ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những thách thức và mối quan
tâm hàng đầu tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, vì đây là những nhiễm khuẩn
mắc phải trong thời gian người bệnh nằm viện. Nhiều nghiên cứu cho thấy NKBV
làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng
đề kháng kháng sinh và chi phí điều trị [8].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế
(healthcare-associated infections_HAIs) còn gọi là nhiễm khuẩn bệnh viện
(nosocomial infection) do bệnh nhân bị phơi nhiễm các nguy cơ nhiễm khuẩn khi
đến khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế, đặc biệt khi họ trải qua điều trị và thủ thuật
xâm lấn. Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tác động tới bệnh nhân, người nhà bệnh
nhân, nhân viên y tế và cơ sở y tế là nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tử
vong và làm tăng chi phí y tế.
Một trường hợp nhiễm khuẩn thường được coi là nhiễm khuẩn bệnh viện nếu
xảy ra ≥ 48 giờ sau khi nhập viện. Phòng chống nhiễm khuẩn (Infection prevention
and control_IPC/PCNK), mặc dù thường bị coi nhẹ và không được hỗ trợ đúng mức
là một phần thiết yếu của cơ sở hạ tầng y tế. Thực hành PCNK tối thiểu được
khuyến cáo trong cơ sở y tế là tất cả nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân,
dù mới bị nghi hay khẳng định đã bị nhiễm khuẩn đều áp dụng biện pháp phòng
ngừa chuẩn (standard precautions_SP).
Châm cứu là một kỹ thuật mà các bác sĩ dùng các kim nhỏ châm lên da để
kích thích vào các huyệt chủ đạo trên cơ thể. Đây là phương pháp điều trị phổ biến
của y học cổ truyền được nhiều người tìm đến với mong muốn lấy lại sự cân bằng
năng lượng cho cơ thể [19]. Kỹ thuật này giúp giảm các chứng đau liên quan tới
những bệnh mạn tính như đau thắt lưng, đau cổ và đau do viêm khớp, đau đầu gối,
thoái hóa khớp, đau dây thần kinh và đau vai. Châm cứu cũng được sử dụng cho
nhiều bệnh đau khác như ung thư, đau nửa đầu và viêm khớp. Ngày nay, châm cứu
được ứng dụng phổ biến trong y châm tê để hỗ trợ phẫu thuật ngoại khoa, châm cứu
cắt cơn nghiện trong điều trị cai nghiện ma túy, châm cứu để giảm béo, điều trị bệnh
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2
1.1. Một số khái niệm, định nghĩa
1.1.1. Châm cứu
Châm cứu là một kỹ thuật mà các bác sĩ dùng các kim nhỏ châm lên da để
kích thích vào các huyệt chủ đạo trên cơ thể. Đây là phương pháp điều trị phổ biến
của y học cổ truyền được nhiều người tìm đến với mong muốn lấy lại sự cân bằng
năng lượng cho cơ thể. Kỹ thuật này giúp giảm các chứng đau liên quan tới những
bệnh mạn tính như đau thắt lưng, đau cổ và đau do viêm khớp, đau đầu gối, thoái
hóa khớp, đau dây thần kinh và đau vai. Châm cứu cũng được sử dụng cho nhiều
bệnh đau khác như ung thư, đau nửa đầu và viêm khớp. Nhiều người sử dụng châm
cứu để kiểm soát tình trạng nghiện như nghiện cocain và nghiện thuốc lá [20].
Châm cứu giúp giảm các triệu chứng như khô miệng, trầm cảm, hội chứng mệt
mỏi mạn tính, lo âu, khó ngủ (mất ngủ), tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, đau
xơ cơ, hội chứng ruột kích thích, buồn nôn do điều trị ung thư, đột quỵ, đái dầm,
tiểu tiện không tự chủ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (bệnh phổi tiến triển). Nhiều
người có thể nhận được những kết quả khả quan từ phương pháp điều trị y học cổ
truyền Trung Quốc này. Tuy nhiên, tất cả các phương pháp điều trị đều tiềm ẩn
những tác dụng phụ mà nhiều người chưa biết [20].
