Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện phước sơn, tỉnh quảng nam hiện nay - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐÌNH TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐÌNH TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:

8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VŨ HÙNG CƯỜNG


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ..........................29
2.1. Khái quát về chính sách giảm nghèo và tình hình thực hiện chính sách giảm
nghèo ở Việt Nam .....................................................................................................29
2.2. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình đói nghèo ở huyện
Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam ....................................................................................33
2.3. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước
Sơn,
tỉnh
Quảng
................................................................................................37

Nam

2.4. Đánh giá về thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng
Nam
dưới
góc
độ
.......................................................................................50

bền

vững

2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở
huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam..........................................................................62
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH
QUẢNG NAM .........................................................................................................67

NN&PTNN

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

CSXH

Chính sách xã hội

PGD

Phòng giao dịch

LĐ-TB&XH

Lao động – Thương binh & xã hội

TK&VV

Tiết kiệm và vay vốn

NTM

Nông thôn mới

XDCB



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, là một trong những
biện pháp cơ bản để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đối với Phước Sơn là huyện nghèo thuộc Chương trình Nghị quyết 30a của
Chính phủ. Vì vậy trong những năm qua, nguồn lực đầu tư của Nhà nước trên địa
bàn huyện khá nhiều, đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của huyện, đời sống nhân
dân từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 64,05% năm 2010 xuống còn
31,29% năm 2018 (giảm bình quân trên 5%/năm). Tuy nhiên, huyện Phước Sơn vẫn
còn nhiều khó khăn, tiềm năng và thế mạnh của địa phương (đất và rừng) chưa được
khai thác, phát huy đúng mức; công tác giảm nghèo còn nhiều thách thức, tỷ lệ hộ
nghèo giảm nhưng chưa thật sự bền vững, thu nhập của hộ nghèo, hộ cận nghèo
thấp. Phước Sơn vẫn là một huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với mức bình
quân của tỉnh Quảng Nam (tỷ lệ hộ nghèo bình quân của tỉnh năm 2018 là 7,57%),
một số xã vùng cao của huyện tỷ lệ hộ nghèo còn trên 50%; cơ sở hạ tầng giao
thông, thủy lợi còn hạn chế; trình độ dân trí còn thấp nên việc áp dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất còn khó khăn, hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản
xuất còn thấp, việc nhân rộng mô hình giảm nghèo để nâng cao thu nhập cho người
nghèo còn rất khiêm tốn. Phải chăng do quá trình tổ chức thực thi các chính sách
giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện chưa tốt, chưa phát huy hết hiệu quả của
từng chính sách, chưa gắn việc phát triển kinh tế với công tác giảm nghèo.
Để có cái nhìn khách quan về thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo
bền vững trong thời gian qua trên địa bàn huyện, tác giả chọn nghiên cứu đề tài
“Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng
Nam hiện nay” làm Luận văn thạc sĩ ngánh Chính sách công.


giải quyết một số chính sách hỗ trợ về giáo dục còn chậm. Một số hộ nghèo chưa
chịu khó làm ăn, chưa mạnh dạn vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất.

2


- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công “Thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững cho người dân tộc CơTu trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh
Quảng Nam” (Thừa Thiên Huế - năm 2017) của Nguyễn Xuân Nghiêm: Đề tài
nghiên cứu, đánh giá khá cụ thể về thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền
cho người dân tộc Cơ Tu trên địa bàn huyện và đã nêu lên những thành công, đó là:
Các cấp ủy, chính quyền huyện Đông Giang luôn xác định việc giảm nghèo bền
vững cho người dân tộc CơTu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chương
trình giảm nghèo bền vững ở huyện cũng như sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
của huyện Đông Giang. Vì vậy, huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện khá
tốt các chính sách cho đồng bào dân tộc Cơtu giai đoạn 2011-2015. Đã huy động
các nguồn lực từ ngân sách nhà nước và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế,
các doanh nghiệp để đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng thiết yếu về giao thông,
trường học,... để đồng bào dân tộc Cơtu tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ
bản, tạo thuận lợi để phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững. Kết quả giảm
nghèo: tỉ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc Cơ Tu từ 50,08% năm 2011 xuống còn
31,72% năm 2014 so với tổng số hộ dân toàn huyện, giảm bình quân trên 6%/năm.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như: Việc xây dựng kế hoạch triển khai
thực hiện một số chính sách chưa phù hợp, dàn trải, dẫn đến khi triển khai thực hiện
thiếu nguồn lực đầu tư, kết quả không đạt như mong đợi. Hiệu quả đầu tư cơ sở hạ
tầng còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu giảm nghèo, phát triển KTXH; một
số công trình chưa phát huy hiệu quả sử dụng do khảo sát thiết kế không sát thực tế
dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư. Thực hiện một số chính sách hỗ trợ trực tiếp cho
người nghèo còn chậm, thiếu hướng dẫn cụ thể nên người dân khó khăn trong triển
khai thực hiện như chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất. Công tác tuyên truyền,

