BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 56 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--- *** ---

TRẦN THỊ YẾN

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO
CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

LUẬN VĂN THẠC SỸ


HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--- *** ---

TRẦN THỊ YẾN

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG
TẠO
CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60.14. 01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Hòa

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

7


MỞ ĐẦU
1

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay trong xu thế đổi mới và hòa nhập giáo dục mầm non vấn đề
tổ chức các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề cho trẻ nói chung và hoạt
động theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo là cần thiết.Có nhiều cách tích hợp trong
giáo dục mầm non và một trong cách tích hợp đó là tích hợp theo chủ đề.
Dạng tích hợp này duy trì những mục tiêu riêng rẽ trong mỗi hoạt động đồng
thời liên kết chúng một cách hài hòa trên cơ sở xây dựng các chủ đề cụ thể.
Cách tiếp cận này xoay quanh một hoạt động “công cụ” hoạt động này có đặc
điểm chỉ là một phần nội dung là đặc thù nhưng có thể nhận những môn khác
làm nội dung của mình. Việc tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo theo chủ
đề gần gũi cuộc sống thực của trẻ tạo cho trẻ nhiều cơ hội phát huy khả năng
sáng tạo của mình góp phần hình thành và phát triển tâm lý nhân cách trẻ và
là tiền đề cho trẻ học tập ở lớp học sau này.
Để phát triển tính sáng tạo của trẻ, tổ chức hoạt động học theo chủ đề là
hoạt động vô cùng quan trọng đối với trẻ mầm non. Dạy học tích hợp theo
chủ đề cho trẻ mẫu giáo là cách tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm. Những chủ đề
mà trẻ được học rất cụ thể và gần gũi cuộc sống thực của trẻ cũng như vốn
kinh nghiệm của cá nhân chung.Và quan trọng hơn nữa để phát triển tính sáng
tạo cho trẻ các chủ đề tạo cho trẻ cảm xúc, bắt trẻ phải động não suy nghĩ
trong quá trình khám phá tìm kiếm cách thức giải quyết các nhiệm vụ đặt ra
trong khi học theo chủ đề. Trong xu thế đổi mới giáo dục mầm non hiện nay
vấn đề dạy học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo là cần thiết và có ý nghĩa góp

thực tiễn về hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ
mẫu giáo ở trường mầm non.
2

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát
triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non nhằm góp phần phát

3

triển nhân cách toàn diện của trẻ mầm non.
KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
9


3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
ở trường MN.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng
4

tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Biện pháp dạy học có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học của trẻ.
Nếu đề xuất được một số biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề phù
hợp trẻ 5-6 tuổi như: Tạo môi trường đa dạng hấp dẫn, tận dụng nguyên vật
liệu trong tự nhiên và các phế liệu, tạo bầu không khí học tập giữa cô và trẻ,
tạo ra tình huống chơi học hấp dẫn, động viên khuyến khích trẻ đưa ra ý


7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
10


7.2.2. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Tìm hiểu biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi, tìm hiểu khả năng thực tế của
trẻ mầm non hoạt động học theo chủ đề của trẻ, và tính sáng tạo của trẻ thông
qua hoạt động ở trường mầm non.
- Nội dung nghiên cứu: Quy trình biện pháp tổ chức hoạt động học theo
chủ đề của giáo viên, hoạt động học của trẻ qua các chủ đề mức độ tính sáng
tạo của trẻ 5-6 tuổi.
- Cách thức thực hiện: Quan sát và phân tích các giờ học của trẻ, ghi
chép thông tin thu thập được qua quan sát theo các cách, ghi chép tự do, ghi
chép có cấu trúc, ghi chép bán cấu trúc. Đồng thời quay video và phân tích
băng
7.2.3. Phương pháp đàm thoại
- Mục đích: Để nắm thêm thông tin về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến
thực trạng...vấn đề nghiên cứu.
-Nội dung nghiên cứu: Đàm thoại với trẻ và giáo viên mẫu giáo 5 - 6
tuổi để nắm được đặc điểm tâm lý về hứng thú học, tính sáng tạo của trẻ
thông qua các sản phẩmhoạt động theo chủ đề của trẻ.
- Cách thức thực hiện: Cần ghi chép tỉ mỉ, có hệ thống, giữa người
nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 1 cách tế nhị, cuộc trò chuyên phải được
diễn ra tự nhiên cởi mở....Cần phải phối hợp các phương pháp nghiên cứu
khác nhất là phương pháp quan sát trắc nghiệm để có kết quả có tính thuyết
phục hơn.
7.2.4. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.
- Mục đích: Nghiên cứu sản phẩm của giáo viên để tìm hiểu thực trạng
sử dụng các biện pháp quy trình và biện pháp tổ chức chức hoạt động học