1.1.2. Khái niệm về kiến thức
Kiến thức là một cụm từ được sử dụng rất thường xuyên trong đời sống
thường ngày. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý: ‘Kiến thức là
điều hiểu biết, học tập mà nên’[11]. Kiến thức hay tri thức của mỗi người được tích
lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người
có thể thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như từ thầy cô giáo, cha mẹ,
bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông
tin đại chúng cung cấp. Trong thực tế, mỗi người chúng ta có thể tự kiểm tra liệu
người ốm yếu... đã xuất hiện các hội chứng bệnh hay bệnh dịch được xem là bệnh mắc
phải từ các cơ sở tập trung đông người chữa bệnh. Thuật ngữ hội chứng mắc phải trong
bệnh viện bắt đầu từ đó và cũng được hiểu là hội chứng mắc NKBV [6, 34].
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa [6, 34]: Nhiễm khuẩn bệnh viện
(nosocomial infection) là ‘những nhiễm khuẩn người bệnh mắc phải trong thời gian
điều trị tại bệnh viện mà thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố nhiễm khuẩn hay
ủ bệnh nào. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người
bệnh nhập viện’.
1.1.5. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của Điều dưỡng
- Khái niệm Điều dưỡng (ĐD)
4
Theo Hiệp hội Điều dưỡng Quốc tế: ‘Điều dưỡng là việc sử dụng óc suy đoán
lâm sàng để cung cấp dịch vụ chăm sóc nhằm cải thiện, duy trì hoặc phục hồi sức
khỏe để đạt chất lượng tốt nhất của cuộc sống, bất kể họ bị bệnh hoặc khuyết tật cho
đến khi chết’ [41].
- Vai trò và nhiệm vụ của Điều dưỡng
Trong bệnh viện, Điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm
sóc, theo dõi người bệnh. Họ luôn luôn ở bên người bệnh, để theo dõi chăm sóc,
báo cáo và thực hiện các y lệnh kịp thời, khẩn trương chính xác.
Nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến chăm sóc y tế, chất lượng chuyên môn
và an toàn của người bệnh có ảnh hưởng lớn đối với điều dưỡng. Trong điều trị
châm cứu nguy cơ nhiễm khuẩn đối với những đường lây truyền qua máu, da từ kim
châm, các vật dụng rất cao đòi hỏi người Điều dưỡng bệnh nhân châm cứu phải có
kiến thức, thực hành đúng theo các thông tư, nghị định của ngành y tế [4, 5] để bảo
vệ sức khỏe nhân viên y tế bệnh viện và người bệnh.
- Trách nhiệm của Điều dưỡng viên
Điều dưỡng viên trong bệnh viện có các nhiệm vụ chính dưới đây:
Vi khuẩn
Vi khuẩn gây NKBV có thể bắt nguồn từ hai nguồn gốc khác nhau. Vi khuẩn
nội sinh thường cư trú ở tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn. Có khoảng 13 loài vi khuẩn
ái khí trên da được phân bố khắp cơ thể và có vai trò ngăn cản sự xâm nhập của vi
sinh vật (VSV) gây bệnh. Một số vi khuẩn nội sinh có thể trở thành căn nguyên
nhiễm trùng khi khả năng bảo vệ tự nhiên của vật chủ bị tổn thương. Vi khuẩn ngoại
sinh là vi khuẩn có nguồn gốc ngoại lai, có thể từ dụng cụ y tế, nhân viên y tế
(NVYT), không khí, nước hoặc lây nhiễm chéo giữa các người bệnh.
Vi khuẩn Gram dương, cầu khuẩn: Tụ cầu vàng (Staphylococcuc aureus) đóng
vai trò quan trọng đối với NKBV từ cả hai nguồn nội và ngoại sinh. Tụ cầu vàng có
thể gây lên nhiễm trùng đa dạng ở phổi, xương, tim, nhiễm khuẩn huyết và NKBV
có liên quan đến truyền dịch, ống thở, nhiễm khuẩn vết bỏng, nhiễm khuẩn vết mổ.
Các chủng vi khuẩn Staphylococcuc aureus,liên cầu beta tán huyết (betahemolytic) thường là căn nguyên nhiễm trùng tiết liệu tiên phát, nhiễm khuẩn vết
bỏng, biến chứng viêm màng cơ tim và khớp.
