KIếN THứC, THựC HÀNH PHÒNG BIếN CHứNG của NGƯờI BệNH TĂNG HUYếT áp điều TRị tại BệNH VIệN TỉNH XIÊNG KHOảNG lào năm 2019 và yếu tố LIÊN QUAN - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

OULA PHOMMAHASAY

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG
CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN TỈNH XIÊNG KHOẢNG - LÀO
NĂM 2019 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

OULA PHOMMAHASAY

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG
CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN TỈNH XIÊNG KHOẢNG - LÀO
NĂM 2019 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số: 60720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG


Oula PHOMMAHAXAY


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả trong luận văn là kiến thức, thực hành phòng biến chứng của
người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh Viện tỉnh Xiêng Khoảng Lào năm
2019 và yếu tố liên quan.
Học viên

Oula PHOMMAHAXAY


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI

: Chỉ số khối cơ thể

BYT

: Bộ Y tế

CBYT

: Cán bộ y tế

CHDCND



: Tai biến mạch máu não

THA

: Tăng huyết áp

WHO

: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới [1].
Nó là gánh nặng bệnh tật chung toàn cầu và là nguyên nhân gây tử vong, tàn
tật ở các các nước trên thế giới nói chung và các nước kém phát triển nói
riêng [2],[3],[4]. Tình hình THA ở Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào (sau đây
gọi tắt là CHDCND Lào) tăng nhanh trong nhiều năm gần đây [5]. Theo số
liệu mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2013), tỉ lệ THA ở người

điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng – Lào, năm 2019 và yếu tố liên
quan” được tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp của
người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng
– Lào, năm 2019.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng
biến chứng của người bệnh trên đây.


11

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số định nghĩa, phân loại và biến chứng của tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa về tăng huyết áp
Theo WHO, một người lớn được gọi là THA khi huyết áp tối đa hay
huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và hoặc huyết áp tối thiểu hay huyết
áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày
hoặc có ít nhất đo 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [9].
THA là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch
tăng cao, bệnh được phân loại thành các giai đoạn theo từng mức HATT và
HATTr [14]. Hội THA thế giới (ISH) cùng với WHO đã quy định huyết áp từ
140/90 mmHg trở lên được gọi là THA (HATT ≥ 140 hoặc HATTr ≥ 90) [7],
[15]. Tại CHDCND Lào, theo Bộ Y tế một người trưởng thành (lớn hơn hoặc
bằng 18 tuổi) được gọi là THA khi HATT lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và
hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [5],[8].
1.1.2. Các biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Theo chương trình mục tiêu Quốc Gia phòng chống THA, các biến chứng
thường gặp của THA đã được đề cập đến như sau: [5],[14],[16],[17],[18],[19].
- Các biến chứng về tim mạch: Cơn đau thắt ngực, dày thất trái, nhồi

hành chưa đạt về việc vận động hợp lý để kiểm soát huyết áp [21].
Một nghiên cứu của Siraj Ahmad và cộng sự tiến hành trên 354 người
bệnh THA tại Ấn Độ, cho thấy: 31,4% vẫn hút thuốc, 15,5% vẫn uống rượu.
Có tới 72,3% có kiến thức chưa đạt, 77,7% có thái độ chưa đạt và 82,8% có
thực hành chưa đạt về dự phòng biến chứng của bệnh THA [22].
Tại Việt Nam, theo điều tra của Nguyễn Lân Việt, không phải ai cũng
biết mình bị THA và có kiến thức và thái độ đúng về nó. Trong số những
người bị THA thì có tới 52% là không biết mình có bị THA; 30% của những
người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64%
những người có THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về
số huyết áp mục tiêu [12].