đã xây dựng.Trên cơ sở đó có những kiến nghị sư phạm hợp lý để nâng cao
hiệu quả hoạt động của trẻ trong hoạt động học nhằm phát triển tính sáng tạo
của trẻ ở trường mầm non.
- Cách thức tiến hành: Áp dụng quy trình các biện pháp đề xuất nghiên
cứu điển hình trong 1 năm học.
7.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

12


Nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm của giáo viên và chuyên gia về
cách tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi để thu thập thông tin làm cơ sở cho việc triển khai đề tài.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng một số các công thức toán thống kê: tính giá trị trị
trung bình, tính phương sai, độ lệch chuẩn ... để xử lí kết quả nghiên cứu.
- Phần mềm SPSS
8. DỰ KIÊN CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phục lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề
đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
Chương 3: Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi và thực nghiệm.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phục lục


tích cực vào các hoạt động trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Giáo dục
mầm non (Early Chidhood Educatison) ở nhiều nước trên thế giới( Anh, Mỹ,
Úc, Pháp, Singapo, Hàn Quốc….) nhìn nhận đứa trẻ như một thực thể tích
hợp ( The Whole Child ), và bản thân trẻ trong cuộc sống, lĩnh hội những
kiến thức trong môi trường mà ở đó có tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội và
khoa học đan quyện vào nhau tạo thành một môi trường sống phong phú
xung quanh trẻ. Một trong những mục tiêu giáo dục ở trường mầm non hiện
14


nay là giáo dục trẻ cách sống và hòa nhập với môi trường một cách tích cực
có hiệu quả. Hiện nay nhiều nước trên thế giới như Anh Pháp Thủy Điển,
Nhật Bản quan tâm đến sự phát triển nhận thức của trẻ nhưng không nhấn
mạnh vào kĩ năng đọc và viết, tính toán, quan tâm đến ý tưởng của trẻ, sự
suy nghĩ của chúng và sự chia sẻ những ý tưởng đó với cô giáo với bạn bè.
Chương trình giáo dục ở Úc và Zealand được xây dựng theo quan điểm
của đứa trẻ là trung tâm. Mục tiêu chương trình nhằm hình thành ở những
phẩm chất chung chứ không nhấn mạnh vào việc tiếp thu các kĩ năng, kiến
thức đơn lẻ. Nội dung học theo chủ đề gần gũi cuộc sống thực của trẻ. Giáo
dục mầm non ở Hàn Quốc, Singapo chuyển từ nền sư phạm sao chép sang
một nền giáo dục cho phép sự linh hoạt và hợp tác theo quan điểm hướng
vào trẻ, dành cho trẻ chăm sóc và dạy dỗ tốt nhất, cho phép trẻ tự do lựa
chọn hoạt động, có nhiều cơ hội chơi, giáo tiếp bằng ngôn ngữ phù hợp với
sự phát triển cho phép trẻ là người học tích cực.
Xu hướng tổ chức giáo dục mầm non ở các nước Phương Tây trong
giai đoạn hiện nay: (Anh, Pháp, Thủy Điển, Mỹ,…): Một trong những xu
hướng của giáo dục phương Tây là “ Lấy trẻ làm trung tâm” của quá trình
giáo dục hay xu hướng giáo dục hướng vào đứa trẻ “vì lợi ích của chính bản
thân đứa trẻ.”
Khi tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ nhà giáo dục không áp đặt trẻ