Vi khuẩn Gram âm, trong đó các trực khuẩn Gram (-) thường có liên quan
nhiều đến NKBV và phổ biến trên người bệnh nhiễm trùng phổi tại khoa điều trị
6
tích cực. Nhóm vi khuẩn này có họ thuộc vi khuẩn đường ruột
(Enterobacteriaceae), chủng Acinetobacter, vi khuẩn thuộc giống Klebsiella spp,
Eschrichia coli, trực khuẩn mủ xanh,...[6].
Vi rút
Một số vi rút có thể lây truyền NKBV như vi rút viêm gan B và C (lây truyền
qua đường máu, lọc máu, đường tiêm truyền, nội soi), các vi rút hợp bào đường hô
hấp, SARS và vi rút đường ruột (Enteroviruses) truyền qua tiếp xúc từ tay-miệng và
theo đường phân-miệng. Các vi rút khác cũng luôn lây truyền trong bệnh viện như
Cytomegalovirus, HIV, Ebola, Influenza, Herper, Varicella- Zoster [6, 8].
Ký sinh trùng và nấm
Xiao Yonghong của viện Dược lý lâm sàng của Trường Đại học Bắc Kinh, tỷ lệ lây
nhiễm MRSA trong các bệnh viện Trung Quốc đã tăng từ 30% lên 70% [17].
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm khuẩn bệnh viện
Căn cứ vào nguồn tác nhân gây bệnh và đường lây truyền, các nhà khoa học
đã chứng minh có nhiều yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến NKBV, có thể chia thành
nhóm các yếu tố nội sinh và nhóm các yếu tố ngoại sinh.
1.3.1. Các yếu tố nội sinh
Các yếu tố nội sinh ảnh hưởng, liên quan đến NKBV là các yếu tố thuộc về
bản thân người bệnh. Trẻ em non tháng, những người già yếu hoặc tình trạng bệnh
nặng dễ bị NKBV. Người bệnh nằm lâu, vệ sinh cá nhân kém, các vi sinh vật cư trú
trên da, các hốc tự nhiên của cơ thể có thể gây nhiễm trùng cơ hội, đặc biệt khi cơ thể
bị giảm sức đề kháng như trường họp mắc bệnh mạn tính hay mắc nhiễm trùng. Người
bệnh dùng thuốc kháng sinh hoặc trị liệu kéo dài cũng có nguy cơ mắc NKBV cao bởi
sự kháng thuốc của vi khuẩn. Theo thống kê của các nhà lâm sàng hiện nay có khoảng
70% NKBV là do các chủng vi khuẩn kháng thuốc gây nên [2,24,33].
1.3.2. Các yếu tố ngoại sinh
Các yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng, liên quan đến NKBV là các yếu tố thuộc về
bệnh viện. Bệnh viện là nơi tập trung đông người, môi trường không khí, nước, chất
thải, dụng cụ, đồ vải, các bề mặt nhà cửa, đồ vật,... đều tiềm ẩn tác nhân vi sinh vật
gây bệnh. Các phương pháp chữa bệnh như phẫu thuật, thủ thuật xâm nhập cũng là
các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc NKBV. Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 97%
nhiễm trùng tiết niệu trên người bệnh có đặt ống thông tiểu, 85% nhiễm trùng huyết
trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và 83% nhiễm trùng hô hấp
trên người bệnh có thông khí nhân tạo. Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam gần đây cũng
8
khẳng định điều đó [28,32].
Nhân viên y tế là người tiếp xúc liên tục môi trường bệnh viện, là người tiến
Kỹ thuật vô khuẩn với các dụng cụ phẫu thuật, nội soi,... cần được tuân thủ
nghiêm ngặt khi thực hiện các thủ thuật xâm nhập, phẫu thuật, chăm sóc vết thương
như tại vùng da bệnh nhân dự kiến phẫu thuật: sát khuẩn bằng hóa chất; dùng kéo
cắt bỏ lông, tóc (nếu có), không nên dùng dao cạo vì gây tổn thương vi thể có thể
dẫn tới NKBV. Các dụng cụ, đồ dùng trong bệnh viện (quần áo, giường tủ,...) và
chất thải của bệnh nhân cần được vệ sinh, khử khuẩn bằng các biện pháp thích hợp,
đối với các dụng cụ y tế dùng lại phải bảo đảm xử lý vệ sinh theo đúng các quy định
của Bộ Y tế [2].