1
2


13
Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011) về tuân thủ điều trị
bệnh THA tại cộng đồng ở Hà Nội cũng cho thấy có tới 48,4% số người THA
có kiến thức không đạt về tuân thủ điều trị THA và 55,2% số người bị THA là
có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị THA [23].
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế (2013) tiến hành trên
người cao tuổi về bệnh và biến chứng của THA cho thấy: Hơn một nửa số đối
tượng điều tra có kiến thức tốt về bệnh (50,4%), tuy nhiên, tỉ lệ kiến thức kém
còn khá cao (20,0%). Về thực hành, tỉ lệ đối tượng điều tra có thực hành tốt
thấp (19,5%), tỉ lệ thực hành kém cao (45,0%); [24].
Trong nghiên cứu của Ngô Thị Hương Giang (2013) cho thấy: chỉ có
50,4% người bệnh điều trị THA là dùng thuốc kết hợp với thay đổi lối sống,
vẫn còn 49,6% người bệnh vẫn thực hiện sai nguyên tắc điều trị [25].
Mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy kiểm soát huyết áp có hiệu quả

còn rất thấp, so với các nghiên cứu trong khu vực, từ đó ta có thể thấy bệnh
THA gây tác động nặng nề đến vấn đề sức khỏe của người bệnh và nhân dân
nói chung [10].
Năm 2010, tác giả Vang C. Khi tiến hành nghiên cứu gánh nặng bệnh tật
do bệnh THA gây ra với người dân của CHDCND Lào trên 787 đối tượng đã
cho thấy tỉ lệ đối tượng tuân thủ điều trị bệnh THA thường xuyên để ổn định
số đo THA là rất thấp (chưa đến 20%) [5],[27].
Năm 2015, nghiên cứu của tác giả Phatsady V. đã tiến hành điều tra trên
340 đối tượng mắc bệnh THA của CHDCND Lào cũng cho thấy chỉ có 18,6%
người bệnh có thực hành đạt về dự phòng THA [28].
Cũng trong năm 2015, theo báo cáo của Viện Y tế công cộng Quốc Gia,
Bộ Y tế của CHDCND Lào (2015) về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây
nhiễm nói chung và bệnh THA nói riêng của hơn 2500 đối tượng đã chỉ đưa
ra kết quả có tới 66,3% đối tượng không quản lý điều trị dự phòng bệnh THA
và có số đo huyết áp cao, 14,9% có quản lý điều trị dự phòng tuy nhiên số đo

1
4


15
huyết áp vẫn ở mức cao. Và chỉ có 18,8% đối tượng tuân thủ điều trị thuốc dự
phòng và có chỉ số HATT dưới 140mmHg và HATTr dưới 90mmHg [29].
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tại CHDCND Lào còn rất ít và mới
chỉ nghiên cứu bước đầu, còn chưa nhiều so với các nước trong khu vực. Tuy
nhiên, các kết quả này đều đưa ra nhận định chung là phần lớn người bệnh
của thủ đô Viêng Chăn đều thiếu kiến thức về phòng chống bệnh THA và
cũng như chưa có nhiều đối tượng có khả năng thực hành tốt về dự phòng
biến chứng của bệnh THA. Ngoài ra, các tỉnh khác còn chưa có nhiều nghiên
cứu, báo cáo về vấn đề này.

2,53 lần so với nam giới (p
Nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2012), Ngô Thị Hương Giang (2013)
cũng chỉ ra rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p
khám chữa bệnh, tổng cán bộ là 204 người. Trong đó bao gồm: 17 bác sĩ
chuyên khoa I, 05 thạc sĩ, 73 bác sĩ đa khoa, điều dưỡng có 75 người và cán
bộ ngành khác 34 người. Bệnh viện có 5 nhiệm vụ như sau:
1. Điều trị và phục hồi chức năng;
2. Giáo dục dự phòng và truyền thông sức khỏe;
3. Tập huấn và đào tạo CBYT;
4. Nghiên cứu khoa học y tế;
5. Hỗ trợ bệnh viện cấp dưới làm chăm sóc sức khỏe.