từng trẻ phát triển tốt nhất. Giáo viên là người trợ giúp, điều khiển, tạo môi
trường cho trẻ hoạt động.
Xu thế xã hội hóa giáo dục ở nước Nga được thể hiện rõ giữa gia đình
và nhà trường mầm non và các lực lượng xã hội có sự phối hợp chặt chẽ
trong công tác giáo dục mầm non.
Xu hướng giáo dục mầm non ở một số nước trong khu vực Châu Á,
Thái Bình Dương ( Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Dilan, Xingapo…):Giáo
dục mầm non một số nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
( Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Dilan, Xingapo…) đi theo hướng giáo dục
tích hợp theo chủ đề. Tiếp cận tích hợp theo chủ đề chính là cách thức cung
cấp theo định hướng mở cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ xoay
quanh chủ đề . Giáo dục tích hợp theo chủ đề theo nguyên tắc giáo dục vào
những đứa trẻ “hướng vào đứa trẻ” tổ chức hoạt động phải xuất phát từ nhu
cầu và hứng thú của chính trẻ.
Với vai trò là người tổ chức hướng dẫn giáo viên cùng với trẻ đưa ra ý
tưởng cho từng chủ đề và trong mỗi chủ đề giáo viên xác định rõ mục tiêu
cần giáo dục cho trẻ cả về sức khỏe, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, đạo đức-

16


xã hội tình cảm thẩm mĩ và mục tiêu giáo dục đặt ra phải dựa trên khả năng
thực của trẻ.
Chương trình giáo dục được xây dựng trên quan điểm tích hợp theo chủ
đề gần gũi với cuộc sống thực của trẻ.
Mục tiêu của chương trình giáo dục hướng đến hình thành cho trẻ những
năng lực chung giúp trẻ có khả năng giải quyết những tình huống, hoàn cảnh
có ý nghĩa với trẻ trong cuộc sống chứ không nhằm hình thành những kiến
thức kĩ năng đơn lẻ.
Chương trình được vận dụng mềm dẻo linh hoạt phù hợp từng đặc điểm

ghế nhà trường.
Người đầu tiên nghiên cứu về sự sáng tạo của trẻ em trước tuổi học trò
là E.K Srarakweartherova( Hunggari). Theo tác giả sử thể hiện đặc chưng
của sáng tạo chính là sự tự do về tâm lý, trẻ tự do thể hiện cái tôi của mình
trong nhận thức, tìm hiểu và hành động với các sự vật, hiện tượng trong môi
trường xung quanh.
L.X Vưgotxki thì cho rằng: “ Mọi hoạt động của trí tưởng tượng bao
giờ cũng có một lịch sử rất dài” [38.31]. Do đó hoạt động sáng tạo giúp cho
trẻ có cơ hội được bộc lộ và viết lên lịch sử tưởng tượng của mình. Sự phát
triển của trí tưởng tương ấy sẽ là yếu tố quan trọng giúp trẻ trưởng thành
người sáng tạo sau này.
Đại diện cho những nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ em còn có
Getzels và Jackson, qua các thực nghiệm của các nhà khoa học đã chứng
minh rằng, những học sinh có tính sáng tạo cao trong học tập thường ít gắn bó
những chủ đề mà thầy cô giáo nêu lên. Chúng thường có các liên tưởng lạ,
tách khỏi chủ đề đã nêu, chúng thường giữ bản sắc riêng cho mình. Getzels và
Jackson cũng đã cố gắng đo mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo (Creativity) và
trí thông minh (Intelligence) và cũng nhận thấy rằng tương quan giữa chúng
không cao.Cùng chung với quan điểm này M.C Guires (1963) và Flesohers
(1963) cho rằng, những trẻ có chỉ số IQ cao ( trí thông cao từ 115 hoặc 120
trở lên) thường có kiểu tư duy không thích hợp với cách tư duy sáng tạo.
Tuy nhiên nhưng nghiên cứu sáng tạo của trẻ em còn chưa nhiều chủ
yếu quan tâm đến nghiên cứu mối tương quan giữa trí thông minh và sự sáng
tạo và để có sự sáng tạo thì trẻ cần phải có trí tưởng tượng phong phú, trí
tưởng tưởng là cơ sở cho hoạt động sáng tạo của trẻ em.
Như vậy, mặc dù khoa học về sáng tạo đã có từ rất lâu, tuy vậy đến
mãi thế kỉ XX cho đến nay, khi mà mọi lĩnh vực khoa học khác có những
bước phát triển vượt bậc, khi mà sức sáng tạo của con người được thăng hoa
thành những thành tựu khoa học vĩ đại, khi mà sáng tạo phát huy được vai trò