1.4.3. Cách ly bệnh nhân
Tổ chức thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa như: phòng ngừa chuẩn,
phòng ngừa bổ sung (dựa theo đường lây truyền bệnh); tổ chức thực hiện các hướng
dẫn và kiểm tra các biện pháp thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn theo tác nhân, cơ
quan và bộ phận bị NKBV. Một số trường hợp cần thiết có thể tiến hành cách ly
nhằm ngăn ngừa sự lây lan từ bệnh nhân sang bệnh nhân, nhân viên y tế, người nhà,
khách thăm,... Tuy nhiên, việc tổ chức cách ly phải linh hoạt và tùy thuộc từng bệnh
cụ thể và hoàn cảnh của bệnh viện [5]. Bệnh lây qua đường tiêu hóa như tả, viêm
gan A, viêm dạ dày - ruột,… đòi hỏi cần mang găng và vệ sinh bàn tay tốt, bệnh
nhân nên dùng riêng dụng cụ ăn uống,... Bệnh lây qua đường hô hấp như lao, cúm,
quai bị...yêu cầu luôn mang khẩu trang, rửa tay, thông thoáng không khí, hạn chế
khách thăm,... Một số bệnh nguy hiểm như SARS cần cách ly nghiêm ngặt (phòng
điều trị riêng, máy điều hòa, lọc khí riêng, cấm khách thăm, mang khẩu trang hoặc
mặt nạ hô hấp, vô khuẩn tốt dụng cụ, đồ dùng của bệnh nhân,...) [6].
1.4.4. Chính sách
Xây dựng chính sách quốc gia về tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn,
ban hành các quy định, hướng dẫn thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ
sở khám, chữa bệnh và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thực hành
10
của tất cả các nước đang phát triển và nước nghèo đều chịu tác động nghiêm trọng
của NKBV. Nghiên cứu điều tra cắt ngang NKBV tại 55 cơ sở y tế của 14 nước trên
thế giới đại diện cho các khu vực công bố tỉ lệ NKBV là 8,7% và ước tính ở bất cứ
thời điểm nào cũng có hơn 1,4 triệu người bệnh trên thế giới mắc NKBV. Nghiên
cứu đưa ra 5 hậu quả của NKBV đối với bệnh nhân như làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo
dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh và
chi phí điều trị [6, 25, 31]. Cùng với sự xuất hiện một số bệnh gây ra bởi những vi
sinh vật kháng thuốc hoặc do những tác nhân gây bệnh mới, NKBV vẫn còn là vấn
đề nan giải ngay cả ở các nước đã phát triển.
Thống kê cho thấy tỉ lệ NKBV vào khoảng 5-10% ở các nước phát triển và lên
đến 15-20% ở các nước đang phát triển. Căn nguyên gây NKBV có mức độ đa
kháng kháng sinh cao hơn căn nguyên gây nhiễm khuẩn trong cộng đồng. NKBV
kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 7-15 ngày, làm gia tăng sử dụng kháng
sinh và kháng kháng sinh. Do vậy, chi phí của một NKBVthường gấp từ 2-4 lần so
với những trường hợp không mắc NKBV. Theo một số nghiên cứu, chi phí phát sinh
do nhiễm khuẩn huyết bệnh viện là 34.508 đến 56.000 USD và do viêm phổi bệnh
viện là 5.800 đến 40.000 USD.
Hằng năm, thế giới có khoảng 2 triệu bệnh nhân mắc NKBV, làm 90.000
người tử vong và tốn thêm 4,5 tỉ USD viện phí. Trong đó, tại Hoa Kỳ, cứ 20 bệnh
nhân nhập viện thì có 1 bệnh nhân nhiễm NKBV; tại Vương quốc Anh, mỗi năm có
khảng 100.000 người mắc NKBV với trên 5000 ca tử vong, chi phí tăng thêm 1 tỉ
bảng Anh [22, 26, 27].
