật), IgA tạo ra từ các tế
bào miễn dịch (tế bào B và tế bào plasma), mô bạch huyết ruột (GALT- gutassociated lymphoid tissue) [48]. Sự thay đổi tính thấm do mất tính toàn vẹn
của ruột xuất hiện vài giờ sau tổn thương, gây ra thẩm lậu vi khuẩn, nguy cơ
nhiễm trùng hệ thống, rối loạn chức năng đa cơ quan. Vậy nên dinh dưỡng
đường ruột, do đảm bảo được tính toàn vẹn của hệ tiêu hóa, gần như trở thành
đường nuôi dưỡng được ưu tiên nhất, giảm nguy cơ nhiễm trùng, suy chức
năng cơ quan, và giảm thời gian nằm viện. Những ảnh hưởng có lợi của EN
so với PN đã được ghi nhận trong nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng
(RCTs) trên các quần thể bệnh nặng bao gồm chấn thương, bỏng, chấn thương
đầu, phẫu thuật lớn, và viêm tụy cấp [65]. Mặc dù một vài nghiên cứu cho
22
thấy tác động khác nhau về tỷ lệ tử vong, hiệu quả kết cục nhất quán từ EN là
giảm tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm (thông thường, viêm phổi và nhiễm trùng
máu ở hầu hết các bệnh nhân; đặc biệt là áp xe bụng ở những bệnh nhân chấn
thương) và giảm thời gian nằm tại ICU. Tuy nhiên vẫn còn tranh cãi về mức
độ hỗ trợ dinh dưỡng, thành phần, các chất bổ sung, thời gian cho ăn. Các
khuyến cáo vững chắc về việc sử dụng các cách thức cho ăn ở những bệnh
nhân bệnh nặng đang được mong đợi. Tuy nhiên, một phương pháp kết hợp
việc sử dụng prokinetics_ thuốc hỗ trợ nhu động ruột, bắt đầu dần dần lượng
thức ăn và nâng khả năng dung nạp dạ dày nên được xem xét để tối ưu hóa
việc cung cấp dinh dưỡng ruột cho những bệnh nhân lớn tuổi bị bệnh nặng. Ở
những bệnh nhân trải qua tình trạng không dung nạp thức ăn (tồn dư dạ dày,
xuất huyết cao), prokinetics như metoclopramide phải được xem xét để cải
thiện chức năng dạ dày và tăng cường nhu động ruột [64]. Khi chỉ định nuôi
ăn đường ruột cần thiết phải nâng đầu giường lên đến 45o để giảm nguy cơ hít
sóc bậc đại học ở Ấn Độ cho thấy rằng việc cung cấp chất đạm và calo cho
người bệnh nặng ít hơn so với khuyến cáo và điều này có liên quan đến tỷ lệ
tử vong cao hơn [67]. Nhận thức của nhân viên y tế về điều trị dinh dưỡng là
rất quan trọng đối với việc quản lý tổng thể bệnh nhân trong ICU [68].
Kết quả chăm sóc đặc biệt được đo bằng tần suất bệnh và tử vong thay
đổi ở bệnh nhân ICU suy dinh dưỡng nặng, và sự hỗ trợ dinh dưỡng của
người bệnh nặng được chấp nhận như một tiêu chuẩn chăm sóc. Các khuyến
cáo hiện nay đề nghị bắt đầu cho ăn đường tiêu hóa càng sớm càng tốt bất cứ
khi nào đường tiêu hóa hoạt động. Bất lợi của sự hỗ trợ ruột là việc thiếu năng
lượng và lượng chất đạm có thể xuất hiện. Nhận xét hiện tại tập trung vào một
số phát hiện gần đây về hỗ trợ dinh dưỡng của bệnh nhân nặng và đề xuất
tăng cường hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa kết hợp với dinh dưỡng
đường tiêu hóa bất cứ khi nào dinh dưỡng đường ruột là không đủ. Bổ sung
PN kết hợp với EN có thể là một lựa chọn hiệu quả để đạt được 100% mục
24
tiêu về năng lượng và protein vào ngày thứ 4, khi EN đơn lẻ không đạt được
mục tiêu lớn hơn 60% vào ngày thứ 3 [28].
Bổ sung dinh dưỡng đường ruột và đường tĩnh mạch một cách không cần
thiết không chỉ gây ra các vấn đề về chuyển hóa như tăng đường huyết, tăng
áp lực thẩm thấu, quá tải dịch mà còn làm tăng lên chi phí y tế [49].
- Dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa
Mục đích nuôi dưỡng người bệnh hoàn toàn qua đường tĩnh mạch được
thực hiện bằng cách luồn một ống thông dẻo vào tĩnh mạch lớn để truyền một
lượng protein, glucid, lipid đáng kể trong một thể tích hạn chế. Phải dùng một
tĩnh mạch lớn có lưu lượng máu lớn để nhanh chóng hòa loãng dung dịch,
tránh kích thích nội mạc mạch. Nuôi ăn đường tĩnh mạch được chỉ định cho
bệnh nhân nặng, cần hồi sức trong những ngày đầu có rối loạn tiêu hóa khi
-
Giảm cân, bao gồm cả giảm cân không mong muốn xảy ra ở bất kỳ chỉ số
khối cơ thể
-
Giảm khối lượng cơ
-
Mất lớp mỡ dưới da
-
Tích đọng dịch lỏng ở một bộ phận hoặc toàn thân
-
Hoạt động chức năng giảm ước lượng bằng sức nắm của bàn tay
1.5.2. Tình hình trong nước
Các rào cản chính khiến phần lớn bệnh nhân chưa nhận được dinh dưỡng
đầy đủ có thể đến từ sự thiếu ưu tiên, quan tâm, hợp tác, kiến thức dinh dưỡng
giữa các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cũng như trách nhiệm chưa rõ ràng
của các chuyên khoa [72].
Bệnh viện Lão khoa Trung ương thành lập năm 1983 thuộc bệnh viện
Bạch Mai. Ngày 18/5/2006, Bệnh viện Lão khoa Trung ương chính thức được
thành lập, trực thuộc Bộ Y Tế, hoạt động độc lập với Bệnh viện Bạch Mai, có
chức năng cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng tuyến cuối