quan niệm về giảm nghèo, cũng như một số giải pháp giảm nghèo ở Việt Nam.
Nhưng các nghiên cứu trên chưa đề cập đến tính bền vững của chính sách giảm
nghèo. Mặt khác, từ khi Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, chưa có công trình nào nghiên
cứu về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn. Chính vì vậy
tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện
Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm Luận văn thạc sĩ ngành Chính sách
công.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công, chính sách giảm
nghèo bền vững, đánh giá việc thực hiện một số chính sách giảm nghèo bền vững
trên địa bàn huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất các giải pháp góp
phần thực hiện tốt một số chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện trong
thời gian đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách công, chính sách giảm nghèo bền
vững;
- Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện một số chính sách giảm
nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam từ năm 2016-2018;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện một số chính sách
giảm nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đôi tượng nghiên cứu
Các chính sách giảm nghèo bền vững đang được thực thi trên địa bàn huyện
Phước Sơn.

bàn huyên Phước Sơn luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Để tổng hợp và hệ thống hoá các cơ sở lý
thuyết và hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước, của tỉnh Quảng Nam và các
nghiên cứu khoa học để phân tích, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong giảm nghèo
bền vững hiện nay.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Dựa trên các tài liệu thu thập từ
các báo cáo của UBND tỉnh Quảng Nam, UBND huyện Phước Sơn, các cơ quan
chuyên môn ở huyện Phước Sơn về thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững
để phân tích, làm rõ những thành công và hạn chế của công tác giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Phước Sơn.
- Phương pháp nghiên cứu sô liệu thứ cấp: Dựa trên kết quả điều tra dư luận xã
hội về hiệu quả thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất trên địa bàn huyện
giai đoạn 2016-2018, do Ban Tuyên giáo Huyện ủy và nhóm cộng tác viên điều tra
dư luận xã hội thực hiện năm 2018 để bổ sung cho việc nghiên cứu đánh giá thực
trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản suất, nhân rộng mô hình giảm nghèo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua quá trình học tập, nghiên cứu lý luận về Chính sách công, đề tài vận dụng
lý thuyết về Chính sách công để làm rõ thêm một số vấn đề lý thuyết về chính sách
giảm nghèo bền vững, làm cơ sở khoa học cho phân tích đánh giá thực trạng và đề

7


xuất giải pháp hoàn thiện các chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Phước Sơn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là giúp cho các đồng chí lãnh đạo
Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể từ huyện đến cơ sở ở huyện Phước Sơn hiểu rõ
hơn về lý luận chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận

như biết đọc, biết viết, tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng
tạm đủ; (ii) Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu; (iii) Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu. [16].
Tại hội nghị bàn về xóa đói, giảm nghèo trong khu vực châu Á – Thái Bình
Dương do Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại
Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo như sau:
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu
cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình phát triển kinh tế
- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương. Đây là khái niệm nghèo được
nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam [12, tr.7].
Theo Liên hiệp quốc, nghèo có hai dạng: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu
cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo
tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của


cộng đồng địa phương hay của một nước [12, tr.8].
Ở Việt Nam, nghèo là khái niệm chỉ tình trạng một bộ phận dân cư không có
hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu trong cuộc sống và có
mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
[12, tr.8].
1.1.2. Khái niệm nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để
tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng
trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sông bản thân, không được tiếp cận tín
dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị
bạo hành, phải sông trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và
công trình vệ sinh”.

Mỹ/người/ngày (tính theo sức mua tương đương năm 2005) [12, tr.9].
Trên cơ sở khái niệm chung về nghèo, Việt Nam đưa ra khái niệm tương xứng
với hộ nghèo, từ đó quy định chuẩn nghèo phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chuẩn nghèo được hiểu là tiêu chuẩn để đo
mức độ nghèo của các hộ dân và là căn cứ để thực hiện các chính sách giảm nghèo,
chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Để phù hợp với mỗi
giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của vùng miền, nhà nước ta quy định chuẩn
nghèo quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau.
Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cạnh đa chiều cho giai đoạn 2016-2020 thì
việc xác định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo dựa trên hai tiêu chí, đó là: Tiêu chí về
thu nhập và tiêu chí về mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Các dịch vụ xã
hội cơ bản gồm 05 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin, và
được vụ thể hóa thành 10 chỉ số tiếp cận, đó là: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y
tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở;
diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ


sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Theo đó, tiêu chí để xác định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống
trung bình cho giai đoạn 2016-2020 như sau:
Về tiêu chí xác định hộ nghèo
* Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
* Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000