Ở các nước đang phát triển, tình hình NKBV còn nặng nề hơn do không đủ
nguồn lực cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Theo thống kê năm 2001, tỷ lệ
NKBV tại Malaysia là 13,9% trong đó chủ yếu là nhiễm khuẩn huyết lâm sàng
(22,4%), tiếp theo là nhiễm khuẩn hô hấp (21,4%), nhiễm khuẩn tiết niệu (12,2%),
nhiễm khuẩn vết mổ (11,2% và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh; ở
Brazil và Indonesia tỷ lệ NKBV trên 50% bệnh nhi và tử vong từ 12-52%. Tỷ lệ tử
vong có liên quan đến NKBV ở Bồ Đào Nha, Hy Lạp cao hơn các nước vùng
vụ nhiễm trùng liên quan đến châm cứu trên toàn thế giới liên tục tăng lên và họ kêu
gọi phải có biện pháp chặt chẽ hơn nữa để quản lý việc chữa bệnh bằng châm cứu”.
13
Theo Patrick Woo, giáo sư vi trùng học nổi tiếng, người đứng đầu nhóm nghiên cứu
trên nhận định: “Để ngăn ngừa hiện tượng nhiễm trùng lây lan do châm cứu cần
thực hiện nhiều biện pháp thông thường như kim châm cứu phải là loại chỉ dùng
một lần, phải sát trùng da theo đúng kỹ thuật” và "rất cần thiết phải đưa ra những
quy định nghiêm ngặt đối với những người hành nghề”.
Theo Woo và các đồng nghiệp cho biết, châm cứu cũng có thể nguy hiểm khi
dùng kim để đâm xuyên vào các huyệt ở độ sâu vài centimet dưới da. Họ cảnh báo
châm cứu có thể gây ra một hội chứng mới – bệnh mycobacteriosis do châm cứu.
"Đây là một bệnh nhiễm trùng gây ra do vi khuẩn dạng sợi (mycobacteria), phát
triển nhanh chóng xung quanh vết châm kim do bông băng, khăn lau hoặc miếng
vải chườm bị nhiễm bẩn. Khi bị nhiễm trùng, thời gian ủ bệnh khá lâu và thường
dẫn tới apxe và lở loét”. Đại đa số bệnh nhân hồi phục sau khi bị nhiễm trùng,
nhưng từ 5 đến 10% đã chịu hậu quả nghiêm trọng như bị thoái hóa khớp, tổn
thương nhiều cơ quan (multi-organ failure), loét thịt và bại liệt. Đã có đến ít nhất 5
đợt bùng phát bệnh viêm gan B liên quan đến châm cứu. Trong nhiều trường hợp,
nguồn phát tán để gây nhiễm trùng hàng loạt là các bệnh nhân đã bị nhiễm virus
viêm gan B hoặc HIV và virus lây lan sang nhiều người khác qua kim châm cứu sát
trùng không kỹ [1].
1.5.2. Tình hình nghiên cứu nhiễm khuẩn và kiến thức, thái độ thực hành ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác điều tra phát hiện nhiễm khuẩn bệnh viện đã được
ngành y tế quan tâm tổ chức có hệ thống trong những năm gần đây. Năm 2001, vụ
điều tộ Bộ Y tế tiến hành giám sát NKBV trên 5.395 người bệnh tại 11 bệnh viện
(BV) toàn quốc (6 BV trung ương, 5 BV tỉnh), phát hiện 369 người bệnh NKBV, tỷ
lệ NKBV là 6,8%.
cho thấy, hiểu biết khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện là 68,9%; hiểu biết nguyên
nhân và tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện là 87,7%; hiểu biết về nguồn lây
nhiễm và nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện là 88,2%; hiểu biết về một số biện
pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện là 72,6% [39].
Nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thái độ của Điều dưỡng hồi sức tích cực
về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại bệnh viện Việt Đức” của Trần Thị Thu Hà,
năm 2016 chỉ ra rằng: có 83,82% Điều dưỡng viên tiếp cận thông tin và có nghe nói
đến công tác phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn; có kiến thức đúng về khử
khuẩn, tiệt khuẩn 58,8%; có kiến thức đúng về phòng ngừa chuẩn 52,21%; có kiến
15
thức đúng theo 6 nội dung về KSNK đạt rất thấp 4,41% [22].