2
0


21

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Xiêng Khoảng, Lào.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Những người bệnh được chẩn đoán THA, đang điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện Xiêng Khoảng thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, Lào. Ngoài ra, sử dụng
sổ khám bệnh để hồi cứu các thông tin.
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh được chẩn đoán THA, đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện
Xiêng Khoảng, Lào.
- Có quốc tịch Lào.
- Có đầy đủ hồ sơ, sổ khám bệnh theo quy định
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

nghiên cứu, do vậy làm tròn là 260 người bệnh.
 Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.
Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu sau khi được hội đồng đề cương
thông qua và phỏng vấn người bệnh trong tất cả các ngày trong tuần. Hàng
ngày nghiên cứu viên và điều tra viên ngồi tại phòng khám bệnh THA của
Bệnh viện Xiêng Khoảng từ thứ 2 đến thứ 6. Bất kỳ người bệnh nào đến xếp
sổ khám bệnh THA đều được hỏi bệnh, mời tham gia vào nghiên cứu, nếu có
đủ tiêu chuẩn sẽ được chọn để phỏng vấn cho đến khi đủ số lượng người bệnh
nghiên cứu thì dừng lại chọn liên tiếp cho đến khi đủ cỡ mẫu 260 người bệnh.

2
2


23
Những người bệnh được lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu khi
được CBYT đo huyết áp, kê đơn và cấp thuốc xong sẽ được điều tra viên mời
vào tiến hành phỏng vấn trực tiếp. Kết thúc quá trình phỏng vấn những người
bệnh này được tặng hoa quả để trả công cho quá trình trả lời phòng vấn.
2.3.3. Phương pháp thu thập thông tin.
Công cụ thu thập số liệu:
Đo lường kiến thức, thực hành của người bệnh về phòng biến chứng do
THA được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn. Các người bệnh nghiên
cứu được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn (Phụ lục 1). Bộ câu
hỏi đã được đánh giá thử nghiệm trước khi thu thập số liệu. Các điều tra viên
được tập huấn kỹ năng hỏi trước khi tiến hành điều tra. Người bệnh tham gia
nghiên cứu được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu. Sau khi phỏng vấn
xong, nghiên cứu viên trực tiếp kiểm tra phiếu phỏng vấn để đảm bảo không
có thông tin nào để trống.
 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành công cụ nghiên cứu:

+ Bước 2: Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi cho
người bệnh được nghiên cứu nghe và trả lời.
+ Bước 3: Kiểm tra phiếu để kịp thời bổ sung khi thiếu hoặc bị sai sót.
 Thu thập phiếu điều tra:

Các giám sát viên quan sát trực tiếp điều tra viên phỏng vấn các người
bệnh để hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra. Sau mỗi ngày
điều tra các điều tra viên nộp phiếu điều tra cho giám sát viên để kiểm tra lại
các phiếu phỏng vấn. Giám sát viên tổng hợp lại các phiếu điều tra từng ngày
và làm sạch phiếu điều tra, địa điểm phòng vấn người bệnh chọn phòng riêng
yên tĩnh và thuận lợi để phòng vấn điều tra viên phải mặc ăn bình thường
không mặc áo blouse trắng đồng phục, thái độ thuận tiện cởi mở.
2.4. Các chỉ số nghiên cứu và một số tiêu chuẩn đánh giá
2.4.1. Các chỉ số nghiên cứu
Sau khi tham khảo nhiều nghiên cứu trước đây [18],[19],[28],[36], dựa
trên các quy ước, thang đo tiêu chuẩn được sử dụng trong nghiên cứu khoa
học và dựa trên quyết định hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh THA của Bộ Y
tế (BYT) [35], đề tài bao gồm các chỉ số theo mục tiêu nghiên cứu như sau:

2
4


25
Bảng 2.1. Chỉ số nghiên cứu chung của người bệnh được nghiên cứu

TT

Chỉ số


Phương
pháp, công
cụ thu
thập cho
cột 3
(4)

Tỉ lệ người bệnh đang sống cùng x bằng:

Tỉ lệ các nguồn thông tin được

Tỉ lệ người bệnh tiếp cận về nguồn thông

tiếp cận về THA

tin x bằng:

2
5

Phỏng vấn
người bệnh
bằng bộ
câu hỏi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status