nước. Sự nghiệp giáo dục mầm non đòi hỏi hướng đi nhất định nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục mầm đã đề ra. Một
trong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục mầm non là tổ chức các
hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non.
Chương trình giáo dục mầm non xây dựng theo quan điểm “lấy trẻ làm
trung tâm”, còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện và tạo
19


cơ hội cho trẻ tích cực, phát huy sáng tạo của trẻ cũng như tạo cơ hội cho
người giáo viên mầm non chủ động, sáng tạo trong việc lên kế hoạch và tổ
chức các hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Chương trình giáo dục mầm non đổi mới theo hướng tích hợp trong
những năm gần đây được kế thừa và tiếp thu nền giáo dục trẻ tiên tiến của các
nước trên thế giới và các nước trong khu vực và chương trình này phù hợp
với đặc điểm phát triển của trẻ mầm non Việt Nam ngày nay và hướng đến
mục tiêu xây dựng cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách toàn diện trẻ.
Xu hướng đổi mới giáo dục mầm non ở nước ta hiện nay, nhận thức
được sự cần thiết phải đổi mới để phù hợp xu hướng giáo dục mầm non chung
trên thế giới trong khu vực đồng thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục
mầm non ở trong nước từ cuối năm 90 của thế kỉ XX bậc học của giáo dục
mầm non Việt Nam đã đổi mới giáo dục tích hợp theo chủ đề.
Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non nước ta đã được hiểu như
cách tiếp cận, một phương cách hợp lý liên kết, xâm nhập đan xen những quá
trình sư phạm tạo thành một hệ thống nhất, tác động đồng bộ đến đưa trẻ như
một chỉnh thể toàn vẹn nhờ đó hiểu quả được nhân lên.
Việc tích hợp lồng ghép đan cài các hoạt động của trẻ vào nhau theo
các chủ đề gần gũi quen thuộc trên cơ sở lấy hoạt động chủ đạo của trẻ mầm
non. Theo quan điểm tích hợp thì việc xây dựng chương trình giáo dục mầm
non mới của nước ta hướng tới mục tiêu hình thành cho trẻ nhưng năng lực

hợp ngành học giáo dục mầm non còn tiến hành đa dạng hóa các loại hình
giáo dục mầm non. Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục mầm non, đẩy
mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường và các lực lượng xã hội
khác trong công tác chăm sóc giáo dục. Thực hiện bình đẳng, công bằng với
trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển.
Thứ hai: Những nghiên cứu tính sáng tạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến khoa học về lĩnh vực sáng
tạo mới thật sự bắt đầu vào thập kỉ 70 của thế kỷ XX, trước đó những hoạt
động này chưa có tổ chức cao. Tuy vậy, những nghiên cứu về sáng tạo cho
đến nay vẫn còn khá ít.Những hoạt động ban đầu còn mang tính chất tự phát
dựa trên nhiệt tình và sáng kiến của một số cá nhân, đoàn thể và cơ quan,
chưa có tổ chức thống nhất như đối với môn khoa học khác.
Trong lĩnh vực giáo dục mẫu giáo gần đây đã đề cập đến như: “Ảnh hưởng
của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong tạo hình của trẻ mẫu giáo”, “ Mối
quan hệ tính tích cực nhận thức và sự phát triển tính sáng tạo trong hoạt động
tạo hình của trẻ 5-6 tuổi”… của Lê Thanh Thủy. Trong số đó, Những nghiên
cứu của tác giả Lê Thanh Thủy đã đóng góp cơ sở lý luận quan trọng trong

21


việc nghiên cứu về tính sáng tạo của trẻ mầm non. Ngoài ra còn một số luận
văn thạc sĩ: Nghiên cứu mức độ sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động tạo
hình” của Nguyễn Thị Yến; “Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ 5-6 tuổi trong vận động theo nhạc ở trường mầm non” của Lê Thị
Hoàng Trang; “Tiềm năng sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động theo
nhạc của trẻ 5-6 tuổi” của Phạm Thu Hương; Phát huy tính sáng tạo của trẻ 56 tuổi trong trò chơi lắp ghép xây dựng từ các nguyên vật liệu thiên nhiên và
phế liệu” của Vũ Thị Kiều Trang,Phạm Thu Hoa,Nguyễn Thị Huệ, Trần Thị
Nga nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo và học sinh thông qua
hoạt động học và hoạt động vui chơi của trẻ.