Tuy nhiên, các nghiên cứu về nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu chưa
nhiều, thực tế thì nếu không tuân thủ việc dùng kim châm cứu sạch thì hiểm họa sẽ
xảy ra. Theo Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc bệnh viện Châm cứu Trung Ương, cho
biết: “Việc dùng chung kim châm không chỉ làm lây nhiễm HIV mà còn cả nhiều
bệnh lây truyền khác nữa” và giải thích: Về nguyên tắc, cũng giống như kim tiêm,
kim châm cứu hoàn toàn có thể lây bệnh nếu dùng chung mà không được hấp, tiệt
trùng đúng cách bởi nguyên lý chung của kim là xuyên qua da, tiếp xúc với các mô,
tế bào và cả các mạch máu. Do đó, cũng giống như kim tiêm, kim châm cứu ngày
nay cũng được thiết kế theo dạng dùng 1 lần. Để đảm bảo an toàn và đạt được hiệu
quả chữa bệnh khi châm cứu, thì nhất thiết phải sử dụng kim sạch khi thực hiện
châm cứu, đồng thời khi tiến hành châm cứu phải đảm bảo các khâu và các dụng cụ
khác như: Bông, băng, gạch … sạch sẽ [1].
Mặc dù kiểm soát nhiễm khuẩn ở các cơ sở y tế còn nhiều khó khăn nhưng
WHO cho rằng chương trình kiểm soát NKBV hoàn toàn có thể ngăn ngừa thông qua
những chuẩn mực về chất lượng chăm sóc và thực hành lâm sàng. Nghiên cứu về hiệu
quả của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện SENIC (Study on the Efficacy
- Công tác điều trị: Viện điều trị có hiệu quả trên 50 mặt bệnh bằng phương
pháp kết hợp Đông - Tây y; trong đó có một số bệnh đang là thế mạnh của Viện
như: gút, đột quỵ não, viêm tắc động mạch chi, viêm gan mạn, bệnh về xương khớp,
các bệnh về hậu môn trực tràng, nam khoa,... Đây là những bệnh thuộc các đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và hợp tác với Trung Quốc. Hàng năm,
số người đến khám hơn 120.000 lượt; điều trị hơn 7.000 lượt.
Trong 6 tháng đầu năm 2017 Số bệnh nhân điều trị châm cứu là hơn 3.000, số
lượt làm kỹ thuật châm cứu hơn 30.000.
- Công tác chăm sóc sức khoẻ cán bộ cao cấp: Viện đã thu dụng điều trị cho
nhiều lượt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Bằng phương pháp kết
hợp Đông – Tây y, công tác điều trị đã đạt kết quả tốt, được các đồng chí cán bộ cao
cấp tin tưởng và khen ngợi.
- Công tác huấn luyện và đào tạo: Năm 1991, Viện là cơ sở đầu tiên trong
toàn quốc được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép đào tạo thạc sĩ chuyên
ngành YHCT. Tới nay, Viện đã đào tạo được 10 khoá thạc sĩ gồm 130 học viên, 22
khoá Bác sĩ YHCT với hơn 400 học viên, 27 khoá Y sĩ YHCT với gần 1000 học viên.
17
Viện cũng đã cử đi đào tạo tại các cơ sở trong và ngoài nước được 36 nghiên
cứu sinh, tiến sĩ; trong đó, đào tạo tại Trung Quốc là 26 nghiên cứu sinh, tiến
sĩ. Bên cạnh đó, Viện cũng là cơ sở thực hành lâm sàng cho Học Viện Quân y, Học
viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam.
- Công tác nghiên cứu khoa học: Tới nay, Viện đã thực hiện được 240 đề tài
NCKH các cấp, trong đó có 7 đề tài, chương trình cấp Nhà nước, 40 đề tài cấp
Bộ. Các đề tài nghiên cứu đều hướng về bộ đội ở đơn vị và cộng đồng như nghiên
cứu chữa bỏng, chữa vết thương phần mềm, bó gãy xương, phòng chống sứa lửa,
chữa sốt rét, nâng cao thể lực phi công và bộ đội hóa học, điều trị đột quỵ não, điều
trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư, bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.
cổ truyền Quân Đội.