đang là hộ nghèo đã có thu nhập ổn định trên mức chuẩn nghèo theo quy định, họ
không bị tái nghèo và có đủ kỹ năng để ứng phó với những bất lợi, rủi ro xảy ra.
Giảm nghèo: Trong một số tài liệu, văn bản hành chính của nhà nước ta, giảm
nghèo được hiểu là làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trên một địa bàn; hay giảm nghèo cũng
có thể được hiểu là kết quả của sự nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân
làm cho hộ nghèo, người nghèo vươn lên đạt được mức thu nhập vượt trên mức
chuẩn nghèo quy định, đồng thời đảm bảo mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản về y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin.
Giảm nghèo bền vững: Qua tìm hiểu trên các văn bản hành chính của nhà
nước, các đề tài nghiên cứu khoa học,… ít thấy tài liệu nào nêu lên khái niệm chung
về “giảm nghèo bền vững”. Để có cách hiểu đầy đủ hơn về “giảm nghèo bền vững”,
cần hiểu như thế nào là “bền vững”. “Bền vững” là chắc chắn đối với kết quả giảm
nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo hay duy trì
thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững [23].
Để đạt được yêu cầu tính bền vững của kết quả giảm nghèo, cần phải kết hợp
và thoả mãn cả hai yếu tố, đó là giảm nghèo và phát triển bền vững. Điều đó thể
hiện trên các khía cạnh tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không
ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên
và xã hội.


Về nguyên tắc, giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững cần đảm bảo trên cả 2
phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ
nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định. Về chất lượng, kết quả
giảm nghèo phải thực chất, vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo phải được
nâng lên sau khi có hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, khoảng cách thu nhập của
người nghèo với các nhóm dân cư khác được rút ngắn, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ
không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo
suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Giảm nghèo bền vững ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo

Chính phủ, chính quyền địa phương) nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ
chính sách tác động đến người nghèo, vùng khó khăn nhằm cải thiện đời sông vật
chất và tinh thần của người nghèo, giúp người nghèo có điều kiện vươn lên thoát
nghèo bền vững. Như vậy, có thể hiểu chính sách giảm nghèo bền vững là những
quyết định, quy định được cụ thể hóa trong các chương trình, dự án cùng với nhân
lực, vật lực hay cơ chế thực hiện… nhằm tác động tới những đối tượng người
nghèo, hộ nghèo, hay xã nghèo, huyện nghèo, với mục đích cuối cùng là giảm
nghèo bền vững. Có thể phân loại chính sách giảm nghèo như sau:
- Căn cứ phạm vi ảnh hưởng, chính sách giảm nghèo bền vững được phân
thành hai loại: (1) Chính sách tác động trực tiếp, đó là các chính sách hỗ trợ trực
tiếp đến đối tượng người ghèo. (2) Chính sách tác động gián tiếp, đó là các chính
sách kinh tế - xã hội được triển khai nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết
vấn đề công bằng xã hội... Đây là những chính sách mà trong quá trình triển khai
thực hiện có thể tác động đến kết quả giảm nghèo, nếu thiếu đi các chính sách này
thì việc thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
- Căn cứ vào bản chất đa chiều của nghèo, chính sách giảm nghèo được phân
thành: Nhóm chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nghèo; nhóm chính sách
nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo; nhóm
chính sách giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn thương; nhóm chính sách tăng
cường tiếng nói cho người nghèo.
Mỗi chính sách giảm nghèo bền vững đều được thiết kế theo một cấu trúc cụ
thể, bao gồm các bộ phận cơ bản cấu thành đó là phạm vi và đối tượng áp dụng, nội


dung chính sách, mục tiêu, chỉ tiêu, thời gian thực hiện, nguồn lực, cơ quan quản lý
thực hiện. Tất cả các chính sách giảm nghèo bền vững đều cùng chung mục tiêu
cuối cùng đó là cải thiện tình trạng nghèo của hộ nghèo, hộ cận nghèo, xã nghèo,...
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là toàn bộ quá trình đưa chính
sách giảm nghèo bền vững vào đời sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ,
thống nhất nhằm giải quyết vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của

địa phương. Hạ tầng giao thông, thủy lợi tác động tích cực đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng ở nông thôn; việc mở rộng mạng lưới giao
thông nông thôn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm; đầu tư
phát triển hệ thống thủy lợi tạo điều kiện cho việc thâm canh mở rộng diện tích sản
xuất và tăng năng suất, sản lượng cây trồng. Nếu tập trung đầu tư phát triển hạ tầng
giao thông, thủy lợi cho các huyện nghèo, xã nghèo sẽ giúp huyện nghèo, xã nghèo
giảm nghèo bền vững, thu nhập của người nghèo tăng lên do chính những tác động
tích cực của hạ tầng giao thông, thủy lợi mang lại. Chính vì vậy, để tăng cường cơ
sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã nghèo;
ngày 02/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg phê
quyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, Chính phủ đề ra mục tiêu là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KTXH ở các
huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đồng bộ theo tiêu chí nông thôn
mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt, y
tế... [20].
1.2.3.2. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo
Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo là một
trong những nội dung quan trọng trong chương trình MTQG giảm nghèo bền vững
giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo
nhằm mục đích hỗ trợ người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất quy mô nhỏ và
vừa để tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững. Hộ nghèo ở vùng KTXH đặc biệt khó
khăn hầu như đều khó khăn về vốn để đầu tư phát triển sản xuất, thiếu kinh nghiệm


làm ăn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó khăn
trong việc tiếp cận với thị trường. Chính vì vậy, việc ban hành chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo như là công cụ hữu hiệu để thực
hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Theo quy định tại Quyết định 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, về nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status