Một số khác tập trung trong lý luận dạy học: Tác giả Hoàng Chúng
trong cuốn “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ
thông”[6], đã tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho HS phát triển các
phương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học như đặc biệt hóa, tổng
quát hóa, tương tự hóa và cho rằng các phương pháp này có thể vận dụng
trong giải toán để mò mẫm, dự đoán kết quả, tìm ra phương hướng giải toán,
để mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức. Nó giúp ta thấy được sợi dây
liên hệ giữa nhiều vấn đề khác nhau và giúp phát triển ST của chính chủ thể.
Tuy nhiên thực tế hiện nay, những nghiên cứu về biện pháp tổ chức hoạt
động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
còn ít. Với nhận thức như vậy chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về biện
pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ
mẫu giáo 5-6, qua đây làm phong phú thêm thông tin về lý luận và thực tiễn
của đề tài này.
Tóm lại, đến nay, ở cả trong nước và ngoài nước, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề sáng tạo trẻ. Tuy nhiên theo tác giả Nguyễn Huy
Tú (2006): “Nhìn chung, việc nghiên cứu về tính sáng tạo ở nước ta mới chỉ
là manh nha. Điều này tất yếu gây những hạn chế nhất định đến chất lượng
giáo dục, đào tạo. Do đó ở một chừng mực nhất định cũng chưa phát huy
được cao độ những tinh hoa sáng tạo của thế hệ trẻ. Những thông tin về mức
độ tiềm năng của trẻ em rất cần thiết cho việc định ra chiến lược giáo dục...”
[102]. Để đào tạo ra những con người ấy, ngay từ lứa tuổi mầm non chúng ta
phải đặc biệt quan tâm phát triển tính sáng tạo cho trẻ, bởi giai đoạn này là
nền móng.Vì vậy, cần có những công trình nghiên cứu tiếp tục về lĩnh vực
sáng tạo, nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của giáo dục: đào tạo thế hệ
trẻ năng động sáng tạo.viết lại
2
Lý luận về sáng tạo
23


của thế giới vật chất và tinh thần”[112, tr 27 - 28].
Từ các khái niệm về sáng tạo, chúng tôi nhận thấy mặc dù sáng tạo
được giải thích ở các góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất cho
rằng: sáng tạo là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người;
1

24


hoạt động sáng tạo diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực; bản chất của sáng
tạo là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội. Đây là một
điểm chung mà các tác giả đều nhấn mạnh nhưng được nhìn dưới nhiều góc độ
khác nhau, có tác giả quan tâm đến cái mới của sản phẩm hoạt động, có tác giả
lại quan tâm đến cách thức, đến quá trình tạo ra cái mới đó. Song cái mới cũng
có nhiều mức độ, có cái mới đối với toàn xã hội, có cái mới chỉ đối với bản
thân người tạo ra nó. Điểm chung nữa ở các tác giả là đều nhấn mạnh đến ý
nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo.
Trong luận án này chúng tôi quan niệm: Sáng tạo là tư duy có khuynh
hướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng
mới, cách giải quyết mới không theo tiền lệ đã có.
1.2.2. Bản chất của sáng tạo
Khi tìm hiểu về hoạt động sáng tạo các nhà nghiên cứu đã xác định bản
chất của hoạt động này ở những vẫn đề sau:
*Thứ nhất hoạt động sáng tạo của con người mang bản chất xã hội
Trong bài báo “Chìa khóa thành công” Charler Brower đã viết “Nhu cầu
kích thích hoạt động sáng tạo là lòng ham hiểu biết cái mới và không bằng
lòng cái hiện có. Nó xuất phát từ lòng hiếu kì và sự bất toại”
Như vậy hoạt động sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân mỗi
con người và nhu cầu của xã hội nhằm giải quyết các tình huống đã đặt ra. Khi
xã hội phát triển các điều kiện thực tiễn không còn đáp ứng một cách phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status