Địa điểm nghiên cứu: Viện Y học cổ truyền Quân Đội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.2.2. Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu: Mẫu toàn bộ
Cỡ mẫu: 191 nhân viên y tế điều dưỡng tại các khoa/phòng tại Viện Y học cổ
truyền Quân Đội tình nguyện tham gia nghiên cứu.
-
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các nhân viên y tế điều dưỡng đang làm việc tại các khoa/phòng tại Viện Y
học cổ truyền Quân Đội, không phân biệt nam nữ, năm sinh, thâm niên công tác,
điều kiện kinh tế xã hội; tình nguyện tham gia nghiên cứu.
o
o
o
Tiêu chuẩn loại mẫu
Các nhân viên y tế điều dưỡng không tình nguyện tham gia nghiên cứu.
Các nhân viên y tế điều dưỡng nghỉ đẻ, đi học dài ngày.
Các nhân viên y tế điều dưỡng đi công tác đột xuất trùng vào thời gian nghiên cứu.
2.2.3. Công cụ thu thập thông tin
- Phiếu điều tra: Nội dung của phiếu điều tra tập trung vào các nội dung chính
như sau (Phụ lục 1):
- Giảng viên tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu
Bước 3: Tiến hành điều tra
- Nhân lực: tổng số 5 - 6 người.
- Các điều tra viên sẽ trực tiếp phỏng vấn các đối tượng. Mỗi buổi điều tra có
giám sát quan sát và kịp thời uốn nắn các sai sót trong quá trình điều tra.
Bước 4: Thu thập phiếu điều tra
20
- Sau mỗi buổi điều tra, điều tra viên nộp phiếu cho giám sát, giám sát có trách
nhiệm thu thập, kiểm tra một cách kỹ lưỡng phiếu điều tra về số lượng, chất lượng
nội dung câu hỏi.
2.2.5. Tiêu chí đánh giá, phân loại kiến thức, thực hành
Cách tính điểm: các câu chỉ có 1 lựa chọn là 1 điểm; các câu nhiều lựa chọn
thì mỗi ý lựa chọn là 1 điểm và tùy theo số lượng ý được lựa chọn sẽ có số điểm
khác nhau trong từng câu. Thang điểm đánh giá kiến thức, thực hành được trình bày
chi tiết trong Phụ lục 3.
•
•
•
•
•
-
Tổng điểm kiến thức chung về NKBV là 22 điểm, được phân loại theo 2 cấp độ:
Đạt: ≥ 11 điểm
Không đạt: < 11 điểm
Kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu (27 điểm)
Đạt ≥ 1/2 điểm: ≥ 14 điểm
C2
C3
Khoa
Giới tính
C4
Trình độ học vấn
C5
Chức danh
Nghề nghiệp trực
tiếp đến châm cứu
Thâm niên công
tác
Nguồn tiếp cận
thông tin
Thông tư, nghị
định mà ĐTNC
biết
Hệ thống ksnk tại
viện
Hệ thống tổ chức
ksnk hiện tại của
viện
Quy trình/quy
định phòng chống
nhiễm khuẩn
C20
C21
C22
C23
C24
biến số
thu thập
Độc lập
Phỏng vấn
Độc lập
Độc lập
Phỏng vấn
Quan sát
Độc lập
Phỏng vấn
Độc lập
Phỏng vấn
Độc lập
Quy trình/quy định phòng chống nhiễm
khuẩn tại khoa phòng điều trị châm cứu
mà ĐTNC biết
Độc lập
Phỏng vấn
Phụ thuộc
Phỏng vấn
Phụ thuộc
Phỏng vấn
Phụ thuộc
Phỏng vấn
Phụ thuộc
Phỏng vấn
Phụ thuộc
Phỏng vấn
Là tuổi tính theo dương lịch của ĐTNC
Thời điểm rửa tay
Phụ thuộc
của who
Mang gang có
Hiểu biết của ĐTNC về mang găng có
thay thế được rửa
Phụ thuộc
thay thế được rửa tay không
tay
Mã mà đựng chất
Hiểu biết của ĐTNC về mã màu quy
Phụ thuộc
thải y tế
định đựng chất thải y tế nguy hại
2.2. Kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị châm cứu
Nguy cơ nhiễm
Hiểu biết của ĐTNC về nguy cơ nhiễm
khuẩn trong châm
Phụ thuộc
khuẩn trong châm cứu
cứu
Kim châm có dẫn Hiểu biết của ĐTNC về kim châm liệu
Phụ thuộc
truyền vk không
có dẫn truyền vk thành dịch
Loại vsv có thể
Hiểu biết của ĐTNC về loại vsv có thể
gây lây nhiễm
Phụ thuộc
gây lây nhiễm trong quá trình châm cứu
C40
C41
Đường vsv xâm
nhập trong châm
cứu
Điều kiện gây
nhiễm khuẩn bằng
châm cứu
Ai có thể là nguồn
lây truyền
Người nào dễ bị
nhiễm khuẩn
Hiểu biết của ĐTNC về đường vsv
xâm nhập trong châm cứ
Phụ thuộc
Hiểu biết của ĐTNC về điều kiện gây
nhiễm khuẩn khi điều trị bằng phương
Phụ thuộc
pháp châm cứu
Hiểu biết của ĐTNC về ai có thể là nguồn
Phụ thuộc
lây truyền vi khuẩn trong châm cứu
Hiểu biết của ĐTNC về người dễ bị
Phụ thuộc
nhiễm khuẩn khi châm cứu
Hiểu biết của ĐTNC về loại bệnh nào
ĐTNC bị lây
Bản thân ĐTNC có bị lây nhiễm khi
nhiễm vk khi
Phụ thuộc
thực hành châm cứu không
châm cứu
Loại vk mà ĐTNC
Loại vk mà ĐTNC bị nhiễm khi thực
Phụ thuộc
nhiễm
hành châm cứu cho bn
Phòng chống nk
Thực hành phòng chống nk của ĐTNC
Phụ thuộc
của ĐTNC
khi điều trị chăm sóc bn châm cứu
ĐTNC tiêm
ĐTNC có tiêm vacxin phòng bệnh vgb
Phụ thuộc
vacxin vgb
Biện pháp phòng
ĐTNC đã dùng biện pháp phòng cnk
chống nk của
Phụ thuộc
nào khi điều trị chăm sóc bn
ĐTNC
Biện pháp phòng
ĐTNC đã dùng biện pháp phòng cnk
chống nk nào khi
nào khi thao tác kỹ thuật điều trị châm
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Hạn chế nghiên cứu: Nghiên cứu có hạn chế của một thiết kế nghiên cứu mô
tả cắt ngang, tất cả các yếu tố nghiên cứu đều được xác định cùng tại một thời điểm,
khó xác định được độ chính xác về yếu tố liên quan. Vì nghiên cứu có vấn đề nhạy
cảm liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện của nhân
viên y tế điều dưỡng nên có thể có những thông tin chưa được cung cấp đầy đủ, trung
thực. Việc nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn trong điều trị
châm cứu và các yếu tố liên quan là vấn đề mới chưa được nghiên cứu đề cập, nên có
nhiều hạn chế về tài liệu tham khảo về kết quả nghiên cứu để phân tích, so sánh bàn luận.
Bảng 2. 2. Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số nghiên cứu
Sai số trong thiết kế phiếu điều tra
Sai số nhớ lại
Sai số trong cách đặt câu hỏi,
phỏng vấn
Biện pháp khắc phục
Xin ý kiến chuyên gia;
Thử nghiệm phiếu điều tra trước khi tiến hành;
nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung.
Hạn chế các câu hỏi nhớ lại, thông tin cần hỏi không
quá xa so với thời điểm phỏng vấn.
Số liệu thống kê mô tả được biểu diễn dưới dạng: tần số, tỷ lệ phần trăm (với biến
phân loại), trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn (với biến định lượng);
-
Các test thống kê suy luận tìm hiểu mối liên quan giữa các biến độc lập với các biến
phụ thuộc là biến phân loại dự kiến sử dụng trong nghiên cứu gồm: OR với 95% CI
(với 2 biến nhị phân)
-
Mức ý nghĩa α = 0,05 được sử dụng trong các kiểm định thống kê. Với p